THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
cMỤC LỤC SÁM PHÁP
TUYỂN TẬP CÁC BÀI SÁM VĂN - TẬP VI
 55 BÀI SÁM VĂN PHỤ LỤC
Thích Đồng Bổn Sưu Tập
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội  - Phật lịch 2548 - DL 2004
PHẦN III
SÁM VĂN CẦU AN CẦU SIÊU
CHẨN BẠT CÔ HỒN

 


298. Sám Tu Tập 
299. Sám Thập Phương Nghĩa (6)
300. Sám Thập Phương Nghĩa (7)
301. Sám Nhứt Tâm Nghĩa (6)
302. Sám Mười Ân Đức Sinh Thành
303. Kệ Độ Vong Đội Cầu 
304. Sám Khóc Cha 
305. Sám Hồng Trần 
306. Văn Cúng Nhà Thờ Gia Tiên 
307. Văn Tống Tiễn Vong Linh 
308. Văn Tế Liệt Sĩ Anh Hùng
 

298- SÁM TU TẬP 
(Sách Tấn Tu Tập 19)

Cúi đầu đảnh lễ Như Lai, 
Cha lành của khắp vạn loài chúng sinh. 
Cùng chư Bồ-tát quang minh, 
Tâm từ soi sáng hữu tình trầm luân. 
Chúng con cùng các quyến thân, 
Người còn kẻ mất người gần kẻ xa, 
Từ nay quy mạng Phật-đà 
Học theo chánh pháp cùng là Thánh Tăng. 
Hiểu rằng cuộc sống thế nhân, 
Vây quanh sóng khổ, bủa giăng gió sầu, 
Dù rằng nghèo khổ sang giàu. 
Kẻ nào khỏi khóc, người nào khỏi than. 
Khi thì hợp, khi thì tan, 
Lúc say quyền quý, lúc chan tủi sầu. 
Những cơn bệnh hoạn đớn đau, 
Những lần tử biệt biết bao nỗi buồn. 
Lệ nhiều hơn nước mưa tuôn, 
Máu nhiều hơn nước trên nguồn đổ xuôi. 
Người đời gắng gượng tìm vui, 
Trò chơi hư ảo chôn vùi tâm linh. 
Nào là rượu, nào là tình, 
Xong rồi nhìn lại thấy mình tội thêm. 
Nỗi lo của kẻ đi đêm, 
Biết mình nặng nghiệp chưa tìm lối ra. 
Nay con sám-hối Phật-đà, 
Ăn năn lỗi trước, ngăn chừa lỗi sau. 
Hiểu rằng nguyên cớ khổ đau 
Đều do ích kỷ gốc sâu tạo thành. 
Tham lam dẫn đến tranh giành, 
Hận thù dẫn đến nhục hình lẫn nhau. 
Kiêu căng tự đại tự cao, 
Hơn thua đố kỵ người nào giỏi hơn. 
Chìm trong bóng tối chập chờn, 
Si mê chấp ngã nặng hơn núi cồn. 
Lang thang ngàn kiếp trầm luân, 
Khổ đau chất lại vạn lần biển khơi. 
Nay con quỳ dưới Phật đài, 
Nguyện theo giáo pháp Như Lai nhiệm  mầu. 
Niết-bàn, lòng nguyện tin sâu, 
Là nơi chấm dứt khổ đau luân hồi. 
Vượt ngoài ba cõi ngàn đời, 
Từ bi trí giác rạng ngời vô biên. 
Hiểu rằng nhân quả nghiệp duyên, 
Công bằng chi phối mọi miền thế gian. 
Người sung sướng, kẻ lầm than 
Đều do nghiệp trước cưu mang đến giờ. 
Nên không yên lặng đợi chờ, 
Mà lo gắng sức giúp cho mọi người. 
Người vui là chính con vui, 
Người buồn con cũng ngậm ngùi xẻ chia. 
Hiểu rằng một sớm mai kia, 
Xác thân tạm bợ trở về hư vô. 
Nên không khờ dại tôn thờ 
Cái mà bệnh chết sẽ chờ lấy đi. 
Nay còn sức khỏe xuân thì 
Khéo siêng làm phước dành khi trở về. 
Hiểu rằng ngàn kiếp si mê, 
Tham lam ích kỷ nặng nề âm u. 
Nay theo Phật, Đấng Đại Từ, 
Trái tim xin mở rộng như biển ngàn. 
Thương yêu khắp cả thế gian, 
Dù là kẻ oán người thân cũng đồng. 
Nơi cõi sống, chốn tử vong, 
Rừng cây chim thú, biển sông cá kình. 
Nguyện lòng thương khắp chúng sinh, 
Như thương quyến thuộc thâm tình đã lâu. 
Từ nay mãi đến ngàn sau, 
Sống vì tất cả, chẳng cầu riêng tư. 
Hiểu rằng ba cõi ngục tù, 
Thân là cát bụi, tâm là bóng mây. 
Từ lâu như kẻ ngủ say, 
Si mê chấp ngã chưa ngày thoát ra. 
Cúi đầu đảnh lễ Phật-đà, 
Bậc Thánh Vô Ngã vượt xa thế trần. 
Vì không còn chấp ngã nhân, 
Người thành Vũ Trụ, Người thành trăng  sao. 
Tâm Vô Ngã là đỉnh cao, 
Con xin phát nguyện ngày nào chứng nên. 
Chí tu học quyết vững bền, 
Độ sinh vì Phật báo đền ơn sâu. 
Hôm nay tha thiết nguyện cầu, 
Xin đem công đức từ lâu đã làm, 
Hướng về thế giới cõi âm, 
Dành cho thân quyến còn cầm tại đây. 
Mong sao cho những vị này 
Nương nhờ Phật lực về ngay cõi lành. 
Thân an lạc, trí hiển minh, 
Được chư Bồ-tát chung quanh dắt dìu. 
Tu theo Phật pháp cao siêu, 
Dần dần thành tựu những điều lớn lao. 
Tâm siêu thoát khỏi trần lao, 
Bước vào Phật địa, dự vào Thánh lưu. 
Rồi dùng hạnh nguyện đại từ, 
Hóa thân ba cõi vân du sáu đường. 
Gieo chánh pháp đến ngàn phương, 
Đưa người mọi nẻo về nương Phật-đà.

-----------------
-  Trích  trong phần kinh sám, website Đạo Phật Ngày Nay. Thích Nhật Từ biên soạn. 

299- SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA
(Sám Thập Phương 6)

Ba đời cõi Phật mười phương,
Di Đà đệ nhất không lường hóa thân.
Bông sen chín phẩm độ trần,
Vô cùng Phật lực oai thần đại bi.
Con nay sám hối quy y,
Dứt trừ ba nghiệp sân si hết liền.
Làm lành làm phước cầu nguyền,
Chí tâm hồi hướng tham thiền chánh chơn.
Tu hiền báo tứ trọng ơn,
Một lòng nguyện niệm Phật nhơn đường đời.
Tưởng hoài cảm ứng tùy thời,
Ngày giờ biết trước tắt hơi chỉnh tề.
Mục tiền cõi Phật dựa kề,
Thấy nghe tinh tấn sanh về Tây phang.
Phân minh thấy Phật rõ ràng,
Liễu đường sanh tử thanh nhàn bình yên.
Như Lai độ khắp chơn truyền,
Vô biên phiền não độ liền tịnh thanh.
Pháp môn vô lượng tu hành,
Thề nguyền độ hết chúng sanh Ta bà.
Đều nên Phật đạo hằng sa,
Hư không tan hết nguyện ta vô cùng.
Có tình cùng chẳng thung dung,
Đồng gieo giống trí tâm trung tịnh bình.
Một là lễ Phật kỉnh tin,
Lóng nghe thấy Phật tánh linh tỏ tường.
Hai là Phật ở mười phương,
Ngợi khen tán thán Pháp vương Di Đà.
Ba là phụng hiến thân ta,
Dâng hương lạy Phật bông hoa cúng dường.
Bốn là nghiệp báo vấn vương,
Ăn năn sám hối dứt đường yêu tinh.
Năm là công đức của mình,
Vui lòng tùy hỷ phân minh vừa chừng.
Sáu là thỉnh chuyển Pháp luân,
Thành tâm lễ bái vui mừng cầu xin,
Bảy là thỉnh Phật hết tình,
Trụ nơi trần thế giảng kinh độ đời.
Tám là Phật tử hiện thời,
Thường tùy Phật học khắp nơi tu hành.
Chín là hòa thuận chúng sanh,
Tùy duyên hóa độ nên danh Phật đường.
Mười là Phật tử hồi hương,
Khắp nơi thành Phật, Tây phương mau về.

---------------
-  Trích trong kinh “Vu Lan Bồn, Di Đà & Phồ Môn”, Ban Hộ tự chùa Từ Quang ấn tống, Huế, Pl. 2513 -  Dl. 1969.
  
300- SÁM THẬP PHƯƠNG NGHĨA
(Sám Thập Phương 7)

Mười phương cõi Phật ba đời,
Di Đà thứ nhứt độ nơi phàm tình.
Sen vàng chín phẩm hóa sinh,
Không cùng oai đức hư linh nhiệm mầu.
Con nay kính ngưỡng vọng cầu,
Sám trừ ba nghiệp rộng sâu thuở giờ.
Bao nhiêu công đức góp chờ,
Nguyện đem hồi hướng kính thờ chẳng  quên.
Đồng cùng thiện hữu ghi tên,
Tùy thời ứng hiện cảm nên hạnh lành.
Lâm chung thánh cảnh tịnh thanh,
Rõ ràng trước mặt ai đành chẳng tu.
Thấy nghe đều thảy cần cù,
Nguyện về Cực lạc ngao du liên đài.
Phật cùng Bồ tát các loài,
Mở bày diệu pháp ngày ngày luyện trau.
Thoát vòng sanh tử tiêu dao,
Trọn nên quả Phật mảy nào thoát ly.
Bụi trần phủi sạch tham si,
Muôn vàn chánh pháp từ bi học làu.
Ta bà trở gót ra vào,
Độ người mê khắp liên bào thoát sanh.
Hư không tan nát đã đành,
Nguyện con rộng lớn tâm lành bao dung.
Nước non cát bụi không cùng,
Những loài máy cựa cùng chung một thành.
Nguyện con tròn trí vô sanh,
Tiếp thêm nguyện cả mười lành sau đây :
Phổ Hiền hạnh nguyện khắp đầy,
Nay con khẩn thiết vui vầy nguyện theo.
Một là, kỉnh Phật tuân theo,
Giàu nghèo phủi sạch, nạn eo không sờn.
Hai là, khen ngợi Phật ơn,
Có không, còn mất thế nhơn chẳng bì.
Ba là, rộng khắp tứ vi,
Bông rau, quả vị, hương nghi cúng thờ.
Bốn là, sám hối lẫn lơ,
Tham sân si ái hừng hờ tạo ra.
Năm là, tùy thuận vui hòa,
Người lành, kẻ dữ chúng ta rộng vì.
Sáu là, nguyện Phật từ bi,
Xoay vần chánh pháp kịp thì độ sanh.
Bảy là, nguyện Phật ban lành,
Cứu dân độ thế đến thành Lạc bang.
Tám là, học Phật lời vàng,
Sửa mình độ chúng thuận an tánh lành.
Chín là, tùy thích nhơn sanh,
Vui lòng, đẹp cảnh, lợi danh sá gì.
Mười là nguyện khắp chu kỳ,
Đài vàng rực rỡ phương phi trọn lành.
Hạnh lành mười nguyện độ sanh,
Phật đà bổn thệ, quốc thành độ con.
 
 
 
 

--------------
-  Trích trong « Kinh Nhựt Tụng », chùa Đại Giác ấn hành, tr. 149 - 151 phụ trang, Sài Gòn, 1974
-  Là bài cải biên từ Sám Thập phương nghĩa bài số 36, chưa rõ xuất xứ. 

301- SÁM NHỨT TÂM NGHĨA
(Sám Nhứt Tâm 6)
 

Một lòng nương cậy Như Lai,
Về nơi Lạc quốc liên đài hóa sanh.
Di Đà Phật chứng lòng thành,
Phóng quang tiếp dẫn dân lành đưa sang.
Đức từ rộng độ muôn vàn,
Con nay chánh niệm một đàng lo tu.
Dứt lòng phiền não âm u,
Cầu nên Thánh đạo học tu pháp mầu.
Thọ trì Phật hiệu thâm sâu,
Nguyện về Tịnh độ khỏi câu luân hồi.
Phật xưa bổn thệ xong rồi,
Hóa đài sen báu chín ngôi rạng ngời.
Như Lai tín ngưỡng một nơi,
Chí tâm phát nguyện không rời Phật danh.
Hoặc là mười niệm đành rành,
Lòng không loạn động, ‎ý gìn không sanh.
Chẳng về trong nước tịnh thanh,
Ta không thành Phật, mới đành nguyện ta.
Nhơn duyên lời Phật thốt ra,
Nguyện về Tịnh độ thật là chẳng sai.
Chúng sanh lành dữ chẳng ai,
Nương nhờ đức Phật tội tai sạch mòn.
Lòng thành thêm lớn thêm tròn,
Đến khi báo mãn, lòng son rõ ràng.
Biết mình gần đến Lạc bang,
Ngày giờ dặn nói lòng an tánh thuần.
Thân không bệnh khổ gian truân,
Thuốc thang mê sảng lẫy lừng như ai.
Chỉ ròng một niệm thanh trai,
Chờ khi Phật phóng liên đài rước sang.
Các hàng Bồ tát đưa đàng,
Một trong giây phút Tây phang đồng về.
Hoa khai thấy Phật gần kề,
Nghe lời Phật giảng rộng bề huệ căn.
Hóa nên đức Phật sai hoằng,
Vô sanh bất thối, sánh bằng thánh Tăng.
Ta bà trở gót phăng phăng,
Bồ đề mãn nguyện tâm đăng rạng ngời.
Phước lành độ khắp nơi nơi,
Rước về Lạc quốc đời đời vui an.
Quí thay thấy bóng san vàng,
Ở trong chín phẩm Tây phang rước về.
 
 
 
 

------------------
-  Trích “Kinh Nhựt Tụng”, chùa Đại Giác ấn hành, Sài Gòn, 1974.
-  Là bài sám cải biên từ bài sám Từ Vân, mã số 35 (Nhứt Tâm Nghĩa I). Chưa rõ soạn giả diễn nghĩa.

302- SÁM MƯỚI ÂN ĐỨC SINH THÀNH
(Sám Báo Hiếu 15)

Nghiệp lực dẫn chúng sanh
Gá vào trong thai mẹ
Cưu mang chín tháng trời
Khổ đau không trách kể.
Hoài thai như mang đá
Thương con ngại gió mưa
Áo quần không sửa soạn
Son phấn chẳng còn ưa!
(Ân đức thứ 1)

Đến đầu tháng thứ mười
Lòng mẹ lo khôn tả
Ngày tợ hoàng hôn rồi
Đêm đau sầu bao nả.
Khiếp hãi bởi lo âu
Âm thầm dòng lệ chảy
Tử thần phút đối đầu
Mong sao cho thoát khỏi.
(Ân đức thứ 2)

Ngay giây phút sinh nở
Ruột gan mẹ tả tơi
Đớn đau trong mê sảng
Ôi máu huyết dầm dề!
Khi biết con "ra" khỏe
Mẹ vui mừng khôn nguôi
Niềm vui vừa chợt đó
Chấp nối nỗi lo rồi.
(Ân đức thứ 3)

Tình mẹ thật sâu nặng,
Thương con nào nhạt phai.
Nhả ngọt không tiếc nuối,
Nuốt đắng nào chua cay.
Thương con càng sâu đậm,
Sầu bi tăng đêm ngày.
Miễn sao con no ấm,
Đói khát chẳng nguôi ngoai!
(Ân đức thứ 4)

Mẹ nhường khô nằm ướt
Để cho con ngủ say
Đôi vú no con bú,
Nâng niu suốt đêm ngày.
Thương con quên ngủ nghỉ,
Tình thương ấm con tim.
Mong sao con yên ổn,
Lòng mẹ hiền mới yên.
(Ân đức thứ 5)

Ân mẹ hiền hơn đất,
Đức cha nghiêm quá trời.
Chở che con nào quản,
Cha mẹ chẳng tính lời.
Dù sanh con tàn tật
Cha mẹ vẫn thương con.
Con sinh từ cha mẹ,
Sao đổi dạ quên Người?!
(Ân đức thứ 6)

Nào quản thân phận mình
Chỉ sợ con bệnh tật
Tắm rửa lo vóc hình
Để con luôn khỏe mạnh.
Sắm áo đẹp cho con
Cũ rách riêng mình chịu
Mỗi khi con ấm lòng
Lòng mẹ mới xoa dịu!
(Ân đức thứ 7)

Khi sanh ly tử biệt
Đau đớn biết dường nào
Thương con mà xa vắng
Lại càng khổ biết bao.
Con đi đường xa cách,
Lòng mẹ bóng theo hình.
Phút giây không yên dạ
Thương nhớ đến đoạn trường.
(Ân đức thứ 8)

Cuộc sống đầy lao khổ
Kế sanh nhai rối bời
Vì muốn con no ấm
Việc ác khó chối lời.
Cơm áo cho con sống
Nuôi nấng, dựng tương lai
Chỉ vì con ngon miệng
Mẹ chiên nấu bao loài.
(Ân đức thứ 9)

Ân cha hơn núi lớn
Nghĩa mẹ hơn đất dày
Hy sinh lòng chẳng quản
Mà vẫn không nguôi ngoai.
Mẹ già hơn trăm tuổi
Vẫn thương con tám mươi.
Tình thương nào ngơi nghỉ,
Đến hơi thở cuối đời!
(Ân đức thứ 10)
 
 
 
 
 

-----------------
-  Trích trong  “Kinh Báo Ân Cha Mẹ”, Thích Nhật Từ biên soạn, đăng trên website Đạo Phật Ngày Nay.
-  Nguyên tựa là : “Mười ân đức của hai đấng sinh thành”

303- KỆ ĐỘ VONG ĐÔI CẦU
(Sám Cầu Siêu 20)

Khoan khoan gót ngọc tới thềm hoa
Ngắm cảnh xem chơi cảnh mặn mà
Lối nghĩa đương nhân tầy mấy núi
Lòng vàng dạ ngọc vững tâm ta
Xênh xang gậy trúc chừng bao độ
Đủng đỉnh ngày xuân mấy bạn già
Miệng niệm Nam Mô lòng tưởng những
Đường sang Cực lạc đó không xa.
Khuyên người niệm Phật với ta
Cùng sinh nước Phật thật là vui thay
Tay cầm trăm tám hạt này
Hằng hà sa kiếp tội đầy sạch không
Bảo nhau mà niệm cho đông
Hoa sen thoát hóa bỏ công chuyên trì
Nương nhờ được cửa Từ bi
Khấu đầu lễ Phật, quy y tham thiền
Mới là Phật độ hữu duyên
Cầu cho mãn quả đầy thuyền là hơn
Song tuyền thề bể nguyền non
Đã giàu sang lớn lại con cháu nhiều
Cầu cho một tuổi một cao
Công thành danh toại sống lâu mệnh dài
Phát tâm thí thực thí tài
Rộng ơn cứu vớt những loài cô đơn
Thương thay những kẻ cô thân
Đồng tiền bát gạo tùy tâm gọi là
Bạn già như con một nhà
Lâm chung hộ niệm để mà cứu nhau
Kể chi kẻ khó người giàu
Nương nhờ Phật tổ một màu quy y
Vượt qua bể khổ sông mê
Bụi trần rũ sạch về quê thanh nhàn
Tầm thanh có đức từ nhan
Có tòa tư mệnh có quan giám cầu
Thích Ca văn Phật đứng đầu
Kim thằng dẫn lộ thần tiêu bảo đường
Lánh nơi hắc sát Quỷ vương
Khỏi thần tam độc nhiễu nhương sự gì
Trong tay sẵn điệp Bồ đề
Tội khiên rữa nước dương chi sạch làu
Loan xa hạc giá trước sau
Thanh văn Duyên giác rước vào châu cung
Thiện nhân náo nức đều cùng
Lục thù áo mặc vẫy vùng nghiêm trang
Rợp trời bảo cái tràng phan
Qua ngàn giác đạo lại sang Tây cù
Chi viên Thứu lãnh cùng su
Giao trì hạ giới ngao du đi về
Lắm con nhiều cháu đề huề
Chi lan ngào ngạt phúc về phụ nhân
Chẳng nề quý tiện phú bần
Có đức Phật độ chẳng thân người nào
Chị em ta giải Phật cầu
Tiếp linh hồn tới mà chầu từ nhan
Thiện tài  đi trước cầm phan
Địa Tạng Bồ tát mở đường siêu thăng
Quy Phật quy Pháp quy Tăng
Hành vân giá vũ đồng đăng liên đài
Ngửa trông hiền thánh Phật trời
Các già ta niệm mấy lời Nam mô
Chúc cho hồn được yên mồ
Tứ sinh lục đạo tam đồ được qua
Con con cháu cháu đề đa
Thượng mục hạ hòa như thể Thuấn Nghiêu
Dặn hồn đủ cả mọi điều
Hộ cho các lão những điều vinh hoa
Nam mô đức Phật Di Đà.

----------------
*  Bài do Hòa thượng Thích Tuệ Tạng (Tổ Cồn) soạn vào khoảng năm 1930, sao lục từ “Kinh Nhật Tụng” của Thiều Chửu, nxb Tôn Giáo ấn hành, Hà Nội 2002 .

304- SÁM VĂN KHÓC CHA
(Sám báo hiếu 14)
TỐNG TRẦN HÀM

Ngao ngán cuộc đổi thay dâu bể,
Rụng rời cơn chia rẽ âm dương,
Làm cho đau đớn thảm thương,
Vừa đây sao  đã đoạn trường, hỡi ơi !
Ra trước án, gối quì miệng khóc,
Cảm thương cha, kính đọc bài này :
Cha ơi ! Cha hỡi ! Có hay !
Linh hồn xin giáng về ngay linh sàng !
Hoặc cha ở nơi miền Cực lạc,
Xin Phật ân cưỡi hạc kíp về !
Hoặc nơi Địa ngục âm ty,
Xin đức Địa Tạng hộ trì cho lên !
Hoặc phảng phất trong đền Yển Tức (1)
Cúi xin cha rảo bước nhanh chân,
Để con khấn vái ân cần,
Bà con thân thích xa gần viếng thăm.
Chén rượu nhạt, tay cầm, tay rót,
Mâm cỗ xoàng, giống ngọt, giống chua,
Áo quần giấy - thế vải tơ,
Tiêu dùng xin gửi trăm tờ kim ngân.
Chồng chất đó mấy nghìn vàng khẩu,
Của bà con tặng dấu trần gian,
Gọi là lễ lạt tới tuần,
Kính dâng bạc vật, cung trần phỉ nghi.
Sách có chữ “Tế phi dĩ lợi”,
Lại có câu “Như tại, như tồn”,
Tục truyền hai chữ “Sống khôn...
Thác thiêng”, xin hưởng cho con thỏa  lòng.
Trông linh tọa, áo choàng, mũ đội,
Ngó chân dung, thêm rối mạch sầu,
Thương cha : thuở bé cơ cầu,
Sớm buông nghiên bút, ruộng trâu cày bừa.
Cùng mẹ xưa se tơ kết tóc,
Dựng gia đình khó nhọc biết bao !
Ruộng vườn xiết kể công lao,
Tảo tần lam lũ, lao đao mấy hồi.
Khổ sinh trưởng vào thời loạn lạc,
Cha xuất thân gánh vác việc công,
Nghĩ mình con giống cháu dòng,
Trong đường phẩm hạnh vững lòng đấu tranh.
Ngoài cư xử dân tình kính phục,
Trong tài bồi tích đức tu nhân,
Nếp nhà giữ mực kiệm cần,
Dìu con khuyên cháu lập thân vững vàng.
Tưởng trời để gia đường đoàn tụ,
Mẹ cùng cha hưởng thụ trăm năm,
Cực lòng ! Mây phủ tối tăm,
Xa trông núi Dĩ mấy năm trước rồi ! (2)
Tủi phận mẹ đến hồi thanh thản,
Chưa chút chi cho thỏa tâm hồn,
Thương cha mòn mỏi héo hon,
Chiều tà, gà trống nuôi con những ngày...
Trải mấy độ ăn cay uống đắng,
Mấy tháng trời, đằng đẳng thuốc thang,
Thương cha quanh quẩn quê hương,
Chưa từng ngoạn cảnh viễn phương lúc nào.
May gần đây đơn cao bồi bổ,
Được vài năm cử bộ khang thường,
Tưởng mừng sao chiếu Ân quang,
Tưởng trời bù lại ngày thường gian lao.
Chúng con ước được cao tuổi hạc,
Tưởng trời cho tiên dược hồi xuân,
Nhờ ơn Tiên, Phật, Thánh, Thần,
Cho con báo hiếu vài phần mảy may.
Luật sinh tử nào hay tiền định,
Sổ âm dương ghi tính đâu rồi ?
Đôi lần mộng mị lôi thôi,
Cha đà cảm nặng, ôi rồi ! Trời ơi !
Con nào biết khúc nôi đến thế,
Mà tâu lên Thượng đế kêu ca,
Đau lòng con mẹ, con cha,
Xác phàm mắt thịt mà ra thế này !
Con chỉ biết tìm thầy chạy thuốc,
Con nào hay kỳ phước nhương tai, (3)
Tâu xin Ngọc bệ, Tiên đài,
Cải niên gia hạn cho hài lòng cha. (4)
Càng hối lại càng chua xót thật,
Càng cực lòng như ngất như si,
Đã đành “sinh ký, tử qui”,
Trăm năm ai cũng qua kỳ nhân sinh.
Ngoài vạn dặm mây xanh mờ mịt,
Hồn cha bay mù tít phương nào ?
Hay vì chín chữ cù lao,
Cha nay theo gót động Đào hầu ông ?
Hay cha đã non Bồng len lỏi,
Nhớ Bà xưa dưới gối thần hôn ?
Hay vì hẹn biển thề non,
Cha đi tìm mẹ cho tròn “ba sinh” ?
Hay vì cảm thương tình cốt nhục,
Tìm anh em bá thúc cửu tuyền ?
Lánh trần tham vấn gia tiên,
Nặng tình âm, nỡ lãng quên lối về.
Ai xui nỗi biệt ly, ly biệt,
Cha ra đi sao dứt, sao đành,
Cực lòng đứa ở gần quanh,
Nhớ khi cha hỏi, con trình con thưa.
Lại cực đứa đi xa về viếng,
Tủi quạnh hiu vắng tiếng vắng tăm,
Cực khi ngày Tết, mồng Năm,
Nhớ ông gọi cháu cho cam cho tiền.
Nhớ những lúc cha hen, cha thở,
Nhớ những khi con đỡ, con ôm,
Nhớ khi sáng sớm, chiều hôm,
Chén trà cạnh gối, bát cơm bên màn.
Cám cảnh quá, con quên sao được ?
Tủi thân chưa, cha bước sao đang ?
Năm canh con những mơ màng,
Sáu khắc con những bàng hoàng ruột đau.
Thôi mà thôi ! Một lâu một mất,
Dẫu kêu van, trời đất có thương ?
Cúi đầu đốt một nén hương,
Mấy hàng giải tỏ đoạn trường cô ai.
Cúi lạy nguyện Phật mười phương hộ,
Hồn mẹ cha Tịnh độ Tây phương,
Quan Âm, Thế Chí, dẫn đường,
Hiện thân chứng giám cảm thương độ trì.

---------------------
-  Trích bài của cụ Tống Trần Hàm (1899 – 1995), Nhà giáo, Sơn
Hòa - Hương Sơn - Hà Tỉnh soạn năm 1940 khi đang làm giáo viên Trường tiều học Tư Nghĩa - Quảng Ngãi, do Đại tá Tống Trần Huyền (con tác giả) ghi nhớ lại.
Toàn bài gồm 212 câu theo thể song thất lục bát. Xét thấy
bài văn chân chất đại chúng, có sức truyền cảm mạnh, nêu lên được nỗi niềm thống thiết bi ai của người con trước đã mất mẹ, nay bố già sống ở nông thôn chết vì già yếu bệnh tật. Vậy chúng tôi trích dẫn có sửa chữa vài chi tiết để bạn đọc có thể tham khảo ứng tác các bài văn tế lễ, hợp với từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể. (chú thích của Tân Việt, soạn giả “Tập Văn Cúng Gia Tiên”, NXB Văn Hóa Dân Tộc xb, Hà Nội 2001.
-  Chiêu Đề trích soạn, có thay đổi một số từ cho phù hợp sử dụng trong Phật giáo.
(1)  Đền Yển Tức : Theo truyền thuyết đây là nơi vong hồn mới mất chưa siêu thoát, đang chờ phán quyết.
(2)   Núi Dĩ : Ý nói là người mẹ mất trú ở nơi ấy.
(3)   Kỳ phước, Nhương tai : Làm lễ cầu phúc và giải trừ tai nạn.
(4)  Cải niên gia hạn : Xin chữa lại sổ Nam Tào để gia tăng tuổi thọ cho cha mẹ.

305- SÁM HỒNG TRẦN
(Sám hồi tâm 10)

Cõi trần thế sắc thân trôi nổi,
Mấy ai từng trăm tuổi được đâu,
Đời là bể khổ bấy lâu
Chỉ vì mê muội ăn sâu khôn rời.
Bởi vô minh tự thời vô thủy,
Thọ, tưởng, hành, thức khởi nhân duyên,
Luân hồi sanh tử liên miên,
Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường.
Lê Long Đỉnh khôn lường hoang đạo,
Giết dân lành, dâm bạo vô lương,
Nhãn tiền nghiệp báo liệt giường,
Hờn chồng oán chất, cùng đường bỏ thân.
Lý Thái Tổ xuất thân học đạo,
Lấy đức lành dạy bảo dân yên,
Lẫy lừng, phạt Tống bình Chiêm,
Mấy trăm năm Lý, văn minh rạng ngời.
Trần Thái Tông dựa nơi Phật pháp,
Lấy tu hành trị nước, an dân,
Mấy lần đuổi giặc ngoại xâm,
Truyền ngôi kế vị mấy trăm năm liền.
Hãy nhìn lại tôi hiền Nguyễn Trãi,
Tận trung mà vẫn phải oan gia,
Vì sao tru diệt cả nhà ?
Vì sao ba họ rồi ra bỏ đời ?
Vì sao được phục hồi chức tước,
Có phải vì nghiệp trước hay không ?
Anh hùng cái thế Quang Trung,
Vì sao yểu mạng não nùng non sông ?
Nhìn những cảnh vô thường khôn xiết,
Tử sinh mà ai biết ra sao ?
Đời này, đời trước, đời sau,
Người hiền tự thuở trông vào đức nhân.
Hãy nhìn lại Lý, Trần, Lê, Nguyễn,
Người hiếu hiền thể hiện đức nhân,
Dù cho danh lợi muôn phần,
Bất nhân thất đức xa gần ai khen ?
Giữa trần tục bon chen danh lợi,
Mùi thế trần sao vội cho thơm.
Vinh hoa phú quý chập chờn,
Như là bọt nước trong cơn sóng cồn.
Thuốc tiên của Lãn Ông Hải Thượng,
Đã bao giờ cứu mạng mình đâu,
Sinh già bệnh chết bấy lâu,
Đã thành quy luật gây bao khổ sầu.
Dù vua chúa, công hầu, khanh tướng,
Hay nghèo hèn vất vưởng thương đau,
Cuối cùng ba tấc đất sâu,
Yên mình một nắm cỏ khâu xanh rì.
Đã biết vậy đừng mê muội nữa,
Kiếp nổi chìm lần lựa trôi qua,
Thành tâm niệm Phật Di Đà,
Làm lành tu phước để mà tu tâm.
Đã biết cảnh hồng trần trôi nổi,
Một ngày nào cát bụi buông xuôi,
Vô thường muôn sự rõ rồi,
Hoa sen chín phẩm là nơi an bình.
Đã qui luật tử sinh không khỏi,
Sống cũng đừng nông nổi gian tham,
Chỉ vì nghiệp ác đã làm,
Chuốc vào quả báo lại càng đau thương.
Quyền chức trọng đường đường tự đắc,
Chỉ một cơn gió lốc tiêu điều !
Của tiền tranh đọat bao nhiêu ?
Rồi hai thước đất ai nhiều hơn ai ?
Hãy về trước Phật đài sám hối,
Biết bao điều tội lỗi xưa nay,
Nhất tâm niệm Phật đêm ngày,
Nguyện về Cực lạc ngồi đài hoa sen.
-------------------
-  Trích “Nghi thức Cầu siêu”, Thích Nhật Từ biên sọan, đăng trên website Đạo Phật Ngày Nay, năm 2000.
 

306- VĂN CÚNG NHÀ THỜ GIA TIÊN
(Sám báo hiếu 7)

Cúi nghĩ rằng :
Vầng nhật nguyệt mười phương rạng rỡ,
Đức tổ tông muôn thuở sáng ngời,
Ngưỡng trông ! Phúc ấm nối đời,
“Tế thần thần tại”, về nơi từ đường.
Để con cháu lửa hương phụng sự,
Nghìn năm sau xuân tự, thu thường,
Băn khoăn tự chỉ phế hoang,
Đến nay đồng tộc sửa sang khánh thành.
Kính thiết lễ : Chiêu nghênh, yên vị,
Rước thần thông : tẩy uế khai quang,
Mừng ngày xuân tiết vừa sang,
Gần xa tụ hội họ hàng đông vui.
Ơn trời đất cao dày che chở,
Ơn tổ tiên phù hộ độ trì,
Nhờ ơn đức Phật từ bi,
Nhờ ơn Thánh chúa, thần kỳ chứng soi :
Cây vững cỗi, thắm chồi, xanh lá,
Nước trong nguồn, bể cả, sông sâu,
Chữ trung chữ hiếu làm đầu,
Ai không tâm niệm : Vì đâu có mình ?
Nhờ tiên tổ anh linh phù hộ,
Dìu cháu con tiến bộ trưởng thành.
Trẻ già trai gái yên lành,
Họ hàng thịnh vượng gia đình tươi vui.
Buổi sơ khai một ngôi thuỷ tổ,
Đời nối đời chia hộ, chia chi,
Cây cao bóng cả sum suê,
Lá rơi về cội, người về tổ tông.
Nghìn thu sau nối dòng mãi mãi,
Ai trồng cây, ta hái quả ngon,
Vậy nên dạy cháu khuyên con,
Vun bề tổ trạch, giữ tròn gia thanh.
Trong gia đình trên bình, dưới thuận,
Trong họ đương “bách nhẫn thái hòa”,
Xuân hồi, thắm trổ muôn hoa,
Non sông gặp hội âu ca thái bình.
Nay nhân lễ khánh thành kính bái,
Chi tiên linh trở lại từ đường,
Tả chiêu, hữu mục theo hàng,
Tinh anh hội tụ, khói nhang phụng thờ.
Tuy nén hương đơn sơ lễ nhỏ,
Xin lượng trên thấu tỏ lòng thành,
Nguyện cầu tứ phủ vạn linh,
Thập phương Tam bảo chứng minh độ trì.
-------------------
-  Bài trích trong “tập văn cúng gia tiên”, Tân Việt sưu tập, NXB Văn Hóa Dân Tộc xb, Hà Nội 2001.
-  Bài văn dùng để cúng khánh thành nhà thờ gia tiên, từ đường, hoặc giỗ hội gia tiên nhân khánh tiết hàng năm.

307- VĂN TỐNG TIỄN VONG LINH
(Sám cầu siêu 21)

Cách trở  sao mờ Nam cực,
Lỡ làng khôn kịp tỏ tâm tình,
Mịt mù mây khóa Giao trì,
Xui khiến chẳng qua vì mệnh số.
Than như không, khóc kể cũng như không,
Trông chẳng tỏ, đoái nhìn càng chẳng tỏ.
Ôi thương ôi ! Hồn phách đi đâu,
Mà hình hài còn lại đó ?
Mộng Nam Kha chưa tỉnh lúc tàn canh,
Miền Tây trúc đã tìm nơi tịnh thổ.
Ngậm ngùi chưa kịp hỏi đôi đường,
Bỗng chốc đã vội về thiên cổ.
Thảm thiết nhẽ, trăm năm là mấy,
Xót thương phận trẻ hãy còn lo;
Đau đớn thay, một phút mà xong,
Nào tưởng lòng trời sao nỡ phụ.
Bồi hồi chín khúc ruột tằm vương;
Sụt sùi hai hàng dòng lệ nhỏ.
Thiết nghĩ ! nhân sinh tại thế,
Họa mấy người sống tám chín mươi,
Đôi ba mươi năm cũng kể một đời,
Song vận số, biết làm sao tránh được !
Nhớ hồn thuở trước : trong buổi xuân  xanh,
Ơn mẹ cha đạo cả sinh thành,
Đêm ngày dạy dỗ :
Đường ăn nỗi ở, việc cửa việc nhà.
Lại lo bền nghi thất, nghi gia,
Cho sum họp trúc mai mấy đóa.
Cương thường đạo cả,
Lòng những lo hiếu thảo đền ơn.
Nếp cần kiệm hằng giữ sớm hôm,
May nối được gia đường cơ chí.
Ba lo bảy nghĩ, vất vả trăm bề,
Cho vẹn toàn đường nọ lối kia,
Tuy khó nhọc chưa cam thỏa dạ.
Bỗng đâu gió cả, phút bẻ cành mai,
Hoa lìa cây rụng cánh tơi bời,
Yến lìa tổ, kêu xuân vò võ.
Tưởng hồn trường thọ,
Dìu cháu con khuyên nhủ nên người,
Ai ngờ trăng lặn sao dời,
Hồn đã biến về nơi Tây trúc.
Từ nay lấy ai chăm sóc, ngõ cúc, tường đào,
Từ nay quạnh bóng ra vào, cỗi Nam, cành Bắc.
Ngày chầy sáu khắc, đêm vắng năm canh,
Tưởng phất phơ thoáng hiện ngoài mành,
Tưởng thấp thoáng bóng hình trên khói.
Hiên mai bóng gọi, vào ngẩn ra ngơ,
Hết đợi thôi chờ, nắng nồng giá lạnh.
Ai hay số mệnh !
Thuốc trường sinh, cầu Vương mẫu chưa trao,
Bút Chu tử, trách Nam tào sớm định.
Bùi ngùi cám cảnh,
Tuôn rơi hàng nước mắt dầm dầm,
Nhớ nơi ăn, chốn ở, buồng nằm,
Như cắt ruột xát lòng con trên trần thế !
Mấy giòng kể lể,
Chiêu hồn về than thở nguồn cơn.
Câu anh linh phù hộ cháu con,
Cầu đức Phật độ trì hương linh siêu thoát.
------------------
-  Trích trong “Tập văn cúng gia tiên”, Tân việt sưu tầm, NXB Văn Hóa Dân Tộc xb, Hà Nội 2001.
-  Bài được Chiêu Đề trích soạn lại từ hai bài văn Thành phục và Chúc thực có trong sách trên, có thêm bớt một số câu cho tròn bài văn sám.
 
308- VĂN TẾ LIỆT SĨ ANH HÙNG
(Thí thực cô hồn 13)
VIÊN GIÁC

Mưa đầu mùa núi sông hiu hắt 
Gió giao mùa lạnh ngắt đìu hiu 
Cảm thương những cánh chim chiều 
Cô đơn gọi bạn dập dìu cành khô 
Thượng tuần trăng dại ngẩn ngơ 
Hoàng hôn vội tắt, đời chưa lên đèn 
Sông đêm thưa thớt bóng thuyền 
Tàn canh bến vắng, đò quen chưa về 
Chuông chùa vang vọng sơn khê 
Ðưa người giải thoát sông mê bến trần 
Người vì nước vì dân tử biệt 
Nợ tang bồng hà thiết cầu sinh 
Sống cho thiên hạ hơn mình! 
Chết cho nghĩa cả, vị tình núi sông 
Ðời vốn dĩ sắc không phù thế 
Kẻ sang giàu hồ dễ thăng hoa 
Ngậm ngùi cho những hồn ma! 
Sinh thời tội lỗi, thác sa đọa đầy 
Nay nhang khói trang đài Bến Dược... 
Chiêu vong hồn vì nước vì dân... 
Cành phan tiếp dẫn linh phần 
Như Lai tế độ... chuông ngân gọi hồn 
Hỡi những bóng mưa cồn gió cát 
Hỡi những hồn phiêu bạt rừng xa 
Nghĩa gì trọn kiếp phù hoa 
Danh thơm liệt sĩ ngát tòa hương sen 
Chiêu vong thao thức ánh đèn 
Nguyện cầu chư Phật chư thiên độ trì 
Ðài liệt sĩ danh ghi muôn thuở 
Nước non thiêng hằng nhớ muôn đời 
Núi sông thương tiếc ngậm ngùi 
Người nằm yên giấc nụ cười ngàn năm.
 
 
 
 

------------------
-  Bài trích trong tập san Lắng Nghe, chùa Viên Giác, Tân Bình ấn hành, Tp. Hồ Chí Minh, 1999 
-  Trích từ website Lotus Media.
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx