Hoài
Cảm Đại Sư
Về lai lịch,
chưa rõ đại sư xuất thân từ đâu. Chỉ biết ban sơ, sư
cùng với ngài Huyền Trang, Từ Ân, đồng là người trong tông
Pháp Tướng. Sư tánh tình cang nghị, tinh khổ siêng học, nghi
rằng: “Niệm Phật trong thời gian ngắn, làm sao được sanh
về Tây Phương, nên đem nghĩa này hỏi tổ Thiện Đạo. Tổ
bảo: “Đó là lời thành thật của Phật, đâu có giả dối
ư?”. Lại bảo ngài vào đạo tràng niệm Phật cầu chứng
nghiệm. Đại sư y lời, tu hành 21 ngày không thấy điềm lành,
hận mình chướng sâu, muốn tuyệt thực. Tổ không cho, khuyên
tiếp tục tu hành. Sư tinh tu ba năm, cảm hóa Phật phóng kim
quang, thấy được tướng bạch hào, liền chứng Niệm Phật
tam muội. Nhân đó, ngài viết ra bảy quyển “Tịnh Độ Thích
Quần Nghi Luận”. Khi lâm chung, đại sư thấy hóa Phật đến
rước, bèn hướng về Tây mà tịch).
Đại
sư dạy: “Chí tâm niệm Phật tức là ý nghiệp làm lành,
xưng danh hiệu Phật là khẩu nghiệp làm lành, chấp tay lễ
bái là thân nghiệp làm lành. Do ba nghiệp ấy, làm lành, nên
có thể diệt tội nặng sanh tử trong tám mươi ức kiếp,
nhờ hạnh nguyện nương nhau, quyết định được vãng sanh.
Cần
phải niệm Phật ra tiếng thì tam muội dễ thành, niệm thầm
nhỏ phần nhiều tâm tán loạn. Điều này riêng học giả
tự biết, người ngoài không rõ thấu được.
Phương
pháp niệm Phật ở trong nhà tối, trong thánh giáo không thấy
nói.
Nhưng người
sơ học nếu ở trong nhà tối, tuyệt các việc thấy nghe,
buông bỏ các duyên, chuyên nhất niệm Phật, hành trì như
thế thì tam muội dễ thành. Ví như người đời khi nghĩ đến
việc khó khăn mà không giải quyết được, là do vì loạn
tưởng. Nếu kẻ ấy đóng chặt cửa lại một mình, nhắm
mắt ngồi yên, do tâm điềm tịnh nên lần lần nghĩ ra manh
mối. Điều này, người chưa thật hành đến, hay sanh nghi,
nhưng với kẻ đã từng tu tập thì đó là một điểm cần
yếu.
Lời Phụ:
Tổ thứ ba, thứ tư, thứ năm trong Liên Tông là các ngài Thừa
Viễn, Pháp Chiếu, Thiếu Khang sự hành hóa rất thạnh, song
giáo pháp bị thất lạc, chỉ còn có sự tích thôi. Riêng
về Tứ Tổ là ngài Pháp Chiếu, tục truyền có “Ngũ Hội
Niệm Phật” nhưng „n Quang đại sư không công nhận, cho
là sự ngoa chuyền của đời sau. Vì muốn chọn phần tinh
yếu, bớt sự rườm rà, nên trong đây không biên dịch ra).
Vĩnh
Minh Đại Sư
Ngài là vị
Tổ thứ sáu trong Liên Tông, tục tánh họ Vương, người xứ
Tiền Đường. Thuở còn tại chức ở ngoài đời, ngài
có lấy tiền thuế mua vật mạng phóng sanh, bị khép vào tử
tội, song thần sắc không biến, nên được vua ân xá. Sau
khi đó ngài xuất gia, trước y chỉ theo Thúy Nham Thiền Sư,
kế tham học với Thiều Quốc Sư, nhờ đức Quán Âm dùng
nước cam lồ rưới nơi miệng nên được trí huệ, biện
tài. Đại sư có trứ tác bộ Tông Cảnh Lục gồm một
100 quyển, lại viết ra bộ Vạn Thiện Đồng Quy tập, khuyên
tu Tịnh Độ. Trung ý vương mến hạnh đức, thỉnh ngài về
trụ trì chùa Vĩnh Minh. Đại sư định khóa mỗi ngày làm
108 việc thiện, ban đêm lên chót núi niệm Phật, mọi người
nghe tiếng thiên nhạc rền vang giữa hư không. Ngài tụng
kinh Pháp Hoa đến một muôn ba ngàn bộ. Năm Khai bảo thứ
8, đại sư đốt hương cáo từ chúng, rồi ngồi ngay mà hóa,
thọ được 72 tuổi.
Đại
sư dạy: “Phải một lòng quy mạng, trọn đời tinh tu, khi
ngồi nằm thường hướng về Tây. Lúc lễ bái, niệm Phật,
phát nguyện, phải khẩn khiết chí thành, không xen lẫn tạp
niệm trạng như người bị hình lục, như kẻ đang ở lao
tù, như gặp oán giặc rượt theo, như bị nước lửa bức
bách, một lòng cầu cứu, nguyện thoát khổ luân, mau chứng
vô sanh, để nối ngôi Tam Bảo, đền đáp bốn ơn, độ loài
hàm thức. Chí thành như thế tất công phu không uổng. Trái
lại, nếu lời và hạnh không hợp nhau, lòng tin không vững
chắc, niệm lực thường gián đoạn không tương tục, đem
sự biếng trễ ấy để mong vãng sanh thì e cho khi lâm chung
khó gặp bạn lành, bị sức nghiệp lôi kéo, sự đau khổ
ép bức, mà không thành chánh niệm. Vì sao? Bởi việc hiện
tại là nhân, lúc lâm chung là qủa, nhân phải cho thật, qủa
mới không hư, như âm thanh lớn thì tiếng vang dội rền xa,
như hình ngay bóng mới thẳng vậy.
Qủa
báo vui khổ đều do tâm tạo ra. Tâm nóng giận tà dâm là
nghiệp địa ngục, tâm tham lam bỏn sẻn là nghiệp Ngạ qủy,
tâm ngu si hôn ám là nghiệp súc sanh, tâm ngã mạn cống cao
là nghiệp Tu La, giữ trọn năm giới là nghiệp Người, tinh
tu mười điều lành là nghiệp Trời, chứng ngộ nhơn không
là nghiệp Thanh văn, rõ pháp nhơn duyên không là nghiệp Duyên
Giác, tu hành sáu độ là nghiệp Bồ tát, lòng chơn từ bình
đẳng là nghiệp Phật. Nếu tâm trong sạch thì hóa sanh về
Tịnh Độ, ở nơi bảo các, hương đài; tâm dơ nhiễm thì
gởi chất nơi uế bang, ở cõi núi gò hầm hố. Muôn cảnh
đều do tâm tạo, lìa nguồn tâm ra không có hình thể chi,
vậy muốn được qủa lành, phải tu nhân tịnh.
Tứ liệu
giản nói:
Có Thiền,
không Tịnh độ,
Mười người,
chín ngại đường.
Khi ấm cảnh
hiện ra,
Chớp mắt
đi theo nghiệp
Không thiền,
có tịnh độ,
Muôn tu,
muôn người sanh.
Khi được
thấy Di Đà,
Lo gì không
tỏ ngộ!
Có thiền,
có tịnh độ,
Cũng như
cọp mọc sừng.
Đời nay
làm thầy người,
Đời sau
làm Phật, Tổ.
Không thiền,
không tịnh độ
Giường
sắt, cột đồng lửa.
Muôn kiếp
lại ngàn đời.
Chẳng có
nơi nương tựa!
Lời Phụ:
Tỉnh Thường đại sư, Tổ thứ bảy trong Liên Tông, giáo
pháp bị thất truyền, chỉ có sự tích, nên không biên ra
đây.
Tuân
Thức Đại Sư
Sư họ Diệp,
quê quán ở Thái Châu, nhân bà mẹ lễ cầu đức Quán Thế
Âm mà sanh ra. Ngài thọ cụ giới lúc 20 tuổi, ban đầu học
luật, kế lại vào chùa Quốc Thanh tập về giáo quán Thiên
Thai. Đại sư chuyên trí cầu về Cực Lạc, tu pháp Bát Chu
Tam Muội, khổ hạnh đến mửa ra máu. Với lòng kiên quyết,
ngài lấy cái chết làm kỳ hạn, không thôi nghỉ. Đêm lại,
sư mơ màng thấy đức Quán Thế Âm chỉ tay vào miệng lôi
ra mấy con trùng, đầu ngón tay của Bồ Tát nước cam lồ
túa ra chảy vào cổ họng mình, nhân đó mà hết bịnh. Sau
ngài ở chùa Bảo Vân suất lãnh đại chúng đồng tu tịnh
nghiệp. Đại sư có trứ tác mấy pho sách: Di Đà Sám Pháp,
Tịnh Độ Quyết Nghi, Thập Niệm Pháp, Vãnh Sanh Lược Truyện,
lưu hành ở đời. Lúc lâm chung, ngài đốt hương lễ Tam Bảo
cầu chứng minh, rồi niệm Phật mà thoát, hưởng 69 tuổi.
*Đại sư
nói: Người tu tịnh nghiệp, khi làm công việc chi, dù trải
qua nhiều sự duyên phiền nhọc, song trong tâm lúc nào cũng
không quên câu niệm Phật. Ví như người đời có việc chi
cần yếu giải quyết chưa xong, bỗng gặp duyên khác đến,
tuy tới lui ngồi xuống, giao tiếp nói cười, làm việc này
khác lăng xăng, nhưng trong tâm không ngớt lo nghĩ đến chuyện
trước kia. Người niệm Phật phải tập tâm niệm của mình
cũng y như thế, nếu niệm có thất lạc, phải thâu nhiếp
lại, lâu ngày thành thói quen, chừng ấy sự nhớ niệm được
tự tại. Cho nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu cứ thế mà nhiếp
tâm, tự nhiên có thể ngăn được niệm ác. Giả sử muốn
làm ác, do vì nhớ Phật nên việc ác kia không thành, như người
trong thân có mùi thơm, tự nhiên hơi hôi sẽ tan đi mất”.
*Sớm mai
thức dậy phục sức xong rồi, nên chấp tay về Tây niệm
Phật. Nên lấy hơi dài, niệm liên tiếp luôn hết một hơi,
kể là một niệm, niệm đủ mười hơi là mười niệm. Nhưng
đừng nên qúa cố gắng, hơi hoặc dài ngắn, tiếng hoặc
cao thấp, niệm hoặc chậm mau, đều tùy tiện theo sức mình.
Niệm xong, phát nguyện vắn tắt cầu sanh Tây Phương. Nếu
có thờ Phật, nên đối trước Phật mà niệm, nhưng khi mới
vào và lui ra, đều phải lễ ba lạy. Pháp thập niệm này
rất tiện lợi cho người có nhiều duyên sự. Nếu mỗi ngày
đều thật hành y theo đây, lấy trọn đời làm kỳ hạn,
thì quyết định sẽ được vãng sanh.
Từ
Giác Đại Sư
Đại sư
húy là Tông Trách, người đất Tương Dương. Ngài xuất gia
theo Tử Thiền Sư ở chùa Trường Lô tu hành, phát mình được
chỗ tâm yếu. Trong năm Ngươn Hựu, đại sư rước mẹ già
về ở nơi phương trượng phía đông chùa, khuyên mẹ niệm
Phật. Bảy năm sau bà được vãng sanh. Ngài tuân theo quy củ
ở Lô Sơn, kết Liên Hoa Thắng Hội, khuyên hằng tăng tục
niệm Phật, cảm đến hai bị bồ tát Phổ Hiền, Phổ Huệ
ứng mộng xin ghi tên vào hội, để tỏ lòng mật hộ tán
thành. Từ đó, những người hướng về theo ngài càng lúc
càng đông. Linh Chi luật sư khen ngợi ngài là bậc Đại thừa
đạo sư ở thời buổi ấy. Khi lâm chung, ngài ngồi kiết
dà niệm Phật mà hóa.
Đại
sư nói: Người mới học đạo, nhẫn lực chưa thuần, nên
phải mượn tịnh duyên để giúp phần tăng tiến. Tại sao
thế? - Bởi ở cõi Ta Bà, Phật Thích Ca đã nhập diệt, đức
Di Lặc chưa giáng sanh; miền Cực Lạc thì từ phụ A Di Đà
hiện đương thuyết pháp. Với đức Quán Âm, Thế Chí, người
cõi Ta Bà luống khát ngưỡng danh lành, nếu về Tịnh Độ
thì bậc thượng thiện nhân như hai ngài ấy, đều là bạn
tốt. - Ta Bà, các loài ma nổi dậy, làm não loạn người tu;
trái lại nơi cõi Cực Lạc trong ánh đại quang minh đâu còn
ma sự? - Ta Bà dễ bị tiếng tà quầy loạn, sắc đẹp mê
tâm; miền Cực Lạc thì chim nước rừng cây đều tuyên dương
diệu pháp, chánh báo thanh tịnh, đâu có nữ nhơn! Thế thì
duyên tu hành thuận tiện đầy đủ, không đâu hơn cõi Tây
Phương, tiếc cho kẻ nông cạn kém tin, trở lại nghi ngờ
hủy báng! Xin đưa ra đây ít điều để luận:
cõi này,
cảnh nhà thế ồn ào dễ khiến cho người chán, nên có nhiều
kẻ mến cảnh chùa vắng lạnh, bỏ tục xuất gia. Nhưng nỗi
khổ ở Ta Bà đâu phải chỉ có sự phiền phức của nhà
đời, sự vui ở Cực Lạc mầu nhiệm không cùng, đâu phải
chỉ như cảnh chùa thanh tịnh? Biết xuất gia là tốt mà không
chịu cầu vãng sanh đó là điều lầm thứ nhất. — cõi này,
người tu hành khó nhọc, trải muôn dặm đường xa đi tìm
bậc trí thức để phát minh việc lớn giải quyết sự sống
chết luân hồi? Cõi Cực Lạc, đức Di Đà Thế Tôn nghiệp
sắc tâm đều thắng, nguyện lực rộng sâu, một khi diễn
tiếng viên âm, người nghe đều tỏ ngộ. Nguyện tham phỏng
bậc trí thức mà không muốn thấy Phật là điều lầm thứ
hai. Người tu ở cõi này thấy chùa lớn chúng đông đều
ưa thích muốn ở, những chỗ chúng ít lại không muốn nương
theo, Cõi Cực Lạc, hàng nhất sanh bổ xứ rất nhiều, các
bậc người thượng thiện đều hội lại một chỗ. Muốn
gần gũi chùa lớn mà không mến hải chúng thanh tịnh ở Tây
Phương, là điều lầm thứ ba. — cõi này, kẻ thượng thọ
không qúa trăm tuổi, tính lại lúc thơ ấu dại khờ, khi già
cả suy yếu, lúc đau bịnh, khi ngủ nghỉ, bao nhiêu đó đã
chiếm hơn phân nửa đời người; phương chi bậc Bồ Tát
còn mê khi cách ấm, hàng Thanh Văn còn muội lúc xuất thai,
tấc bóng ngàn vàng mười phân hao hết chín, mà tu hành chưa
lên ngôi bất thối, thật đáng kinh lòng! Người ở Tây Phương
thọ mạng không lường, một khi gởi chất nơi hoa sen thì
không còn sự khổ sanh già bịnh chết, tu hành tiếp tục mãi
cho đến khi chứng qủa bồ đề. Cam chịu luân chuyển ở
cảnh Ta Bà ngắn khổ, mà quên miền Cực Lạc trường xuân,
là điều lầm thứ tư. — cõi này, như bậc đã chứng qủa
vô sanh, sống trong dục trần mà không mê nhiễm mới có thể
vận lòng từ bi, trí phương tiện, cứu độ muôn loài. Còn
kẻ trí huệ cạn, mới tương ưng với đôi chút pháp lành,
bèn cho mình là bậc cao siêu tự tại, chê bai Tịnh Độ tham
luyến Ta Bà, không biết tự lượng, mong sánh với bậc đại
quyền Bồ Tát, để rồi ngày kia phải bị luân hồi đọa
lạc, đó là điều lầm thứ năm. Trong kinh nói: “Phải nên
phát nguyện cầu sanh về cõi kia”, mà có kẻ chẳng tin lời
Phật, khinh rẻ sự cầu sanh, há chẳng phải là mê ư? Than
ôi! Người không biết lo xa, ắt có sự buồn gần, một
khi mất thân này, muốn kiếp đành ôm hận, chừng ấy hồi
sao cho kịp!