PHẦN
III
TỊNH
ĐỘ — BÁO HIẾU — CẦU AN — CẦU SIÊU
246.
Sám Nhứt tâm nghĩa IV
247.
Sám Nhứt tâm nghĩa V
248.
Sám Thập phương nghĩa IV
249.
Sám Thập phương nghĩa V
250.
Sám Phát nguyện niệm Phật (Sám Di Đà 7)
251.
Đường về Cực lạc (Sám tán Di Đà 8)
252.
Sám Bồ đề hồi hướng Cực lạc (Sám Di Đà 9)
253.
Sám văn cầu phúc thọ (Sám tán cầu an 6)
254.
Sám Cầu tu (Sách tấn tu tập 13)
255.
Sám Cầu siêu cho cha (Sám báo hiếu 14)
256.
Sám Cầu siêu cúng thất (Cảnh tỉnh 9)
257.
Sám Kỳ siêu (Sám tán cầu siêu 18)
258.
Sám Cầu siêu tỉnh thế (Cảnh tỉnh 10)
259.
Bài Tống chung (Cảnh tỉnh 11)
260.
Sám nguyện hương linh (Sám tán cầu siêu 19)
261.
Sám Cầu siêu thủy lục vớt vong (Thí thực cô hồn 13)
246.
SÁM NHỨT TÂM NGHĨA (IV)
Bích
Liên Pháp Sư
Một
lòng quyết trở về Lạc quốc,
Đem
mình nương đức Phật Di Đà,
Xin
bưng đèn tịnh soi qua,
Nhớ
lời từ thệ dắt ta với cùng.
Tôi
nay chánh giữ một lòng,
Xưng
danh hiệu Phật mà trông một bề.
Thiết
tha vì đạo Bồ đề,
Nên
chi niệm Phật cầu về Tây phương.
Phật
xưa lời thệ rõ ràng,
Rằng
như có kẻ thế gian đó mà !
Muốn
sanh về cõi nước ta,
Hết
lòng tin thiệt hay là ưa vui.
Và
trong thập niệm hẳn hòi,
Bằng
không sanh đặng ta lui bực hèn.
Bởi
vì niệm Phật nhân duyên,
Đặng
vào biển Phật thề nguyền ngày xưa.
Nương
nhờ Phật lực sớm trưa,
Đã
tiêu tội chướng lại thừa thiện căn.
Đến
khi gần xả báo thân,
Mình
đã dự biết tới chừng nào đi.
Thân
không bệnh khổ chút chi,
Lòng
không tham tiếc sự gì thế gian.
Ý
không điên đảo trớ trang,
Như
vào thiền định an nhàn thảnh thơi.
Phật
cùng Bồ Tát các ngài,
Tay
bưng một tọa kim đài rước ta.
Chừng
trong một thí đâu xa,
Sanh
về Cực lạc nở tòa bông sen.
Nở
rồi thấy Phật dạy khuyên,
Phật
thừa Phật huệ nghe liền mở ra.
Chúng
sanh mấy lớp độ qua,
Bồ
đề mấy nguyện cũng là đầy luôn.
———————————
—
Trích từ “Phật hóa gia đình”, nguyên tác diễn ca của
Hòa Thượng Bích Liên soạn, Hòa Thượng Khánh Anh sao lại.
Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật học Xá
Lợi tàng bản.
247.
SÁM NHỨT TÂM NGHĨA (V)
Khánh
Anh Pháp Sư
Thành
tâm lạy Phật Di Đà,
Ở
bên Cực lạc chứng qua cõi này.
Hào
quang xin chiếu đến đây,
Đức
Từ nhìn nhận con nay niệm ngài.
Xưng
danh của đức Như Lai,
Cốt
vị đạo Phật để mai mốt về.
Phật
xưa vẫn có lời thề,
Chúng
sanh nào muốn sanh về nước ta.
Chăm
lòng tin nguyện thiết tha,
Ít
thì mười niệm nếu mà chẳng sanh.
Thì
ta chẳng lấy Phật danh,
Bởi
duyên cớ đó nên đành niệm đây.
Như
Lai biển nguyện rộng thay,
Bè
từ Phật độ con nay đặng vào.
Tội
mòn như “nước đá” thau ,(1)
Căn
lành lớn tựa núi cao rừng già.
Mai
sau trăm tuổi sắp đà,
Đến
cho biết trước năm ba ngày giờ.
Thân
không đau khổ ngất ngơ,
Lòng
không tham tiếc ngây khờ đảo điên.
Lâm
chung như lúc vào thiền,
Phật
cùng Thánh chúng, kim liên đài vàng.
Đem
qua để rước con sang,
Chỉ
trong một niệm cõi vàng vãng sanh.
Trên
hoa thấy Phật nghe kinh,
Phật
thừa Phật huệ đều rành suốt thông.
Chúng
sanh mấy, độ cũng xong,
Bồ
đề mãn nguyện mỗi lòng đều phu. (2)
Nguyện
về Tịnh độ Tây cù, (3)
Sen
phô chín phẩm hoa bù đôi thân. (4)
Nở
hoa thấy Phật chứng chân,
Bạn
hiền Bồ Tát quả thân Bồ Đề.
———————————
—
Trích từ “Phật hóa gia đình” do Hòa Thượng Khánh Anh biên
soạn, Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật
học Xá Lợi tàng bản.
(1)
“Nước đá” thau : Câu này Hòa thượng soạn theo ý ngài
Huệ Lưu có sửa đổi từ “đá mài dao” thì lâu mòn lắm
! Nước đá thì mau tiêu hơn, là muốn cho tội cũng mau tiêu
như thế (Tr. 70 Sđd).
(2)
Phu : bày, trải, ý nói đều đầy đủ như ý nguyện.
(3)
Tây cù : cõi phương Tây.
(4)
Hoa bù đôi thân : bù có nghĩa bồi thường, thay thế. Vì hoa
sen thay vì cha mẹ để hoá sanh cho chúng sanh niệm Phật được
vãng sanh (Tr. 71 Sđd).
248.
SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA (IV)
Bích
Liên Pháp Sư
Mười
phương cả Phật ba đời,
Di
Đà thứ nhứt tột vời quang minh.
Phân
làm chín phẩm độ sanh,
Oai
thần đức thánh minh minh khôn cùng.
Tôi
nay rộng phát một lòng,
Qui
y sám hối ba vòng nghiệp khiên.
Hễ
phàm có mấy phước duyên,
Hết
lòng hồi hướng mà chuyên làm lành.
Nguyện
người niệm Phật với mình,
Lúc
nào cảm ứng quang minh cho tường.
Lâm
chung nguyện cảnh Tây phương,
Hiện
ra trước mặt rõ ràng chẳng sai.
Kiến
văn tinh tiến cả hai,
Đồng
về cõi Phật trong đài Liên hoa.
Thấy
Phật sanh tử liễu qua,
Như
Phật độ hết những là chúng sanh.
———————————
—
Nguyên tác của Hòa Thượng Bích Liên, do Hòa Thượng Khánh
Anh sao lục trong “Phật hóa gia đình”, Sao Mai ấn hành 1951.
Thư viện Phật học Xá Lợi tàng bản.
Bài
chỉ thấy chép có như thế, không biết có mất đoạn cuối
chăng ? Nếu theo chánh văn thì còn bốn câu nữa của Tứ hoằng
thệ nguyện.
249.
SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA (V)
Khánh
Anh Pháp Sư
Cả
ba đời cùng mười phương Phật,
A
Di Đà bậc nhất vì duyên,
Uy
thần phước đức vô biên,
Dựng
đài cửu phẩm độ miền cầu sanh.
Con
chí thành nghiêng mình sám hối,
Ý
khẩu thân hết tội ngu hèn,
Có
bao phước quả thiện căn,
Hướng
về Tịnh độ hay rằng tịnh bang.
Nguyện
đồng đàn những trang niệm Phật.
Cảm
ứng theo hiện thật chứng cho,
Thân
sắp mãn, cõi Phật phò,
Thấy
nghe tiến tới, nức nô sanh về.
Trông
Bồ đề thoát bề sanh tử,
Như
Phật đà độ thảy vong, tồn,
Lắm
phiền não, nhiều pháp môn,
Bao
phiền cũng đoạn mấy tôn cũng trì.
Với
điều ni loài chi cũng độ,
Và
đều thành Phật hộ “Tứ hoằng”,
Cõi
không tội nguyện không ngằn,
Tình
với không tình đều thành giống trí.
——————————
—
Trích trong “Phật hóa gia đình” của Hòa Thượng Khánh Anh
soạn, Nhà in Sao Mai ấn hành, Sài Gòn, 1951. Thư viện Xá Lợi
tàng bản.
—
Người soạn có sửa lại câu cuối cho hợp số chữ song thất
lục bát.
250.
SÁM PHÁT NGUYỆN NIỆM PHẬT
(Sám
tán Di Đà 7)
Một
lòng niệm Phật Di Đà,
Cầu
sanh Cực lạc liên tòa Tây phương.
Hôm
nay quì trước điện đường,
Chúng
con phát nguyện cúng dường Thích Ca.
Xin
ngài thương xót Ta bà,
Chỉ
đường sanh tử thoát ra luân hồi.
Chúng
sanh chìm đắm khổ ôi !
Trầm
luân nhiều kiếp nổi trôi cõi trần.
Đức
ngài giác ngộ hiền nhân,
Tìm
phương giải thoát xả thân tu hành.
Đến
ngày đạo quả viên thành,
Ngài
bèn tự thuyết hồng danh kinh này.
Dạy
người hồi hướng phương Tây,
Cầu
về Cực lạc nơi đây an lành.
Mỗi
người phát nguyện vãng sanh,
Cầu
lo niệm Phật xưng danh Di Đà.
Chuyên
tâm phát nguyện thiết tha,
Trí
hạnh viên mãn đặng qua lạc thành.
Tin
chắc niệm Phật vãng sanh,
Ai
tu cũng đặng đừng sanh nghi ngờ.
Nguyện
không xao lãng chần chờ,
Lập
hạnh tinh tấn ngày giờ tiến tu.
Tứ
thời niệm Phật công phu,
Cầu
về Cực lạc ngàn thu độ đời.
Nguyện
cho khắp cả mọi nơi,
Đồng
lo niệm Phật chiều mơi chuyên cần.
Hiện
tiền đền đáp bốn ân,
Phước
huệ đầy đủ mãn phần vãng sanh.
Cần
lo niệm Phật chí thành,
Ngày
đêm sáu chữ hồng danh Di Đa.ø
Khắp
trong thế giới Ta bà,
Nhớ
lời di chúc Thích Ca dạy truyền.
Bao
phen cặn kẽ bảo khuyên,
Chúng
sanh niệm Phật kết duyên Di Đà.
Nguyện
qua khỏi chốn ái hà,
Cầu
sanh chín phẩm Liên hoa sen vàng.
Di
Đà Phật phóng hào quang,
Rước
người niệm Phật Lạc bang mau về.
Niệm
Phật viên mãn Bồ đề,
Bổn
sư dạy bảo cầu về cõi thanh.
Niệm
Phật chắc đặng vãng sanh,
Nhiếp
tâm niệm rõ hồng danh Di Đà.
Tháng
ngày lần lữa trôi qua,
Tư
lương góp đủ chắc là thành công.
Tín
hạnh nguyện gắng vun trồng,
Công
viên quả mãn thảy đồng về Tây.
Lâm
chung cảnh Phật hiện bày,
Di
Đà, Thánh chúng đông vầy rước lên.
Quan
Âm, Thế Chí nêu tên,
Tràng
phan bảo cái cung nghênh nhạc trời.
Có
mùi hương lạ trong đời,
Bay
quanh lúc ấy khiến người phát tâm.
Cùng
nhau niệm Phật đồng âm,
Tới
phiên Thánh cảnh lai lâm tiếp mình.
Thập
phương bá tánh hãy tin,
Gắng
công niệm Phật tánh linh tỏ bày.
Di
Đà Phật hiện sen khai,
Pháp
môn cứu cánh không hai ở đời.
Vậy
xin nhắn nhủ mọi người,
Vãng
sanh quyết đặng không dời không sai.
Hãy
cùng niệm hiệu Như Lai,
Tây
phương Cực lạc liên đài kết hoa.
Nam
mô đức Phật Di Đà.
———————————
—
Trích và soạn lại từ bài sám cùng tên trong “Pháp môn niệm
Phật.” Chùa Niệm Phật ấn hành , Bình Dương, 1970
—
Soạn bổ sung 21 câu – Xá Lợi, 1997
251.
ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC
(Sám
tán Di Đà 8)
Chí
Kiên
Một
hôm đức Phật mỉm cười,
Xá
Lợi trưởng lão vui tươi cúi đầu.
Bạch
Phật duyên cớ do đâu,
Miệng
vàng hé nụ bấy lâu chưa từng.
Phật
rằng : Bể khổ trầm luân,
Hận
thù, ân ái, muôn phần hiểm nguy.
Muốn
tìm lối thoát kịp thì,
A
Di Đà Phật chuyên trì niệm danh.
Tây
phương Cực lạc sẵn dành,
Vàng
ròng lót đất, tường thành ngọc châu.
Nguy
nga cung điện gác lầu,
Lưới
giăng bảy lớp, cây đâu bảy hàng.
Điểm
tô bảy lớp lan can,
San
hô hổ phách rỡ ràng thềm ao.
Nước
trong mát mẻ ngọt ngào,
Đủ
tám công đức uống vào vui tươi.
Sống
lâu kiếp kiếp đời đời,
Không
già không chết thảnh thơi vô cùng.
Hoa
sen mọc khắp ao trung,
Xanh
vàng đỏ trắng hòa dung sáng ngời.
Cây
khua điệu nhạc tuyệt vời,
Chim
kêu lảnh lót diễn lời pháp âm.
Ở
đây chẳng có thú cầm,
Chim
linh do Phật âm thầm hóa ra.
Hỡi
ai muốn thoát Ta bà,
Hãy
mau niệm Phật Di Đà hôm mai.
Một
ngày cho đến bảy ngày,
Niệm
theo hơi thở một hai rõ rành.
Ngăn
ngừa tạp niệm lấn ranh,
Đừng
cho phiền não lộng hành cướp ngôi.
Nhứt
tâm bất loạn được rồi,
Pháp
vương ngự trị bầy tôi phục tùng.
Thân
sơ ân oán hòa dung,
Không
hơn không kém không cùng không riêng.
Lâm
chung Tịnh độ hiện tiền,
A
Di Đà Phật diệu huyền phóng quang.
Rợp
trời bảo cái tràng phan,
Quan
Âm, Thế Chí đài vàng tay bưng.
Nhạc
trời hòa tấu tưng bừng,
Rước
hồn hành giả băng chừng phương Tây.
Trần
lao rũ sạch từ đây,
Sen
vàng thác chất đủ đầy thắng duyên.
Hoa
nở thấy Phật hiện tiền,
Vô
sanh pháp nhẫn chứng liền quả cao.
Hào
quang rực rỡ làu làu,
Sống
lâu mãi mãi tiêu dao thọ trường.
Từ
bi thể hiện tình thương,
Ta
bà trở lại hiển dương đạo mầu.
Độ
người vượt khỏi vực sâu,
Lên
đường giải thoát hận sầu còn đâu.
Muôn
duyên một niệm gồm thâu,
Vô
sư trí hiện làu làu tinh anh.
Sen
vàng chín phẩm nêu danh,
Bất
thoái Bồ Tát tịnh thanh đắc thành.
Giác
tha tự giác thực hành,
Giác
hạnh viên mãn vô sanh đời đời.
———————————
—
Bài do Ni Trưởng Thích Nữ Chí Kiên–Như Chí trước tác ,
đăng trong Đặc San Hoằng Pháp số 3. Chùa Ấn Quang ấn hành,
Sài Gòn, 1973
252.
SÁM BỒ ĐỀ HỒI HƯỚNG CỰC LẠC
(Sám
tán Di Đà 9)
A Di
Đà Phật Bồ Đề,
Xưa
kia sẵn có lời thề độ sanh.
Vậy
đem nguyện lực thi hành,
Mở
ra một cảnh quang minh thần kỳ.
Gọi
rằng Cực lạc phương Tây,
Có
thành bảy lớp có cây bảy hàng.
Thênh
thang gác ngọc lầu vàng,
Có
thềm bá bảo có đăng thất trần.
Lưu
ly có đất sáng ngần,
Ma
Ni có nước trong tần chảy quanh.
Nhạc
trời có vọng thanh thanh,
Hoa
trời có vẻ xanh xanh rưới hoài.
Có
chim nói pháp hôm mai,
Có
ao bát đức có đài cửu liên.
Trang
nghiêm vô lượng vô biên,
Kể
sao cho xiết cái mười an vui.
Cảnh
kia đẹp mắt đã rồi,
Ở
trong lại có các ngôi Thánh Hiền.
Quán
Âm Thế Chí hiện tiền,
Cũng
lòng mẫn thế cũng duyên độ đời.
Cùng
nhau chung ở một nơi,
Theo
hầu bảo ngự chẳng rời hai bên.
Di
Đà đức Phật ngôi trên,
Khiến
hai Bồ Tát giúp nên duyên lành.
Quan
Âm có nguyện tâm thành,
Nghe
ai thống khổ thương tình cứu ngay.
Cứu
người có pháp rất hay,
Nước
Cam lồ chữa bệnh nay hết liền.
Oai
linh trông thấy nhãn tiền,
Xưa
kia thường trụ ở miền biển Nam.
Từ
bi mở lượng hải hàm,
Xót
thương nhân thế mà cam giúp đời.
Kìa
như đại lực chót vời,
Là
ngài Thế Chí dạo chơi cõi này.
Một
nhành sen trắng cầm tay,
Bước
chân thế giới lung lay ba ngàn.
Trên
đầu có mão kim quang,
Trong
mình như vẽ rõ ràng thiên y.
Ai
mà phát nguyện Tây qui,
Thì
ngài tiếp dẫn rước ngay đem về.
May
thay trong cõi Bồ đề,
Chúng
sanh muốn thoát sông mê khó gì.
Lại
thêm trên hội Liên trì,
Số
người thượng thiện hiếm chi hằng hà.
Cho
hay cõi Phật Di Đà,
Phong
quang khác hẳn Ta bà cõi đây.
Thiệt
là một cảnh diệu kỳ,
Thiên
đường có chút nào bì đặng đâu.
Thơm
tho trong sạch một mầu,
Sự
vui thì có sự rầu thì không.
Sống
lâu kiếp kiếp vô cùng,
Không
già không chết không vòng khổ luân.
Cởi
xong hết thảy nợ nần,
Đâu
còn có nhiễm bụi trần chút chi.
Vốn
không địa ngục A Tỳ,
Không
đường ác đạo có gì trầm luân.
Biết
bao nhờ cậy oai thần,
Đánh
tan muôn đạo ma quân rã rời.
Vậy
nên vô số ngôi trời,
Cũng
mong theo Phật đặng chơi liên trì.
Riêng
mừng cho bữa hôm nay,
Chúng
con được biết đường đi nẻo về.
———————————
—
Trích soạn theo “Văn khố Từ Bi Âm” , Hội Nam Kỳ nghiên
cứu Phật Học, Chùa Linh Sơn ấn hành , Sài Gòn, 1936
253.
SÁM VĂN CẦU PHÚC THỌ
(Sám
tán cầu an 6)
Kính
nghe thân mệnh an vui,
Ý
nguyện lòng người ước vọng,
Nếu
được tâm thần hoan hỷ,
Cầu
mong cuộc sống thanh bình.
Chúng
con một niệm kính thành,
Ngưỡng
niệm mười phương cảm ứng.
Nay
trước Phật đài kính lễ,
Lòng
thành sám hối cầu xin.
Hương
dâng một nén tâm linh,
Nguyện
cầu tăng long phúc tuệ,
Chúng
con sinh nơi trần thế,
Nghiệp
mang ở cõi Ta bà.
Mẹ
cha công dưỡng tày trời,
Đất
nước ơn sâu tựa bể,
Đời
này nhân tốt ít trồng,
Kiếp
thác duyên lành hạn chế.
Cứ
mãi vòng quanh cõi thế,
Hay
đâu tội phúc không lường,
Nay
con tới trước Phật đường,
Lễ
cầu mười phương sám hối.
Đệ
tử xiết bao lầm lỗi,
Nguyện
mong được rửa sạch làu,
Thành
tâm tha thiết khẩn cầu,
Gia
trì hướng về đường thiện.
Giập
đầu dốc lòng phát nguyện,
Ngưỡng
mong chư Phật chứng minh,
Vô
lượng thường trụ Tam Bảo,
Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni.
Dược
Sư Lưu Ly Giáo Chủ,
Đại
Bi Bồ Tát Quán Âm,
Tổ
sư Tây Thiên Đông độ,
Hết
thảy Hộ pháp Thiện thần.
Cùng
với chư thiên Bồ Tát,
Kính
nguyện mười phương chư Phật.
Chư
đại Bồ Tát Thánh Tăng,
Các
ngài đức độ cao dày.
Thể
hiện lòng thương rộng lớn,
Cúi
xin dang tay cứu vớt,
Chúng
con ra khỏi si mê,
Từ
đây thắp lên đuốc tuệ.
Phá
trừ phiền não chướng duyên,
Nương
đức từ bi độ thế,
Phúc
lành tự lợi lợi tha,
Hạnh
nguyện Bồ Tát độ sinh.
Thọ
mệnh trường sinh vui khỏe,
Quyết
tâm hướng về chính nghĩa,
Học
đòi mở rộng từ tâm,
Việc
lành nhân tốt gieo mầm.
Giáo
pháp điều hay học hỏi,
Hiện
đời phúc thọ tăng long,
Hạnh
phúc vinh quang tươi đẹp,
Tinh
tấn học cầu nếp thiện.
Văn
minh cuộc sống mạnh lành,
Xa
rời thói cũ quẩn quanh,
Buộc
ràng đã từ bao kiếp,
Con
nay chí thành phát nguyện.
Bốn
ơn ba cõi báo đền,
Chín
phẩm vãng sinh quyết định,
Nguyện
cầu thế giới hòa bình,
Pháp
giới chúng sanh an lạc.
Nam
Mô Tăng Phúc Thọ Bồ Tát Ma Ha Tát
———————————
—
Trích soạn lại theo “Sớ cầu Phúc Thọ miền Bắc.” Đồng
Bổn soạn thành sám văn 6 chữ , chùa Xá Lợi , Tp. HCM , 1998
254.
SÁM CẦU TU
(Sách
tấn tu tập 13)
Nguyện
cầu tu tập hạnh lành,
Phụng
vì cha mẹ sinh thành báo ân.
Cùng
vì khắp hết hiền nhân,
Ân
sâu nghĩa nặng trọn phần khắc ghi.
Theo
Phật giáo hóa từ bi,
Học
pháp dẫn thế cứu nguy Ta bà.
Tĩnh
tâm niệm Phật Di Đà,
Tìm
cầu giải thoát, lánh xa trược phiền.
Cầu
tu giới định sống hiền,
Thực
hành pháp Phật, tâm thiền tịnh suy.
Rõ
chánh lý, thoát mê li,
Trí
huệ dũng cảm, từ bi độ đời.
Lục
hòa thấu ý đạt lời,
Cứu
khổ, độ thoát, dẫn ngời làu thông.
Nguyện
cùng đạt trí dốc lòng,
Khắp
cùng bốn biển chung đồng hướng tu.
Rốt
ráo dứt phá mê ngu,
Tìm
cầu tịnh lạc, quả tu định, thiền.
Thực
hành sáu pháp an nhiên :
Bố
thí tài, pháp. Nhân, hiền phát tâm.
Giữ
giới tránh xa mê lầm,
Không
buông tâm ý tham tranh đua đòi.
Nhẫn
nhục – cầu với người người,
Diệt
tâm sân oán thôi gây họa, phiền.
Tinh
tấn – dũng mãnh cần chuyên,
Xây
đời cảnh Phật nhãn tiền rõ trông.
Thiền
định – cầu đạt tâm không,
Trí
huệ Bát nhã – dung thông khắp cùng.
Đại
bi, đại trí, đại hùng,
Tánh
Phật khai mở rộng lòng vị tha.
Nương
chánh đạo phá gian tà,
Thoát
mê liễu ngộ Di Đà pháp vương.
Chí
thành tâm nguyện : an nương,
Hiện
tiền cảnh Phật – thường hằng tịnh tu.
Nam
Mô Pháp Giới Tàng Thân A Di Đa` Phật (3 lần).
———————————
—
Bài sám nguyện do cư sĩ Nghiêm Thức soạn, trong nghi “Khóa
Lễ Phật” cảo bản, Tp. HCM , 1994 - PL. 2538
255.
SÁM VĂN CẦU SIÊU CHO CHA
(Sám
báo hiếu 14)
Tử
sanh giã biệt tình thâm,
Làm
sao gặp đặng kiếm tầm thấy cha ?
Ruột
đau từ đoạn thiết tha,
Con
thơ còn dại, cha đà bỏ đi !
Cháu
con sầu thảm biệt ly,
Nhìn
quanh đâu thấy dung nghi cha mình!
Than
ôi phụ tử thâm tình,
Chừng
nào gặp lại bóng hình của cha ?
Nhớ
thương đau xót thiết tha,
Cơm
dâng ba bát xin cha chứng lòng.
Tưởng
rằng hiếu thảo nối dòng,
Một
nhà sum hợp phụng rồng vui chơi.
Ngờ
đâu cha lại qua đời,
Bỏ
con côi quạnh ở nơi dương trần.
Chẳng
còn gặp lại phụ thân,
Để
con phụng dưỡng báp ân sanh thành.
Công
lao dạy dỗ học hành,
Trông
cho con đặng nên danh với đời.
Bé
thơ thương mến chẳng rời,
Chưa
nên khôn lớn cha thời bỏ con !
Nhớ
cha tấc dạ mỏi mòn,
Ân
sâu chưa trả khiến con đau lòng.
Hồi
nào chăm sóc bế bồng,
Bây
giờ cha đã ra đồng cỏ xanh !
Nuôi
con mong được trưởng thành
Mà
con chưa báo công sanh một ngày !
Nhắc
thôi lệ rớt ngắn dài,
Nhớ
thương từ phụ biết ngày nào quên.
Công
ơn chưa trả chưa đền,
Mà
nay cha đã sớm trên mây ngàn.
Lòng
con thương nhớ thở than,
Nguyện
cầu siêu độ chay đàn tụng kinh.
Ngưỡng
cầu Phật Tổ chứng minh,
Độ
vong thân phụ vãng sinh Liên trì.
Cầu
xin đức Phật A Di,
Độ
hồn giải thoát đồng qui lạc thành.
Vềâ
nơi Tịnh độ tu hành,
Hoa
sen cửu phẩm nêu danh liên đài.
Quan
Âm Thế Chí các ngài,
Tiếp
vong dẫn lối đến ngay sen vàng.
Nam
mô Tịnh độ lạc bang,
Độ
vong hồn đặng Tây phang mau về.
Nam
Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát
———————————
—
Bài được soạn từ bài sám cùng tên, trích trong “Pháp Môn
Tu Tịnh Độ.” Chùa Đại Giác ấn hành, Sài Gòn, 1974.
256.
SÁM CẦU SIÊU CÚNG THẤT
(Cảnh
tỉnh vô thường 9)
Đường
sanh tử, nối dài quá ngán,
Cõi
hồng trần, tụ tán mấy hồi,
Một
đời mau lẹ ai ôi !
Thân
người tuy có, có rồi hoàn không!
Mấy
bữa trước : ước mong lắm việc,
Ngày
hôm nay, tử biệt gia đình,
Cùng
là lối xóm bạn mình,
Bỏ
nhà xuống đất thân hình còn đâu!
Nhớ
những lúc tình sầu man mác,
Nghĩ
đến hồi lên gác xuống lầu,
Bây
giờ để thảm để sầu,
Cho
người quyến thuộc buồn rầu khóc than.
Ra
đến chỗ đồng hoang cỏ lạnh,
Với
nấm mồ hiu quạnh từ đây,
Nhớ
hồi sum hiệp vui vầy,
Bây
giờ vĩnh biệt mặt mày thấy đâu.
Nhớ
mấy lúc, canh thâu phất phưởng,
Nghĩ
đến hồi vào trướng ra màn,
Bây
giờ xa cách xóm làng,
Thân
bằng quyến thuộc họ hàng biệt tăm.
Nhớ
từ thuở ngồi nằm sớm tối,
Nghĩ
mấy hồi trao đổi tình nhân,
Bây
giờ xa cách chẳng gần,
Nỡ
đành ra ở mộ phần đồng sâu.
Ba
bảy thất, ưu sầu buồn bã,
Mãn
hai năm, mồ mả quạnh hiu,
Dù
cho tiền của có nhiều,
Cũng
không mua chuộc người yêu sống hoài.
Đã
nhiều kiếp trần ai lao khổ,
Đã
bao lần quá khổ cực thân,
Từ
đây đã dứt nợ nần,
Nương
về với Phật cảnh trần lánh xa.
Đừng
mến tiếc Ta bà uế trược,
Về
Tây phương mới được an thân,
Di
Đà, Bồ Tát được gần,
Dạy
hồn phương pháp hóa thân độ đời.
Nơi
cảnh Phật đời đời chẳng có,
Ở
trần ai mưa gió không chừng,
Tử
sanh tiếp nối chẳng ngừng,
Vô
thường chi phối không ngừng ai ơi !
Nơi
biểân ái lội bơi cũng ngán,
Giữa
sông mê phải rán lướt qua,
Quyết
lên cho khỏi bờ ma,
Về
nơi an dưỡng mới là tiêu diêu.
Ao
thất bảo có nhiều của báu,
Ngọc
xà cừ mã não bao quanh,
Kim
ngân xây bảy lớp thành,
Bảy
hàng cây báu, bảy vành lưới châu.
Nào
ngân các với kim lầu,
Có
chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe.
Nghe
rồi tỏ đạo Bồ đề,
Bao
nhiêu nghiệp chướng tâm mê giác liền.
Hồn
về Cựïc lạc ở yên,
Đến
sau trở lại hóa duyên Ta bà.
Nam
Mô Từ Phụ Thích Ca,
Độ
hồn thoát khổ thẳng qua Liên trì.
Niệm
rành sáu chữ A Di,
Nhứt
tâm niệm Phật tham si hết liền.
Nguyện
sanh về cửu phẩm liên,
Ở
nơi Cực lạc vô biên thanh nhàn.
Nam
Mô Tịnh Độ Lạc Bang,
Độ
vong hồn đặng Tây phương mau về.
———————————
—
Trích trong “Kinh Nhật Tụng,” chùa Đại Giác ấn hành, Sài
Gòn, 1974.
—
Đây là bài cải biên từ bài sám Tống táng, số 51, tập
I. Văn phong có nhiều nét mới, dễ đọc và tiện dụng hơn,
nên đưa vào để tùy độc giả lựa chọn mà tụng.
257.
SÁM KỲ SIÊU
(Sám
tán cầu siêu 18)
Trên
đài Phật chiên đàn tỏa ngút,
Dưới
chúng con cảm xúc từ đây,
Hào
quang năm sắc phủ vây,
Từ
bi tế độ, độ ngay linh hồn.
Về
an dưỡng Từ Tôn giáo hóa,
Cõi
hồng trần như lá trên cây,
Đường
sanh nẻo tử khó thay,
Có
không không có mới hay vô thường.
Nạn
nước lửa bốn phương tàn khốc,
Họa
chiến tranh chết chóc cùng nơi,
Có
thân phải khổ trọn đời,
Lại
thêm bão lụt đạn rơi thình lình.
Đời
mạt pháp, chúng sanh ít phước,
Kiếp
trần ai, vọng ước đủ điều,
Khuyên
hồn niệm Phật một chiều,
Nương
nhờ đức Phật tội tiêu tức thì.
Trước
chánh điện quy y Tam Bảo,
Nghe
câu kinh sầu não dứt liền,
Lời
thầy giáo hóa ban truyền,
Y
lời Phật dạy diệu huyền rất sâu.
Lòng
cung kính, cúi đầu gìn giư,
Dạ
chí thành, đệ tử quyết tin,
Nguyện
hồn kiến tánh tâm minh,
Về
nơi Tịnh độ hương linh an nhàn.
Chẳng
còn lúc lầm than khổ sở,
Sắc
mây lành rực rỡ hào quang,
Quan
Âm Thế Chí dẫn đàng,
Đưa
về Cực lạc muôn ngàn thảnh thơi.
Xin
nhắc nhở người đời nghe rõ,
Gắng
tin lòng mới tỏ nhơn tâm,
Báu
mầu thiệt rất uyên thâm,
Độ
vong hồn đặng thâm tâm nhẹ nhàng.
Đời
sanh tử khóc than đau khổ,
Kiếp
luân hồi khứ khứ lai lai,
Thay
hình đổi dạng hoài hoài,
Hồn
theo chư Phật về đài liên hoa.
Cõi
trần thế, thân ta không chắc,
Kiếp
phù sinh, tài sắc vọng cầu,
Linh
hồn chớ khá lo âu,
Nghe
kinh giác ngộ nguyện cầu siêu thăng.
Thỉnh
cầu Đại Đức Ni Tăng,
Tụng
kinh niệm Phật hồn đăng bửu đài.
Quan
Âm Địa Tạng các ngài,
Di
Đà giáo chủ rước ngay đem về.
Liên
đài chín phẩm hầu kề,
Tắm
ao bát đức trọn bề vãng sanh.
Nguyện
cho hồn đặng an lành,
Mau
về Cực lạc đến thành Tây phương.
Nam
Mô Địa Tạng Minh Vương,
Độ
hồn thoát ngục về đường vãng sanh.
———————————
—
Trích soạn từ “Pháp môn tu Tịnh Độ”, chùa Niệm Phật
Bình Dương ấn hành, Bình Dương, 1970.
—
Có sửa lại vài chữ ở câu đầu tiên để tránh nhầm lẫn
với bài sám Cầu Siêu I, mã số 29, Tập I đã in.
258.
SÁM CẦU SIÊU TỈNH THẾ
(Cảnh
tỉnh vô thường 10)
Tử
sanh giã biệt cuộc đời,
Huyễn
thân trả lại, về nơi mịt mờ.
Sống
thời chồng, vợ, con thơ,
Thác
thời một nấm bơ vơ ngoài đồng!
Đâu
nào gác tía lầu hồng,
Giờ
đây cách biệt núi sông ba đào.
Cái
thân là gốc khổ sầu,
Muốn
cho khỏi đọa phải mau tu hành.
Đến
khi công quả viên thành,
Mới
mong thoát khỏi tử sanh luân hồi.
Cõi
đời khổ não lắm ôi,
Khuyên
hồn niệm Phật về ngôi sen vàng.
Ở
đây biển khổ trần gian,
Sanh
già bịnh chết không an chút nào.
Kiếp
người là kiếp khổ đau,
Mày
xanh mới đó, lẹ mau bạc đầu.
Hôm
nay tang quyến khẩn cầu,
Lạy
xin chư Phật ân sâu cứu nàn.
Biệt
ly đứt ruột bầm gan,
Thân
tình quyến thuộc nát tan cõi lòng.
Ngưỡng
cầu Phật lực thần thông,
Tây
phương tiếp dẫn vong hồn bước sang.
Quan
Âm Đại Sĩ từ hàng,
Lòng
bi cứu khổ muôn vàn chúng sanh.
Đức
ngài Địa Tạng U Minh,
Xả
thân vào chốn ngục hình độ vong.
Đạo
sư Thái Thượng tiên ông,
Luyện
trường sanh dược cũng không thọ dài.
Kìa
ông Bành Tổ sống đời,
Tám
trăm tuổi thọ cũng thời tiễn đưa.
Thích
Ca Thái tử thuở xưa,
Nghiệm
xem tứ khổ nắng mưa vô thường.
Nửa
đêm lén trốn phụ vương,
Lìa
con bỏ vợ tìm phương tu hành.
Ẩn
nơi tịch mịch non xanh,
Sáu
năm khổ hạnh lưu danh muôn đời.
Ta
bà giảng đạo khắp nơi,
Bồ
đề ngồi gốc làm nơi tham thiền.
Đến
ngày tứ đại mãn duyên,
Cũng
theo định luật tịch viên Niết bàn.
Cho
hay hoa nở cũng tàn,
Pháo
nào kêu lớn lại tan xác nhiều.
Giàu
sang sung sướng đủ điều,
Vui
đây, khổ đó, ái yêu giả trò.
Cuộc
đời như thể bến đò,
Kẻ
qua người lại đắn đo khổ sầu.
Chi
bằng tìm chốn đạo mầu,
Tu
hành giải thoát nguyện cầu lợi tha.
Noi
gương Từ phụ Thích Ca,
Dắt
dìu nhân loại Ta bà trầm luân.
Độ
đời bá tánh vạn dân,
Cứu
hồn hoạnh tử hóa thân liên trì.
Cầu
ngài giáo chủ A Di,
Độ
hồn nam nữ đồng qui lạc thành.
Ở
yên mát mẻ tu hành,
Xa
lìa hầm lửa vô sanh đời đời.
Phá
tan địa ngục khắp nơi,
Kíp
nghe kinh kệ chiều mơi an nhàn.
Thành
tâm nương chốn đạo tràng,
Chuông
khuya mõ tối độ an vong hồn.
Nam
mô cứu khổ Bổn tôn,
Xá
tội vong giả ngục môn xa rời.
Hiện
thân lễ Phật trọn đời,
Ba
đường tám nạn khỏi nơi luân hồi.
Nguyện
cho tất cả muôn loài,
Đồng
lên bến Giác liên đài kết hoa.
———————————
Soạn
phỏng theo bài sám cùng tên in trong “Pháp môn tu Tịnh Độ”
trang 347-350, chùa Niệm Phật, Bình Dương , 1974
—
Nguyên tác bài cũ đoạn đầu là sự lắp ghép cải biên từ
bài Sám tống táng số 51 và đoạn cuối là sự trùng lặp
từ các bài nguyện Tịnh Độ. Không đủ giá trị để phổ
biến, nên phải soạn rút lại cho có chất lượng.
—
Người soạn lại : Chiêu Đề, tháng 8/1997.
259.
BÀI TỐNG CHUNG (*)
(Cảnh
tỉnh vô thường 11)
Thái
Không Pháp Sư
Nhớ
lời Phật Tổ dạy rằng,
Đời
người chớp nhoáng như lằn điển quang.
Thân
người giả hợp rồi tan,
Lao
xao bọt nước mơ màng chiêm bao.
Nặng
mang những nghiệp trần lao,
Loanh
quanh ba cõi lao xao sáu đường.
Đã
sanh vào cõi vô thường,
Nào
ai tránh khỏi con đường tử sanh.
Bầu
trời lồng lộng xanh xanh,
Xây
mưa, trở nắng tan tành gió mây.
Mênh
mông đất nước nặng dày,
Cồn
dâu, bể thẳm lưng đầy chiều mai.
Kể
từ vô thỉ dĩ lai,
Đến
đời mạt pháp là ngày hôm nay.
Biết
bao tan xác rã thây,
Biết
bao những nấm mả lài mồ hoang.
Phật
xưa trượng sáu mình vàng,
Mãn
duyên còn phải Niết bàn hóa thân.
Tiên
gia như Lý Đạo Quân,
Đến
ngày vỏ hóa, hình thần cũng tan.
Tam
hoàng Ngũ đế Thánh nhân,
Nào
ai giữ được xác thân đời đời.
Hạng
Vương khuấy nước chọc trời,
Tám
ngàn tử đệ còn người nào đâu?
Thủy
Hoàng bạo ngược tóm thâu,
Tràng
thành giữ được bao lâu vững bền.
Trọng
Ni thất thập nhị hiền,
Tam
thiên đồ đệ hiện tiền còn ai ?
Tám
trăm tuổi số thật dài,
Mà
nay Bành Tổ mặt mày là đâu ?
Băm
hai tuổi trẻ xanh đầu,
Thầy
Nhan Uyên có van cầu được thêm.
Lang
thang tơi tả áo xiêm,
Tăng
Sâm, Yến Tử có bền gì ru !
Giàu
như Ỷ Đốn, Đào Châu,
Thạch
Sùng, Vương Khải há mua vô thường.
Thánh,
Tiên, trời, đất giang sơn,
Noãn,
thai, thấp hóa sáu đường cũng tan.
Than
ôi cuộc thế ngỡ ngàng,
Não
nùng chết khổ, lỡ làng sống vui.
Nếu
ba hơi thở tắt rồi,
Mưa
tuôn cỏ lợp đất vùi nắng phơi.
Nào
người hống hách rùm trời,
Xiêm
rồng mão phụng chói ngời trên ngai.
Ba
ngàn hổ bái kim giai,
Hầu
trong mỹ nữ, vệ ngoài trảo nha.
Ngày
nay gió táp mưa sa,
Rêu
phong mặt đất đốm lòa đầu cây.
Nào
người Bắc phạt chinh Tây,
Binh
hùng dậy đất gió bay lộng trời.
Thanh
gươm mũi sóc sáng ngời,
Máu
tuôn thành bể thây phơi chật đồng.
Ngày
nay tuyết phủ sương lồng,
Véo
von giọng dế, não nùng tiếng quyên.
Nào
người thẻ ngọc bài huyền,
Gia
phong cửu tích, chưởng quyền tam công.
Tới
lui kiệu phụng xe rồng,
Linh
đình nghìn tứ, chập chồng muôn chung.
Ngày
nay khói tỏa rêu phong,
Sớm
soi gương thỏ, chiều dòm bóng ô.
Nào
người trướng ngọc giường ngà,
Châu
hài nghìn khách, kim thoa mấy hàng.
Ê
chề hải vị sơn trân,
Thóc
tiền hàng triệu, ngọc vàng dư muôn.
Ngày
nay quạnh quẽ bên truông,
Bóng
lau âm ỉ tiếng người nỉ non.
Nào
người gác tía lầu hồng,
Tay
tiên đơm ngọc gót sen rải vàng.
Mái
mây rẽ ngút mai trang,
Phấn
tô vóc liễu gấm choàng mình mai.
Ngày
nay một nhúm mộ lài,
Vỉ
lau hiu hắt mấy ai tưởng tình !
Nào
người đổ nước nghiêng thành,
Sóng
xao biển bạc, gương nhìn non xuân.
Bóng
Nga nhẹ tách Quảng Hàn,
Lừ
đừ cá ngắm, rập ràng nhạn sa.
Ngày
nay biềm sắn giắt gia,
Líu
lo chim hót rườm rà cỏ đơm.
Âu
sầu nắng sớm mưa hôm,
Nào
ai hương khói dưng đơm ít nhiều.
Quạnh
hiu hiu quạnh đến điều,
Thê
thê thảm thảm chín chiều bâng khuâng.
Xót
thay cho lẽ tuần hoàn,
Còn
còn mất mất xoay vần như xe.
Gẫm
đường sống thác mà ghê,
Sớm
sanh chiều diệt ai dè vậy vay !
Hồi
nào giao mặt bắt tay,
Ái
ân dan díu những ngày bén duyên.
Bây
giờ rẽ thúy chia quyên,
Bỗng
dưng dương cảnh hoàng tuyền cách xa.
Hồi
nào mẹ mẹ cha cha,
Ngày
nay một nắm cỏ hoa dãi dầu.
Ôi
thôi nghĩa nặng cù lao,
Ơn
sâu thăm thẳm trời cao khôn cùng.
Hồi
nào cháu cháu ông ông,
Ngày
nay phân cách xa trông biệt ngàn.
Chạnh
niềm cây cội nước nguồn,
Đã
đành u hiển hai đường lạnh tanh.
Hồi
nào như lá liền cành,
Ngày
nay cốt nhục tan tành rụng rơi.
Ngẩn
ngơ chiếc nhạn bên trời,
Tích
linh lịu dịu rã rời bơ vơ !
Hồi
nào điểm cúc vây cơ,
Ngày
nay nước chảy hửng hờ non cao.
Bâng
khuâng mai úa liễu xàu,
Gương
treo bóng xế mây rào vườn xuân.
Than
ôi cuộc thế xoay vần,
Hợp
tan tan hợp mấy lần từ xưa.
Than
ôi tạo hóa khéo lừa,
Bày
chi cái chết không chừa một ai ?
Than
ôi giấc mộng muôn đời,
Biết
bao nhiêu khách dạ đài say vui.
Hỡi
vong ôi ! Hỡi hồn ôi !
Bao
nhiêu nợ thế trả rồi thế thôi !
Rửa
lòng cho sạch trần ai,
Lưỡi
câu dục lạc, miếng mồi lợi danh.
Tránh
xa cái cửa tử sanh,
Thoát
nơi tham ái, khỏi thành sân si.
Bước
vào trong cửa từ bi,
Nương
theo chơn Phật trở về Liên bang.
Khỏi
đường sống chết xây lăn,
Khỏi
điều khổ thống khỏi thân tội tình.
Liên
bang là nước hóa sanh,
Có
ao tám đức có sen bốn màu.
Có
cây ngọc có lưới châu,
Có
thành thất bảo có lầu thất trân.
Sáu
thời thiên nhạc vang rân,
Màu
hoa chói rạng mùi hương nực nồng.
Tốt
thay thế giới vàng ròng,
Bảy
hàng bửu thụ, chín trùng liên hoa.
Đạo
sư là Phật Di Đà,
Mình
vàng rực rỡ chói lòa hào quang.
Hằng
ngày thuyết pháp rền vang,
Tiếp
người niệm Phật dẫn đàng thiện duyên.
Hồn
ôi hồn có linh thiêng,
Phát
tâm niệm Phật mà nguyền vãng sanh.
Thành
tâm phát một nguyện lành,
Hoa
sen vàng đã nêu danh tánh rồi !
Căn
lành cội phúc vun bồi,
Mượn
thuyền lục độ để hồi hướng qua.
Mãn
duyên sen nở một tòa,
Rước
hồn có Phật Di Đà phóng quang.
Muôn
trùng bửu cái tràng phan,
Lư
hương khói tòa sen vàng hoa đơm.
Hiện
thân Thế Chí, Quan Âm ,
Vô
biên Bồ Tát thiên trùng Thánh Tăng.
Hồn
ngồi trên tọa sen vàng,
Nhạc
tâu hoa rải vinh quang ai tày.
Đến
nơi quỳ trước Liên đài,
Vâng
lời thọ ký nghe bài pháp âm.
Nhiệm
mầu Phật pháp cao thâm,
Linh
quang sáng suốt chân tâm tỏ tường.
Dạo
xem cảnh giới Tây phương,
Đơm
hoa Bát nhã xông hương ngũ phần.
Chói
ngời cây ngọc lá vàng,
Mưa
sa hoa báu gió đàn mành châu.
Bạch
hạc trước, Khổng tước sau,
Ca
lăng, Anh võ... chầu hầu nghiêm trang.
Kêu
lên những tiếng dịu dàng,
Tám
phần chánh đạo, bảy phần giác chi.
Thâm
trầm những tiếng từ bi,
Nhiệm
mầu không thể nghĩ suy luận bàn.
Nghe
ra ai cũng phát tâm,
Nguyện
sanh với bực thượng căn một nhà.
Mạn
đà rải rác mưa sa,
Nhạc
trời chập thổi diệu hòa rền vang.
Gió
khua cội báu như đàn,
Đồng
thời in rập muôn phường nhạc tâu.
Những
cây báu những lưới châu,
Những
đài hổ phách những lầu ma ni.
Gác
mã não, tọa lưu ly,
Chiên
đàn trầm thủy xông nghi ngút mùi.
Mỗi
tòa trên có mỗi ngôi,
Màu
phù đàn, Hóa Phật ngồi nghiêm trang.
Mi
gian phóng bạch hào quang,
Đôi
tròng trong trẻo mình vàng sáng trưng.
Chói
ngoài tám vạn do tuần,
Mỗi
tia lại có một vầng hoa sen.
Mỗi
hoa một thế giới riêng,
Nước
tên Cực Lạc, Phật tên Di Đà.
Cũng
hóa Phật cũng Liên tòa,
Cũng
đồng thuyết pháp diệu hòa cao sâu.
Vô
vi pháp Phật nhiệm mầu,
Hóa
sanh cơm ngọc áo châu đủ mùi.
Rảnh
rang hưởng sự rất vui,
Những
điều ác thú, luân hồi vốn không.
Làu
làu chân tánh sạch trong,
Tinh
tường muôn kiếp tỏ thông ba đời.
Ngộ
lòng thường trú không dời,
Bao
trùm tất cả đất trời đại thiên.
Bấy
giờ vận dụng phép huyền,
Từ
chơn lại tục tùy duyên hiện hình.
Phân
tâm tùy thuận chúng sanh,
Ra
vào khắp cõi Khí, Tình thế gian.
Rải
gieo hột giống sen vàng,
Cứu
đời ác trược vớt đoàn trầm mê.
———————————
—
Nguyên tác của Hòa Thượng Thái Không soạn, Hòa Thượng Khánh
Anh chép lại trong “Phật hoá gia đình” trang 79-85. Nhà in
Sao Mai ấn bản, Sài Gòn, 1951. Thư viện Phật học Xá Lợi
tàng bản.
—
Sao y nguyên văn, không có sửa đổi.
(*)
Bài này nguyên đã có ở quyển I, bài số 46, tựa là Kệ
Vô Thường. Tuy nhiên trong bài đó đã được người sau rút
ngắn để làm bài sám thường tụng phổ thông. Ở đây sở
dĩ biên giả cho đăng vào là có ý lấy đầy đủ tác phẩm,
dài gấp 3 lần bài sám 46.
260.
SÁM NGUYỆN HƯƠNG LINH
(Sám
tán cầu siêu 19)
Cuộc
trần lắm nỗi vần xoay,
Còn
mất, ảo hóa ; rủi thay sự thường.
Nay
linh cảnh sống thôi vương,
Tìm
nơi tịnh lạc an nương tâm mình.
Lễ
cầu hướng Phật siêu linh,
Lòng
thành mượn nén hương tinh khấn nguyền.
Cầu
linh niệm đạo cần chuyên,
Xa