Thỉnh
thoảng vẫn có người hỏi tôi rằng tại sao Phật giáo quý
trọng sự sống đến như vậy, trong khi có vẻ như việc mọi
sinh vật đều ăn nuốt lẫn nhau để mà sống mới chính là
luật tự nhiên. Quả thật đúng, quy luật cuộc đời là mọi
sinh vật đều được nuôi dưỡng bằng sinh mạng của các
sinh vật khác.
Chúng
ta nhận thấy điều đó trong toàn thể sự sống, từ những
sinh thể sơ đẳng nhất cho đến những sinh vật cao cấp nhất.
Vì đề mục thảo luận này thường dẫn tới việc xác định
nên hay không nên ăn thịt, chúng ta hãy đặt sự bàn bạc
ấy trong phạm vi của vấn đề ăn thịt điều có thể làm
cho vấn đề trở nên dễ hiểu hơn.
Chẳng
hạn, người ta sẽ bảo. Tôi hiểu rằng một số Phật tử
không ăn, không dọn thịt cá, là vì những lý do tâm linh,
bởi lẽ việc ăn hay dọn [các thức ăn có] thịt [có] cá
sẽ làm cho họ trở thành kẻ đồng lõa với việc giết hại.
Thế còn việc ăn rau quả thì sao? Thực vật cũng có đời
sống mà. Và nhất là trong những năm gần đây, chúng ta đã
được nghe nói quá nhiều về việc cây cỏ cũng có cảm thức".
Câu
trả lời ở đây là sự tồn tại có nhiều cấp bậc. Cùng
lúc chúng ta hiện hữu trên hai cấp độ. Một cấp độ, có
thể được gọi theo thuật ngữ triết học, là “vô đều
kiện” hay “tuyệt đối”. Ở cấp độ tuyệt đối này
của sự sống, chúng ta không thể thực hiện bất kỳ một
sự phân biệt nào giữa thấp và cao, giữa tốt hơn và xấu
hơn. Ở đó, chúng ta không thể nói rằng việc lấy đi sinh
mạng của một con bò là tệ hại hơn việc lấy đi sinh mạng
của một cái cây hoặc việc cho đi một cái cây còn đỡ
xấu xa hơn việc giết một con bò.
Đó
là cấp độ của sự bình đẳng chân thật. Ở đó, cá lội
tung tăng giữa những cảnh cây trong lúc chim bay dập dờn dưới
đáy biển. Ở đó không có sự phán biệt. Ngược lại, ở
cấp độ được gọi là "tương đối", chúng ta mới thực
hiện sự phân biệt; tại đây, có cả một giai tầng của
những biến cố và giá trị. Một điều chắc chắn là ở
cấp độ này, mạng sống của Einstein quý giá hơn mạng sống
của một con chuột không biết đến bao nhiêu lần... Tương
tự, việc giết một con bò phải được coi là đáng ghê tởm
hơn việc ngắt một bông hoa.
Cách
đây không lâu tôi có dịp nói chuyện với một người làm
việc trong ngành kinh doanh thịt với tư cách một nhà phân
phối, và câu chuyện của chúng tôi liên quan đến nội dung
quyển sách của Upton Sinclair có tựa đề là Bãi chăn thả
súc vật. Quyển sách xuất hiện trong thập niên 1920 và có
kể về những sự kiện khủng khiếp liên quan đến súc vật
bị giết hại trong những bãi chăn thả ấy. Vì người nói
chuyện với tôi cũng đã đọc quyển sách này nên tôi hỏi
ông ta. "Sự việc có được cải thiện chút nào không?". Với
gương mặt thể hiện một chút xấu hổ, ông ta trả lời,
"Nói thật với ngài, tôi nghĩ rằng sự việc còn tệ hại
hơn".
Vậy
là, trong lúc về nhiều phương diện có vẻ như ngày nay chúng
ta mẫn cảm hơn trong vấn đề đối xử với súc vật, thực
tế, nhận thức đó không hề thâm nhập vào cốt tủy của
cuộc sống của chúng ta. Trên phương diện động lực nội
tại của hoạt động con người mà nói, việc giết một con
bò tệ hại hơn việc ngắt một cành hoa vì việc giết con
bò đòi hỏi nhiều năng lượng và cố gắng hơn. Hệ thống
thần kinh của con bò hiển nhiên phát triển hơn. Trên cái
thang của sự phát triển ấy, chắc chắn việc lấy đi mạng
sống của một con người lại còn tệ hại hơn việc giết
một con bò rất nhiều.
Vậy
thì, ở cấp độ tương đối chúng ta thực hiện sự phân
biệt và chúng ta có một thang giá trị. Thế nhưng thực ra
cùng lúc chúng ta sống ở cả hai cấp độ, tương đối và
tuyệt đối. Chỉ có điều là phần lớn con người không
hề có nhận thức về cấp độ tuyệt đối, và vì thế họ
tin tưởng một cách đơn giản rằng mọi vật đều phải
được nuôi sống bằng sinh mệnh của một thứ gì đó. Vậy
là việc giết hại dường như không thể tránh khỏi vì sự
tôn trọng đối với sự sống vẫn chưa được biết đến.
Vẫn
còn một khía cạnh thứ yếu, đó là mọi sự còn tùy vào
cách mà chúng ta lấy đi sinh mạng của sinh vật khác. Chính
trạng thái tâm thức của chúng ta vào lúc chúng ta lấy đi
sinh mạng của sinh vật khác quyết định rằng hành động
đó có phải là một sự sai lầm về đạo đức hay tâm linh
không. Việc giết súc vật, săn bắn thú rừng v.v... có thể
được thực hiện trong trạng thái có chú tâm mà không hề
có tư tưởng phân biệt giữa ta và ngoài ta, không hề có
ý định, giết hại chỉ để giết hại mà thôi. Trong trường
họ đó, hành động lấy đi sinh mạng của một sinh thể khác
không phải là một vấn đề. Nếu một người buộc phải
thực hiện việc giết hại vì để có thực phẩm hay vì vấn
đề sức khỏe, chẳng hạn việc giết một thứ côn trùng
gây bệnh, việc đó có thể được thực hiện với sự thương
cảm và sự xin lỗi.
Trong
những xã hội săn bắn-hái lượm truyền thống, có một cảm
giác chân thực về việc xin lỗi, “Tao xin lỗi phải lấy
mạng sống của mày vì tao cần thực phẩm . Hãy tha thứ cho
tao!”. Đó cũng là một cách để chỉ ra sự đồng nhất
của con người với cuộc sống. Hơn nữa, còn có một ý thức
đặc trưng về trách nhiệm khủng khiếp gắn liền với bất
kỳ hành động giết hại nào. Các nền văn hóa truyền thống
biết rất rõ rằng toàn thể sự sống liên kết với nhau
và thực sự có tính cách thiêng liêng. Và vì thế họ không
săn bắt một cách khinh suất. Họ biết rằng việc giết hại
là một hiểm họa tâm linh. Thế nhưng, những kẻ hoài nghi
sẽ nói, “Có quá nhiều điều tốt được mang lại cho con
vật, nó được xin lỗi cơ đấy!”. Câu nói đó thể hiện
sự thiếu hiểu biết về cấp độ vô điều kiện, cấp độ
tuyệt đối. Ở đó mọi sự đều liên kết với nhau; thiếu
đi việc nhận ra rằng toàn thể sự sống, toàn thể những
sự liên kết, đều ảo diệu, huyền bí và linh thiêng.
Các
bạn sẽ thấy rằng, trong việc huấn luyện về Thiền, toàn
thể vấn đề giết hại thường được đưa vào cuối cuộc
huấn luyện vì đó là một vấn đề sâu xa cần được hiểu
biết rốt ráo. Có một cấp độ của sự sống mà ở đó
việc lấy đi bất kỳ một mạng sống nào trong bất kỳ một
hoàn cảnh nào cũng mang lại cho bạn một cảm giác tội lỗi
về mặt tinh thán. Thế rồi bạn tiến đến một cấp độ
có tính toàn diện hơn, ở đó bạn có thể biện minh cho việc
giết hại bằng một đều tốt hơn.
Chẳng
hạn, nếu có một con chó điên chạy rông trong thành phố
và có khả năng cắn một ai đó, hẳn là bạn sẽ bắn hạ
con chó ấy. Nhưng đứng về mặt tâm linh mà nói, rất nhiều
điều còn phụ thuộc vào việc bạn bắn hạ con chó điên
ấy như thế nào. Nếu bạn giết con chó ấy với sự giận
giữ, Đồ chó điên! Cho mày chết đi!”, hoặc với sự điên
cuồng, sự sợ hãi hay sự bốc đồng... có thể bạn đã
gây ra một vấn đề rồi đấy. Nhưng nếu việc giết con
chó điên được thực hiện không phải vì sự ghét bỏ mà
chỉ là một điều cần phải làm, có sự nhận biết trọn
vẹn và có cả lòng thương xót đối với con vật, khi đó,
hành động ấy trở nên một điều hoàn toàn khác. Đã có
một sự chuyển hóa thật sự về điều phân biệt tương
đối giữa người xạ thủ và con vật hoặc bất kỳ sinh
thể nào bị tước đi mạng sống. Ngay cả khi ngắt một cành
hoa, nếu bạn buộc phải nhổ một cành hoa, việc xin lỗi
bằng cách nói với cành hoa ấy một cách chân thành, “Tôi
chẳng hề có ý làm hại bạn" sẽ mang lại một hiệu quả
tích cực, tinh tế. Một cõi của sự bình đẳng và của sự
trị liệu đã mở ra.
Vậy
là đối với người Phật tử, điều xấu ác chính là sự
phân biệt và sự ghét bỏ đối với chính mình và đối với
người khác. Người theo đạo Phật có mười giới điều
phải giữ, tất cả đều dẫn xuất từ ý niệm về sự phân
biệt và sự ghét bỏ ấy, đó là: không giết hại, không
nói dối, không trộm cắp, không có những quan hệ tình dục
bừa bãi, không sử dụng rượu và các loại thuốc làm cho
đầu óc u mê đồng thời không khuyến dụ người khác sử
dụng những thứ ấy, không tự đề cao mình mà lại nói xấu
người khác, không vạch lỗi của người khác, không bủn
xỉn trong việc giúp đỡ người khác về vật chất hay tinh
thần, không trút sự giận dữ của mình, và không coi thường
Tam bảo (nghĩa là Phật, giáo pháp của Phật và cộng đồng
những người tự nguyện sống chung với nhau theo đúng giáo
pháp của Phật; thường gọi là Phật, Pháp, và Tăng). Ngoài
ra, người Phật tử còn có ba điều quyết tâm chung, đó là
tránh làm những việc xấu ác, chuyên tâm làm những điều
lành, và giải thoát mọi sinh thể có tình thức.
Không
làm những điều xấu ác thực sự có ý nghĩa là đừng tự
tách rời mình khỏi cuộc sống thường nhật của chính mình,
khỏi cái thế giới đúng như nó đang phơi mở ra chung quanh
ta. Sự tách rời có nghĩa là phủ nhận hay phủ định bản
chất thật của chính chúng ta, mà chính là trong cái bản chất
thật ấy mới tồn tại mọi sự thanh tịnh, mọi sự lương
thiện, mọi đức tính. Chúng ta có lòng từ ái tự trong bản
chất với tính cách là đặc điểm tâm linh của chúng ta ngay
từ lúc chào đời. Chúng ta không cần phải góp nhặt những
đức tính đó từ bên ngoài. Đạo Phật rao truyền rằng chúng
ta vốn dĩ lương thiện, theo ý nghĩa là một sinh thể toàn
bộ và trọn vẹn, không hề bị tách rời. Tránh những điều
xấu ác có nghĩa là tránh thực hiện những việc làm cho chúng
ta bị tách rời khỏi, bị xa lánh bởi, bị ghẻ lạnh bởi
sự sống. Và thực hiện những điều lành có nghĩa là khẳng
định bằng một đường lối xác quyết về sự thống nhất
thiết yếu của mọi thực thể.
Mười
giới đều của đạo Phật (như là không giết hại, không
trộm cắp v.v...) được nêu ra từ cái nhìn của một Bậc
Giác ngộ đã được nhận thức một cách trọn vẹn. Những
giới điều đó là một sự biểu thị về đường lối mà
một vị Phật sẽ hành động. Điều đó có nghĩa là một
chúng sinh đã phát triển tâm thức đến mức độ cao tột
như vậy sẽ không giết hại vì sẽ chẳng có gì để giết
hại, chẳng hề có nhận thức nào về cái không phải là
mình. Vả chăng, sự giận dữ, sự bạo hành, và các trạng
thái tâm lý hành động xấu ác khác, đều nổi lên từ một
cảm giác bất an, một cảm tưởng của sự bị tách rời,
bị cô lập. Ngay cả những giới đều đỏ vốn là nguyên
lý được phát biểu từ quan điểm của một vị Phật, chúng
ta cũng hãy cố gắng hết sức để có thể theo được những
giới điều ấy.
Bây
giờ, câu hỏi phải được đặt ra là: "Có ai đó tấn công
bạn, bạn phải làm gì? Phải chăng bạn có quyền tự bảo
vệ? bạn có đánh trả hay không?". Hoặc hãy đặt ra một
vấn đe cho nó có tính cách nghiêm trọng hơn, "Giả sử có
kẻ có ý định - hoặc đã - đánh đập con bạn một cách
tàn nhẫn hoàn toàn không có lý do - bạn sẽ làm gì? Một
người Phật tử muốn thành trong trường hợp đó sẽ làm
gì? Điều rắc rối là người ta chỉ muốn một câu trả
lời có hoặc không, một câu trả lời trắng ra trắng, đen
ra đen. Chẳng hề có điều đó đâu. Thực ra, người ta chẳng
bao giờ biết được mình có ý định làm điều gì. Tuy nhiên,
là Phật tử, chúng ta còn có những giới điều nói trên như
một thứ kim chỉ nam hành động.
Bạn
có thể nghĩ rằng, nếu bạn đã bị đánh, bạn sẽ đánh
trả. Bạn có cái quyền đó mà! Nhưng bạn có quyền thật
không? Sự thừa nhận này là một loại ước định. Có một
ghi nhận thú vị là ngay cả luật pháp cũng quy định rằng
bạn không thể sử dụng một sức mạnh nhiều hơn mức cần
thiết để đẩy lùi một cuộc tấn công. Nếu một người
tát vào mặt bạn một cái tát mà bạn chụp lấy khẩu súng
để bắn người đó thì rõ ràng hành động của bạn không
thể được biện hộ bởi bất kỳ một bộ luật hợp pháp
nào.
Một
đứa trẻ có thể giẫm lên một con bọ hung một cách vô
tâm. Nhận thức của đứa trẻ là sự sống của con bọ hung
không quan trọng. Con bọ chỉ cản đường đứa trẻ, vậy
mà đứa trẻ đã lấy đi mạng sống của con bọ. Chắc chắn
đứa trẻ đó đã chứng kiến những người trưởng thành
phản ứng với sự căm phẫn, bực bội hay sợ hãi đối với
côn trùng... Điều đó thiết lập một loại ước định về
sự phản ứng trong trường hợp căm phẫn, bực bội hay sợ
hãi. Và như thế mà thói quen bạo hành được truyền từ
thế hệ này qua thế hệ kia. Toàn thể cái ý niệm về vấn
đề bạo hành, dù là thuộc phần kẻ tấn công hay phần người
tự bảo vệ, đều phụ thuộc vào trạng thái tâm thần riêng
của bạn. Ở một trình độ nào đó, bạn có thể phản ứng
theo cách thức này; ở một trình độ phát triển hơn, bạn
sẽ phản ứng theo lối khác.
Trong
tập tự truyện của mình, Thánh Gandhi có kể lại sự thể
khi ngài kiên trì ngồi vào chỗ dành cho người da trắng trên
những chuyến xe buýt ở Nam Phi. Hậu quả là ngài bị đánh
đập nhưng không bao giờ ngài đánh trả. Ngài chỉ tự bảo
vệ mình, hệt như phản ứng của những người biểu tình
bất bạo động ở Hoa Kỳ, luôn luôn nhẫn nại tiến bước.
Việc chống trả thường chỉ kích thích sự bạo hành mãnh
liệt hơn mà thôi.
Một
sự quý trọng đối với sự sống mở rộng trong tâm trí
chúng ta đến những sinh thể mà chúng ta xem là có hại như
côn trùng hoặc hơn nữa, đến những kẻ bị coi là kẻ thù
của chúng ta như những kẻ áp bức là điều được nâng
đỡ và trau dồi thông qua việc thực hành ngồi thiền. Nuôi
dưỡng công phu ngồi thiền và những thái độ phát triển
từ công phu ấy, cộng đồng những người hành trì theo phương
pháp của Phật giáo cung cấp một chốn nương thân cho những
hành giả trước một nền văn hóa rộng lớn hơn chi khuyến
khích sự gây gổ trong việc giải quyết những tranh cãi và
mâu thuẫn. Bất kỳ người nào cũng đều có thể thực hành
để trở nên chú tâm hơn và biết quý trọng hơn về sự
thống nhất của sự sống. Ngay cả kiến thức để một phương
pháp giải quyết như thế có thể xảy ra cũng là điều đáng
quý. Cuối cùng thì nhu cầu đánh trả, mặc dù có vẻ hết
sức tự nhiên, cũng chỉ xuất phát từ sự phân biệt và
nỗi sợ hãi.
Khi
toàn bộ sự sống thực sự được thấy là có chung một
gốc rễ, có liên hệ chặt chẽ với nhau, có tỉnh chất thiêng
liêng, khi ấy, ngay cả trong một nền văn hóa bạo lực những
biện pháp đáp trả mới sẽ xuất hiện, và cuối cùng, cái
chu kỳ bạo lực cổ lỗ sẽ phải chấm dứt.
Đại
sư Philip Kapleau- Nguyễn Văn Nhật (dịch)
Năm
1965, Đại sư Philip Kapleau từ Nhật Bản trở về Hoa Kỳ và
ngay năm sau, 1966, ông thiết lập Trung tâm Thực hành Thiền
định Rochester ở New York. Ngay từ khi mới thành lập, Trung
tâm này đã thu hút thiền sinh trên toàn thế giới đến thực
hành thiền. Ngày nay, giáo lý và ảnh hưởng của Đại sư
Philip Kapleau mở rộng khắp vùng Bắc Mỹ và một số nước
ở Tây Âu.
Thời
thanh niên, Kapleau học luật rồi trở thành một phóng viên
lấy tin ở các toà án tiểu bang và liên bang thuộc Connecticut,
Hoa Kỳ. Năm 1945, ông được chỉ định lấy tin tại Toà án
Quốc tế Quân sự ở Nuremberg, sau đó ông được gởi đến
Tokyo để đưa tin về Toà án Tội nhân chiến tranh đang diễn
ra tại đây. Đến Nhật, ông tiếp xúc với ngài D.T. Suzuki
và điều đó đã thay đổi hẳn hướng đi của đời ông.
Vào năm 1950, khi ngài Suzuki sang Mỹ giảng dạy về Phật giáo
Nhật Bản ở Đại học Columbia, ông Kapleau, lúc ấy đã trở
về Mỹ, có ghi tên học về triết học Phật giáo. Tuy nhiên,
việc tiếp cận Phật giáo theo khảo hướng thuần tuý tri
thức đã không làm ông thoả mãn.
Năm
1953, ở tuổi 42, ông giải tán doanh nghiệp truyền thông của
mình để trở lại Nhật với khao khát tìm được sự chứng
ngộ. Ông đã trải qua mười ba năm thực hành miên mật về
thiền định với nhiều vị thiền tăng danh tiếng Nhật Bản
trước khi thụ giới với bổn sư là ngài Hakuin Yasutani và
được ngài cho phép hoằng pháp vào năm 1965.
Đại
sư Philip Kapleau là tác giả của nhiều tác phải thiền học
quan trọng. Quyển The Three Pillars of Zen (Bản dịch Việt ngữ
của Như Hạnh: Tam Trụ Thiền) vẫn được giới học thuật
Âu Mỹ coi là tài liệu nhập môn tiêu chuẩn về thực hành
Thiền định.
Đại
sư Philip Kapleau thị tịch ngày 6 tháng 5 năm 2004 tại Thiền
viện Rochester vì biến chứng của bệnh Parkinson hưởng thọ
92 tuổi.
Nguyễn
Văn Nhật dịch
|
03-23-2008
11:23:46