Quảng
Hoằng Minh Tập là bộ sử liệu về tư tưởng Phật giáo
do danh tăng Thích Đạo Tuyên (596-667) đời Đường biên soạn.
Sách gồm những bài viết Phật học từ đời Ngụy Tấn đến
sơ Đường của hơn 130 tác giả.
Quảng
Hoằng Minh Tập được biên tập dựa trên nền tảng của
Hoằng Minh Tập, động cơ biên soạn và tôn chỉ của hai tác
phẩm chỉ là một. Tăng nhân Tăng Hựu biên tập Hoằng Minh
Tập, là khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc trong thời kì
đầu. Bấy giờ, người sùng tín Hoằng Minh Tập thì ít, mà
người nghi hoặc, bài xích thì nhiều, đặc biệt là sự dèm
pha công kích của Đạo giáo. Hoằng Minh, nghĩa là xiển minh
nghĩa lí Phật học, hoằng dương tinh thần Phật giáo. Ngài
Đạo Tuyên biên tập Quảng Hoằng Minh Tập, là do bất mãn
hiện trạng Chu Ngụy trọng Lão khinh Phật, và tông chỉ hoằng
dương hộ trì Phật pháp của Quảng Hoằng Minh Tập thì quá
rõ ràng.
Về
nội dung, thì Hoằng Minh Tập và Quảng Hoằng Minh Tập là
một mạch tương thừa. Hoằng Minh tập ghi chép rất nhiều
bài viết Phật học quan trọng từ thời Đông Hán đến đời
Nam triều và đời Lương, nội dung chủ yếu là thảo luận
một số vấn đề lí luận căn bản mà bấy giờ Phật giáo
và xã hội đều quan tâm, giải đáp những nghi hoặc của
mọi người đối với Phật giáo, phản bác những phê bình
bài báng của Nho giáo và Đạo giáo đối với Phật giáo;
đồng thời đề cập những phương diện thực tiễn như xuất
gia và tại gia, Phật pháp và vương pháp……Nội dung chủ
yếu của Quảng Hoằng Minh Tập cũng đề cập những phương
diện trên, nhưng thời gian thu thập tài liệu không nhiều,
phần nhiều là những tác phẩm từ đời Lương cho đến Tùy
Đường, nhưng phạm vi thu thập dữ liệu của Quảng Hoằng
Minh tập rộng hơn Hoằng Minh tập, có thể bổ sung những
gì còn thiếu trong Hoằng Minh Tập, như sự tranh biện kịch
liệt về lý luận thần diệt và thần bất diệt vào thời
Tề Lương…...Hoằng Minh Tập chỉ ghi chép được thần diệt
luận của Tào Tư Văn, Túc Thẩm…, nhưng không thâu thập
được Hình Thần Luận, Thần Bất Diệt luận của Thẩm Ước
và Thần Diệt luận của Nạn Phạm Chẩn cùng thời tham gia
tranh luận. Những bài viết ấy ngày nay đều thấy trong Quảng
Hoằng Minh tập quyển 22. Lại như về vấn đề Sa môn không
nên kỉnh vua chúa, Hoằng Minh Tập thâu thập được Sa Môn
Bất Kỉnh Vương Gỉa Luận của Ngài Huệ Viễn thời Đông
Tấn, còn Quảng Hoằng Minh Tập thì ghi chép được nhiều
bài viết bàn luận về đề tài Sa môn không nên lễ bái thế
tục của Thích Oai Tú, Nhan Tông ….. Tăng nhân Đạo Tuyên
còn trình bày một cách chi tiết những diễn biến tranh luận
vấn đề này từ thời Ngụy Tấn trở về sau, nên xem cả
hai sách, mới thấy gốc ngọn ra làm sao. Lại như bàn luận
đến quyển sách với tiêu đề là Đáp Tống Văn Đế tán
Phật giáo sự (sách bàn về vấn đề quan hệ giữa Phật
giáo với chính trị), đã thấy trong Hoằng Minh tập quyển
thứ 11, lại thấy trong Quảng Hoằng Minh tập quyển 1, đó
là thí dụ rất rõ về sự tương thừa giữa hai tác phẩm.
Chính vì thế, Tăng nhân Thích Đạo Tuyên cũng nói mình là“tham
rộng tiền nhân, viết rộng lại Hoằng Minh”,“xưa, đời
Lương đã nói việc này, nay Đường lại nói rộng thêm, đôi
bên đều có ý riêng của mình, đều với thiện ý là để
giáo nghĩa Phật giáo đời đời không dứt tuyệt”(Quảng
Hoằng Minh tập, bài tựa Pháp Nghĩa ).
Quảng
Hoằng Minh Tập được biên soạn dựa trên nội dung của Hoằng
Minh Tập, nhưng điểm nổi bật là toàn chương đều có những
phát triển đổi thay sâu rộng. Đạo Tuyên vốn cho rằng,
nội dung Hoằng Minh Tập chưa hết ý, tức là“biên soạn
từ đời Lương, nhưng có lẽ chưa tìm tòi và thảo luận
nhiều” (bài tựa Quảng Hoằng Minh tập ), vì thế bất luận
về phương diêïn bố cục hay nội dung hay tư tưởng, đều
có nhiều chỗ không giống với Hoằng Minh Tập. Về nội dung,
thì Quảng Hoằng Minh Tập có rất nhiều chương tiết được
mở rộng so với Hoằng Minh Tập. Như chiếu sắc của các
triều đại đế vương hưng phế Phật giáo, thì Hoằng Minh
tập thâu thập qúa ít, còn Quảng Hoằng Minh tập thì rất
nhiều. Sử liệu có nội dung đề cập đến sự xung đột
giữa Nho giáo và Phật giáo, thì Hoằng Minh Tập đã nhiều,
nhưng Quảng Hoằng Minh tập lại càng nhiều hơn, chỉ trong
thiên Biện Hoặc cũng đã tới 10 quyển. Như vậy cho chúng
ta càng thấy rõ mục đích biên tập của Quảng Hoằng Minh
Tập là hoằng dương và hộ trì chánh Pháp, nhưng cũng đề
cập đến thực tế về sự đấu tranh kịch liệt giữa Đạo
và Phật trong thời sơ Đường. Trước đó, Đạo Tuyên biên
tập có Tập Cổ Kim Phật-Đạo luận, 4 quyển, có nội dung
liên quan đến vấn đề này. Tương đương với nội dung của
Hoằng Minh Tập, thì trong Quảng Hoằng Minh tập có các chương
tiết như là: Quy Chánh, Biện Hoặc, Pháp Nghĩa, Tăng Hạnh.
Quảng Hoằng Minh tập còn các thiên như là: Phật Đức, Từ
Tế, Giới Công, Khải Phước, Hối Tội, Thống Quy, mà Hoằng
Minh Tập thì không có.
Về
phương diện bố cục, thì Hoằng Minh Tập chưa phân chương
tiết, còn Quảng Hoằng Minh tập thì phân làm 10 thiên, và
mỗi thiên có nhiều quyển. Hoằng Minh Tập chọn lọc những
bài viết cổ và cận đại, Tăng Hựu chỉ chọn những lời
tựa và cuối sách của luận Hoằng Minh. Quảng Hoằng Minh
tập trừ những phần đó ra, thì trước mỗi thiên đều có
lời tựa ngắn và còn nói rõ nguyên nhân, nội dung ý chỉ
của mỗi thiên. Trong thiên Đức Hạnh của Tăng, có ghi chép
việc Đường Cao Tông và Tể Phủ bàn luận về việc sa môn
không nên lễ bái vua và người thân. Trong Hoằng Minh Tập
có ghi chép điều này nhưng không có chương tiết, nhưng với
nội dung này thì Đạo Tuyên có thêm bớt; trước và sau chánh
văn, thì thường ghi thêm vài lời phụ, hoặc trình bày bối
cảnh tác văn, hoặc trình bày nội dung văn chương, hoặc bổ
sung thuyết minh, đã biểu hiện một phong cách mới mẻ trong
khuynh hướng hoằng dương giáo pháp.
Như
trên đã nói, giá trị tôn giáo của Quảng Hoằng Minh Tập,
chủ yếu là hoằng giáo hộ pháp. Nên trước thông qua nội
dung tất cả những tác văn đã được tuyển chọn để đánh
giá. Đạo Tuyên biết chọn lựa và thâu thập rộng sâu, phân
loại và biên tập được một số lượng lớn những bài
văn, những giảng sớ, những bài tụng về Phật giáo trong
thời Nam Bắc Triều và Tùy Đường. Những bàn văn này hoặc
trình bày giải thích nghĩa lí Phật giáo, hoặc ca tụng tán
dương công đức Phật Tổ, tuyên truyền những linh nghiệm
Phật tích, hoặc trình bày những sự nghiệp chói sáng của
các danh Tăng, khuyên thế gian hướng về điều thiện, hoặc
biểu hiện thiện chíù quy y Phật môn, biểu đạt tình cảm
và sự kính tín Phật giáo. Nói chung, Quảng Hoằng Minh Tập
đứng từ những góc độ và quan điểm không giống nhau để
tuyên dương tư tưởng Phật giáo. Hơn nữa, trước tình trạng
trọng Lão khinh Phật, Đạo Tuyên trong khi biên tập chương
mục, đã dẫn chứng và phân tích về sự chỉ trích của
Đạo giáo đối với Phật giáo, phản bác những biện luận
công kích của Đạo giáo. Đạo Tuyên đã cho ra đời những
chương mục tương đương, trình bày bình luận những sự
tích của nhiều triều đại vương tôn đại thần sùng bái
hoặc hủy phế Phật giáo. Ngoài ra còn thông qua những phần
phụ trong chương mục, như lời bình luận hoặc thuyết minh,
chú thích để chỉ trích Đạo giáo và tăng cường hộ trì
Phật giáo.
Quảng
Hoằng Minh Tập từ đời Đường đã có truyền lại bản
gốc, và từ thời Tống về sau thì đưa vào Đại tạng kinh,
truyền bá sâu rộng, thường được người đời xưng dương
tán thán. Do đây có thể nói rằng, tác dụng hoằng dương
và hộ trì giáo pháp của Quảng Hoằng Minh Tập rất lớn.
Như
trên đã đề cập, Hoằng Minh Tập chủ yếu là tuyển tập,
mà Quảng Hoằng Minh Tập thì không những chỉ tuyển tập,
mà còn trình bày quan điểm của mình, trình bày càng rõ ràng
hơn quan điểm Phật học, khiến cho người xem càng dễ hiểu
những gì mà giới học giả quan tâm chú ý. Quảng Hoằng Minh
Tập, trong thiên Quy Chánh, chủ yếu là xuất phát từ sự
so sánh giữa Nho Đạo Thích, đã rút ra được kết luận Phật
giáo là một tôn giáo độc tôn, điều này có điểm khác
biệt về quan điểm tam giáo dung hòa trước đó, càng làm
nổi bật sự tự tin của Phật giáo thời bấy giờ, bởi
vì vào thời Tùy Đường, Phật giáo đã bước vào giai đoạn
Phật giáo Trung Quốc hóa. Lí luận này đã chín muồi và thâm
nhập vào trong mọi giai tầng của xã hội, mà Nho giáo và
Đạo giáo thì thua kém nhiều. Thiên Biện Hoặc phân tích một
số nghi hoặc của các nhân sĩ ngoại giáo về việc không
tin Phật là bậc Thánh nhân vĩ đại, không tin Phật pháp là
chân lí thực tại. Thiên này chỉ ra hai nguyên nhân của hiện
tượng này là : Một là do người đời chưa nghiên cứu kĩ
Phật lí, hai là do thường mê hoặc chấp thủ học thuyết
của Đạo gia, do vậy mà càng thêm kích bác Phật giáo. Trong
thiên Phật Đức, thì tuyển tập tất cả những bài viết
liên quan đến việc miêu tả bàn luận thụy tướng Đức
Phật và tán dương thạnh đức của Ngài, với mục đích
là để mọi người khởi lòng sùng kín và tín phụng Phật
giáo. Chương Pháp Nghĩa thì thu thập thống kê tất cả những
bài luận thời Tấn Đường viết về ý nghĩa nhị đế, ý
nghĩa pháp thân, ý nghĩa thần diệt bất diệt, chỉ ra rõ
những vấn đề mấu chốt trong quá trình phát triển lịch
sử Phật giáo trong giai đoạn lịch sử này. Thiên Tăng Hạnh
thì tuyển tập những bài viết thời Tấn Đường về công
hạnh của những đại đức cao Tăng, tuyên dương tinh thần
hộ trì chánh pháp của họ. Những bài viết sưu tập trong
thiên Từ Tế , tuyên truyền giáo lí Phật Đà, trước tiên
là nên đình chỉ sát sinh, hướng dẫn khuyến khích người
nuôi dưỡng tình thương và lòng từ bi. Những bài viết sưu
tâïp trong thiên Giơí Công, thì tuyên dương đại dụng của
giới luật là chính yếu, tôn chỉ là nói về công đức vô
lượng của việc hành trì giới luật. Thiên Khải Phước
thì bàn về Phật giáo luôn lấy từ bi cứu khổ giúp đời,
luôn tu tập Pháp, giữ gìn trong sạch nghiệp của miệng lưỡi
và thân để tích lũy phước báu, tuyên dương những cống
hiến nổi bật của Phật giáo về phương diện trị thế
và giáo hóa. Tuyển tập những bài viết trong thiên Hối Tội,
thì chỉ rõ chư Phật là đại đại bi đại trí, không nỡ
ngồi nhìn chúng sanh chìm luân mãi trong biển khổ, nên hướng
dẫn chúng sanh phương pháp sám hối, để khiến cho những
người phạm tội tạo ác cải tạo được nghiệp thức và
hành động. Tất cả những bài viết được tuyển tập trong
thiên Thống Quy, phần nhiều là những bài viêát ca tụng Phật
giáo. Do đây có thể thấy rằng, những bài viết được tuyển
tập trong Hoằng Minh Tập, chủ yếu lấy “phá” làm chủ,
phá những gì phản đối và nghi hoặc Phật giáo của những
người không kính tín Phật giáo. Mà Quảng Hoằng Minh Tập
thì vừa “phá ”vừa “lập”, tức là vừa phản đối
bẻ gãy những công kích của người đời, nhưng đồng thời
cũng có những trước tác, những tác phẩm ca tụng tán dương
Phật giáo. Chính vì lí do này, mà tác phẩm của Ngài Đạo
Tuyên tuy được ra đời dựa trên cơ sở của Hoằng Minh Tập,
nhưng tên sách không dùng chữ “tục” (tiếp theo), mà dùng
chữ “quảng”(mở rộng), điều này đã thể hiện nét sáng
tạo độc đáo của Tăng Nhân Đạo Tuyên.
Quảng
Hoằng Minh Tập lại có những giá trị học thuật quan trọng,
và chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật giáo
Trung Hoa. Về phương diện lịch sử, thì Phật giáo là một
tư tưởng văn hóa ngoại lai, từ khi mới truyền vào cho đến
khi bén rễ sanh trưởng, đã dần dần sum xuê cành lá; từ
địa vị phụ họa cho Nho Đạo, đã bước lên địa vị độc
lập phát triển, cố nhiên là đã phải trải qua một qúa
trình gian nan đi từ xung đột đến dung hòa với Nho giáo.
Phật giáo truyền vào Trung Quốc từ thời Hán, phạm vi truyền
bá và tín ngưỡng cũng rất hạn chế. Bấy giờ học thuyết
SấmVĩ khá thịnh hành, người đời do vì thích thuyết thần
tiên của Hoàng Lão mà thích luôn Phật giáo. Họ cho rằng,
lí luận của Phật giáo là thanh hư vô vi, Như Lai chẳng qua
cũng chỉ là một vị thần, do vậy họ thờ Phật ngang với
Lão Tử, do đây mà Phật giáo càng bị xem như là một kĩ
thuật thần tiên. Có thể nói, đây là một sự dung hợp.
Nhưng bấy giờ cũng có một số kẻ sĩ nói, Phật giáo lạc
hậu hư vô khó tin, khó tiếp nhận. Đây lại là hiện trạng
mâu thuẫn và xung đột. Vào thời kì Ngụy Tấn, Huyền học
hưng thịnh, nhưng Phật giáo cũng đã phiên dịch được một
lượng lớn kinh điển, được một số trí thức tìm hiểu
và tiếp thu, do vậy có một số tín đồ Phật giáo đã tiến
hành so sánh tôn chỉ của Lão Trang với học thuyết Bát nhã
của Phật giáo. Họ cho rằng, Huyền và Phật bổ sung lẫn
nhau, dùng “vô”của lão Tử để bàn luận “không”của
Phật giáo Bát nhã học, khiến Phật học thoát li cái nhìn
là một kĩ xảo, mà sánh vai ngang hàng với học thuyết Lão
Trang, và dần dần tiến đến địa vị độc lập và hưng
thịnh. Sau này, vua Tống Văn Đế muốn các biên cương bờ
cõi nhờ Phật giáo mà được thuần hóa, với hi vọng là
do đó mà có thể ngồi yên nhìn cảnh thái bình (Hà Thượng
Chi “đáp Tống Văn Đế tán Phật cố sự”). Lương Võ Đế
nhiều lần xả thân vì Phật giáo, tuyên dương Phật giáo
là quốc giáo.
Thời
Ngụy Tấn, Huyền học nhờ dẫn dụng nghĩa lí Bát nhã học
của Phật giáo, mà đã tiến thêm một bước phát triển.
Huyền học và Phật học hấp thu và dung hội lẫn nhau. Thời
Tây Tấn, đạo sĩ Vương Phu viết “Lão Tử hóa hồ kinh”,
nói rằng Lão tử đi về phương Bắc, giáo hóa người Hồ,
sáng lập Phật giáo. Cả Nho giáo và Đạo giáo đều có những
xung đột mâu thuẫn với nghĩa lí của Phật giáo, trong đó
nổi trôïi hơn vẫn là Đạo giáo, từ đó chưa hề thôi dứt
tranh luận về: bản mạt, thần diệt và thần bất diệt luận,
Di Hạ luận(*), sa môn nên hay không nên kỉnh lễ vua chúa…
Những tranh chấp này một khi kết hợp với quyền thế chính
trị, thì lại phát sinh những mâu thuẫn giữa tôn giáo và
chính trị. Cũng vì lí do này mà dẫn đến sự kiện hủy
diệt Phật giáo thời Bắc Ngụy và Bắc Chu.
Nhìn
từ góc độ nghiên cứu văn hóa, Phật giáo là một văn hóa
ngoại lai đã đụng độ với văn hóa Nho gia, nhưng cuối cùng
đã ảnh hưởng thẩm thấu dung hội lẫn nhau. Mà Quảng Hoằng
Minh Tập biên chép sâu rộng hơn, phản ánh một cách tập
trung toàn diện hơn nghiã lí Phật giáo từ thời Ngụy cho
đến sơ Đường, là một sử liệu tư tưởng không ngừng
diễn biến phát triển trong mối quan hệ phức tạp Nho -Thích-Đạo.
Thần diệt thần bất diệt, các triết lí về “không”,
“nhị đế”, “Phật tánh” trong lí luận của Đại thừa
không tông, bấy giờ là vấn đế bình luận sôi nổi kịch
liệt trong và ngoài Phật giáo giới. Những tình hình cụ thể
về sự phê bình nhau giữa Đạo giáo và Phật giáo, những
thái độ khác nhau đối với Phật giáo của những đế vương,
thì chúng ta có thể tìm thấy được giải đáp rõ ràng trong
Quảng Hoằng Minh Tập. Do vậy, giá trị học thuật và địa
vị của Quảng Hoằng Minh Tập càng được nâng cao hơn trong
văn hóa Phật giáo nói riêng và trong nền văn hóa văn học
Trung Hoa nói chung.
Từ
những văn hiến Phật giáo mà Quảng Hoằng Minh Tập thâu thập
được, đủ thấy rõ giá trị học thuật của Quảng Hoằng
Minh Tập. Vấn đề thành Phật thành Thánh, là một trong những
đề tài tranh luận kịch liệt giữa Phật giáo giới và các
giới tư tưởng nói chung. Ngoài ra, một trong những vấn đề
tiêu biểu đó là, việc xuất hiện Biện Tông luận của Tạ
Linh Vận và những vấn đáp giữa ông với chư Tăng, và “Đáp
vương vệ quân vấn ” của Trúc Đạo An. Trong những nội
dung ấy, có bàn luận vấn đề Nho giáo cho rằng, Thánh nhân
có thể học mà không thể đạt, Phật giáo cho rằng, Thánh
nhân có thể học và có thể đạt được. Do vậy, Trúc Đạo
Sanh chiết trung Nho Thích, đưa ra thuyết “đốn ngôï thành
Phật”.
Bên
cạnh những gì vừa thảo luận ở trên, vấn đề “pháp
thân” và “nhị đế” cũng là đề tài quan trọng được
tranh biện kịch liệt giữa các phái thuộc không tông Đại
thừa Phật giáo trong thời Nam Bắc triều. “Giải nhị đế
nghĩa” và “giải Pháp thân nghĩa” là hai bài viết phản
ánh quan điểm và mức độ nhận thức của các học gỉa
thời bấy giờ về tam luận tông (Trung luận, Bách luận, Thập
nhị môn luận). Về nhị đế, Tiêu Thống cho rằng, nếu xuất
thế nhập thế chỉ duy nhất một cảnh giới tinh thần vĩnh
hằng vĩ đại, vô sanh vô diệt, thì lí luận của Phật giáo
cao hơn lí luận thế tục, do đó mà siêu việt mọi thực
hữu của vạn sự vạn vật trong thế gian, nhưng lại không
phải là không có gì, mà là một trung đạo chân thật. Pháp
thân tức chỉ bổn thể. Tiêu Thống cho rằng, pháp thân không
sanh không diệt, nhưng không phải đồng với trạng thái hư
không không có gì. Pháp thân độc lập không thay đổi, vĩnh
hằng tồn tại, nhưng cũng không phải thực hữu thực tại.
Phật giáo từ Tiểu thừa đến Đại thừa, từ không tông
đến hữu tông, đã chứng minh tự thân Phật giáo rõ ràng
không ngừng phát triển. Xét về nguyên lí duyên khởi, thì
không tông và hữu tông vốn không phải hai học thuyết đối
lập, mà là bổ sung lẫn nhau.
Điều
đáng chú ý là những tác phẩm của Tạ Linh Vận, Tiêu Thống
và một số văn nhân đều ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng
Phật giáo, thế nhưng họ chẳng phải là người quy y Phật
môn. Sở dĩ có được những nhận thức sâu sắc đối với
những tranh luận kịch liệt thời bấy giờ, là vì họ đã
có nghiên cứu Phật học, lại có kiến thức sâu rộng về
tư tưởng văn hóa Nho gia. Khi Phật và Nho có sự khế hợp
về lí luận, thì họ lí giải và tiếp thu sâu sắc một số
quan điểm mới và tự nhiên. Lại do vì địa vị chính trị
xã hội của họ cao hơn Tăng nhân và tín đồ Phật giáo,
vì thế sức ảnh hưởng quan điểm của họ đối với sự
phát triển và truyền bá Phật học, đương nhiên là gây sự
tác động cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Do đây mà có thể
nói rằng, người có thể hoằng Đạo.
Sự
khế hợp về phương diện lí luận giữa tầng lớp trí thức
trong xã hội với Phật giáo, đương nhiên là rất hữu ích
cho việc truyền bá chánh pháp, nhưng trong quá trình hoằng
đạo thì không nhất thiết phải có khế hợp về phương
diện lí lụận. Như mối quan hệ giữa Phật giáo với một
số người, tuy vẫn thuộc về sự khế hợp về huyền lí
và văn tự, nhưng phép tu trì niệm Phật tam muội mà họ sùng
bái, và tín ngưỡng vãng sanh tây phương Phật quốc, về sau,
lại là nhờ nhân duyên khác mới được truyền bá sâu rộng.
Vì niệm Phật, tức là trong quá trình tu hành thiền định,
quán tưởng Phật Di Đà và cảnh giới Tây phương tịnh độ.
Ngài Huệ Viễn cho rằng, trong tất cả các tam muội thì niệm
Phật là đứng đầu, mà niệm Phật thì cần phải dứt hết
vọng tưởng, chỉ cần siêng năng tu niệm thì sẽ thấy Phật
và vãng sanh tịnh độ. Pháp môn tịnh độ truyền vào Trung
Quốc cuối đời Đông Hán, được sự truyền bá của các
ngài Huệ Viễn, Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, nên đã
xâm nhập vào tầng lớp trí thức, và ảnh hưởng sâu rộng
trong dân gian.
Quảng
Hoằng Minh Tập không những đạt được địa vị quan trọng
trong lịch sử Phật giáo, mà còn mang lại những gía trị
học thuật khác trong những lĩnh vực khác. Vì ngoài bảo tồn
một số lượng lớn sử liệu tư tưởng Phật giáo ra, nó
còn lưu trữ một số điển tịch khác bị thất lạc từ
lâu, và nhờ đó mới tìm kiếm lại được một số tư liệu
văn hiến quý hiếm quan trọng. Nhờ vậy mà giá trị Quảng
Hoằng Minh Tập càng được đánh giá cao hơn.
Quảng
Hoằng Minh Tập còn thâu thập những chiếu sắc hưng phế
Phật giáo của các đế vương và những bài viết luận biện
về Đạo giáo và Phật giáo. Như ghi chép được một số
chiếu sắc về hủy diệt Phật giáo, ghi được một số bài
văn nói về sự đối lâïp kích bác Phật giáo của những
thế lực khác, như quyển 8 ghi chép được chiếu dụ phá
tượng đốt kinh, giết Tăng của Bắc Ngụy Thái Võ Đế,
Bắc Châu Cao tổ, Dương Tuyền Chi, Phạm Chẩn……Trong đó
cũng có ghi những sự kiện hưng long Phật giáo… Nhờ đó
mà có thể thấy Phật giáo đã phát triển trong xã hội đến
thời sơ Đường, và con người càng sung mãn niềm tin “Thiên
thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”.
Tất
cả những bố cục chương tiết và vấn đề thảo luận trong
Quảng Hoằng Minh Tập cho đến nay vẫn còn có những ý nghĩa
giá trị hiện thực nhất định. Như nhân quả báo ứng là
một trong những giáo lí căn bản của Phật giáo, cũng là
một trong những vấn đề mà từ khi Phật giáo truyền vào
Trung Quốc đã bị Nho Đạo cật vấn và không ngừng tranh
luận, thì trong Quảng Hoằng Minh Tập đã có đáp án để
giải quyết vấn đề một cách ổn thỏa. Trong những trước
tác của Phật giáo Trung Quốc trong thời kì đầu như Lý Hoặc
Luận của Mâu tử, đã có những biện luận xoay quanh vần
đề này. Huệ Viễn trước tác Tam Báo luận, Minh Báo Ứng
luận, và còn thư từ qua về với Vương Thục Chi, Đới An
Công, Tống Hà Thiên và Lưu Thiếu Phu để bàn bạc thảo luận
vấn đề nhân quả báo ứng. Bên cạnh đó, có Nhan Thị cho
rằng, Phật và Nho giáo vốn là một thể, nhưng lí luận của
Phật giáo sâu sắc hơn, rộng rãi hơn; Phật giáo có năm giới,
Nho giáo có ngũ thường, hai bên tương đương nhưng chỉ có
sâu cạn không đồng………
Theo
lí luận của Đại thừa Phật giáo không tông, khi thoát li
được trói buộc thế gian, thì sẽ bình tĩnh sáng suốt trước
những nhân quả báo ứng, thấu hiểu giáo lí không chút nghi
ngờ. Thật ra, trong tư tưởng văn hóa của truyền thống Nho
gia, tuy không có luận về nhân qủa báo ứng một cách minh
xác, nhưng cũng có thuyết “ương tật”, như nói rằng: “người
tích thiện, tất sẽ có niềm vui; người tích ác, tất sẽ
gặp tai ương bất hạnh”. Thuyết tai ương phước báo và
nhân quả báo ứng đều có tác dụng khiến người tu thiện,
nhưng thuyết họa phước của Nho gia là sự suy luận giữa
hai đối tượng tương quan nhau, như “cha làm con chịu”hoặc
thiện hay ác thì chỉ ảnh hưởng trong đời này mà thôi,
nó thuộc về suy đoán theo trí năng. Trong lúc đó, nhân quả
báo ứng luận của Phật giáo là một học thuyết dạy ràng,
nhìn đời nay thì biết những duyên thiện ác trong đời trước,
và trong đời này thì nên tu tạo phúc đức cho đời sau.
Trên
đây đã bàn luận vấn đề trong lịch sử Phật giáo Trung
Quốc, Phật giáo và Nho Đạo vừa đấu tranh nhưng lại vừa
dung hợp. Nội dung Quảng Hoằng Minh Tập, phần nhiều là sản
phẩm của sau hai cuộc đấu tranh, mà đặc biệt trong số
đó, đại biểu nổi bật là nhị giáo luận của Thích Đạo
An và Phá tà luận của Thích Đạo Lâm. …Mục đích lí luận
trong đó là để đi đến kết luận, Phật giáo là nội giáo,
là thuật trị tâm; Nho giáo là ngoại giáo, là thuật điều
thân, cả hai đều không thể thiếu, mà Phật giáo đóng vai
trò chủ đạo cốt cán, còn Đạo giáo là cành lá phụ họa
cho cây tưởng học thuyết Nho gia.
Điều
đáng chú ý nữa là, những trước tác của Đạo An chủ yếu
bài xích Đạo gia, còn lí luận của Pháp Lâm thì chủ yếu
tuyên dương giáo lý Đức Thích Tôn. Nhưng từ trước tác
của hai vị này, thì dễ dàng thấy được, họ không có ý
công kích tư tưởng Nho gia, mà còn cho rằng: “tam giáo tuy
khác, nhưng ý nghĩa khuyến thiện chỉ là một….” (Nhị
giáo luận). Đồng thời với việc cực lực hộ trì địa
vị tư tưởng chính trị Phật giáo, họ còn chủ trương tam
giáo đồng nguyên. Tinh thần đấu tranh mà dung hợp, đối
lập mà ôn hòa của Phật giáo, cho chúng ta thấy rằng, Phật
giáo sau khi truyền vào Trung Quốc từ thời Đông Hán, tuy rằng
đã từng có những xung đột về tư tưởng với Nho giáo và
Đạo giáo, có khi do nhân tố chính trị, đã xảy ra những
sự kiện đẫm máu, nhưng trong tư tưởng chính trị và hiện
thực cuộc sống, thì Phật giáo không hề tách rời, lập
dị cầu kì với Nho và Đạo.
Có
thể khẳng nhận rằng, tinh thần học thuật nghiên cứu của
người biên soạn Quảng Hoằng Minh Tập rất cao qúy, đã cung
cấp cho hậu thế những văn hiến giá trị. Giá trị học
thuật, giá trị nghiên cứu văn hóa, giá trị lịch sử, giá
trị triết lí…. của Quảng Hoằng Minh Tập đã đang và sẽ
mãi được giới trí thức trong và ngoài Phật giáo tiếp nhận
như món quà tri thức vô giá.
Chú
thích
(*)
Di Hạ luận: là bộ luận với tông chỉ chủ trương bảo
hộ tuyên dương Đạo giáo và bài xích Phật giáo, cho rằng,
Đạo giáo là chính quy, Phật giáo là tôn giáo quê mùa ở
vùng biên địa hạ tiện, chỉ đóng vai trò phụ thuộc. Trong
đó còn bao gồm mấy điểm: Lão Tử sanh trước Đức Phật,
giáo lí Phật giáo vốn được bao hàm trong Đạo giáo, Phật
giáo thuộc Đạo giáo, Phật giáo là giáo pháp man di mọi rợ.