.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG I
TÂM TỈNH GIÁC
Ðạo
Bụt đặt trọng tâm vào sự tìm hiểu nội tâm và thực tập
để phát triển nó. Theo quan điểm Phật giáo học hay dạy
Phật pháp không phải là chuyện thuần lý thuyết. Chúng ta
học hay dạy Phật pháp để cho cái tâm vô kỷ luật của
ta vào khuôn phép. Như vậy ta sẽ đánh thức được Phật
tánh trong ta. Ta có khả năng dẹp hết những chướng ngại
trong tâm và kết quả là ta đạt tới những huyền năng phi
thường.
Tôi
rất sung sướng khi thấy nhiều người không phải là Phật
tử, nhưng vẫn muốn học đạo Phật. Những triết thuyết
của các truyền thống khác nhau trong Phật giáo có thể thích
hợp với những khả năng và nhu cầu dị biệt của mọi người.
Tất cả những giáo pháp khác biệt này đều có chung mục
đích là giúp cho con người hướng thiện hơn, sống cuộc
đời tốt đẹp hơn. Vậy nên, các tôn giáo hài hòa với nhau
là điều vô cùng quan trọng. Muốn vậy, chúng ta cần phảu
hiểu nhau rõ hơn.
Ðây
là giáo pháp của Bụt, trước hết chúng ta hãy tụng hai câu
kệ quy y Phật, Pháp và Tăng:
Cho
đến khi được giác ngộ,
Con
xin nguyện luôn nương tựa vào Bụt, Pháp và Tăng.
Ðây
là giáo pháp Ðại thừa, nhằm giúp cho tất cả mọi loài
đều được giải thoát. Chúng ta có hai câu kệ sau đây nói
về sự nuôi dưỡng tâm tỉnh giác:
Với
thành ý đọc và nghe những lời giảng pháp này,
Xin
cho con được chứng ngộ để độ tất cả chúng sanh.
Tâm
tỉnh giác là ước mong đạt được quả vị Phật để giải
thoát chúng sanh khỏi cảnh khổ đau. Muốn phát triển tâm
tỉnh giác, chúng ta phải thiền tập chứ không phải chỉ
phát triển bằng cách suy tưởng, mong ước và cầu nguyện.
Không phải chỉ hiểu suông bằng tinh thần là được. Cũng
không phải chỉ cần được Phật độ cho là xong. Ta chỉ
có thể đạt tới giác ngộ hay tỉnh giác bằng thiền quán
sâu xa và trường kỳ. Muốn duy trì thiền quán vào tâm tỉnh
giác, ta cần biết tới những lợi ích khi ta biết nuôi dưỡng
nó. Ta phải có mong cầu rất lớn, mong trau dồi được cái
giác tâm này, cảm thấy như đó là một nhu cầu thúc bách.
Nếu ta thiền tập một cách thích thú, ta sẽ dễ thành công
hơn. Ý nghĩ cao quý muốn độ chúng sanh sẽ đem lại kết
quả rất tốt. Ðó cũng là duyên chính yếu mang lại cho ta
hạnh phúc, kiên cường và thành công ở đời. Khi tâm ta đầy
nghi ngờ và xấu ác, tự nhiên ta sẽ cho rằng người khác
nghĩ bậy về mình. Liên hệ giữa ta và người khác nhuốm
đầy những ý tưởng bất thiện này. Ða số trường hợp,
chúng đưa ta vào con đường đau khổ. Ðiều đó tự nhiên.
Vậy nên, ngay trong cuộc đời này, ta càng vị tha thì càng
sung sướng. Càng sân hận độc ác, ta càng kém an vui.
Dù
ta đi kiếm hạnh phúc cho chính mình hay cho người khác, dù
cho ta tìm cầu an lạc ngắn hay dài hạn, ta đều cần có lòng
từ bi cao quý. Tương tự như vậy, khi muốn được làm người
hay thần linh, muốn được thành công trong những kiếp sau,
ta phải phát triển thiện tâm. Ðược tái sanh trong điều
kiện tốt đẹp hơn chính là hậu quả của sự tu tập, chẳng
hạn như thực tập giới không sát sanh. Thực vậy, được
sanh ra trong cảnh giới tốt hơn là nhờ đã làm những việc
thiện như kiêng sát hại, không trộm cắp, thực hành mười
điều lành (thập thiện): Ðộ sanh (không sát hại); bố thí
(không trộm cắp), và giữ lòng đoan chánh (không dâm dục);
nói lời chân thật, nói lời hòa giải (không nói dối, không
ly gián); nói lời nhã nhặn, nói điều xác thực (không nói
lời ác độc, thô lỗ và bịa đặt); không tham lam mà rộng
lòng giúp đỡ người khác và giữ được chánh kiến. Chúng
ta gom góp những duyên lành để có thể được tái sanh tốt
đẹp bằng cách ngưng làm những thành động có hại cho kẻ
khác. Căn bản của chuyện này là ta phải có lòng nhân ái
đối với họ.
1.-
THỰC SỰ NGHỈ NGƠI
Khi
gặp bác sĩ, chúng ta thường được khuyên nên nghỉ ngơi.
Nhưng nghỉ ngơi nghĩa là gì? Nghỉ không phải là chỉ nằm
dài trên giường, mà còn có nghĩa là làm cho tâm thần được
thoải mái. Dù y sĩ có giải thích hay không, khi ông khuyên
ta nên nghỉ ngơi thì có nghĩa là ta cần được thoải mái,
thư dãn về tinh thần, không lo âu nữa, chứ không phải chỉ
cần cho cơ thể ngưng hoạt động. Tinh thần ta chỉ được
thoải mái khi ta có những cảm nghỉ và thái độ lạc quan.
Khi tâm trí ta còn bị những cảm thọ tiêu cực, phiền muộn
chế ngự, thì không thể nào thoải mái được. Vậy, ngay
trong chuyện sức khỏe, khi ta được yêu cầu nghỉ ngơi cũng
có nghĩa là ta cần có lòng nhân ái, vì đó là cách tốt nhất
để ta không bị âu lo. Vì những duyên do như thế nên mỗi
lần Atisha (vị hiền giả Ấn Ðộ) gặp ai, ông ta cũng hỏi:
"Tâm bạn có bình an không?" Cũng như ngày nay chúng ta chào
nhau: "Bạn có khỏe không?" (How are you?). Ngài không hỏi người
đối thoại coi họ có lòng tốt hay không, nhưng muốn hỏi
coi họ đã sống ngày đó như thế nào? Câu hỏi này có tánh
cách sâu xa hơn, tôi nghĩ câu hỏi của ngài không phải chỉ
có tánh cách tôn giáo. Ngài muốn hỏi "Bạn nghỉ ngơi có
khỏe khoắn không?" giống như chúng ta hỏi "Bạn ngủ ngon
không?" vì nghỉ khỏe chính là kết quả của tâm tốt lành.
2.-
TỪ BI VÀ TRÍ TUỆ
Dĩ
nhiên ta cần nuôi dưỡng thiện tâm, nhưng làm cách nào, đó
là vấn đề. Trong việc tu luyện tâm thức để có thiện
tâm, ta cần có chánh niệm hay tâm tỉnh giác vì đó là hình
thức tối hảo, tối thượng của thiện tâm. Ðó là cái tâm
thiện vô biên, được bổ túc thêm bằng trí tuệ. Kinh điển
giảng về tâm tỉnh giác, cho đó là một tâm thức được
hình thành do hai ước vọng: muốn phục vụ tha nhân và mong
đạt tới quả vị Phật.
Thế
nào là bổ túc bởi trí tuệ hay tâm hiểu biết? Ta xét tới
cái tâm muốn nương tựa vào Bụt là một thực thể tối
thượng, có đủ mọi đức tánh và hoàn toàn tự do. Hoặc
ta chỉ coi Bụt là một vị thần linh quý báu thiêng liêng.
Ðiều này tùy theo lòng tin của mình. Có người chỉ xin nương
tựa vào Bụt sau khi đã phân tách, tìm hiểu về bản chất
của Bụt, về sự hiện hữu có thể có của ngài. Sau khi
đã nghiên cứu như vậy, ta tin Bụt có thể là một nhân vật
có thực. Ta hiểu bản chất của ngài, là người có tâm toàn
thiện và tự do tuyệt đối, không bị vướng bận vào một
ràng buộc nào. Khi hiểu về Bụt, về một con người tỉnh
thức toàn diện như thế, chúng ta hoàn toàn tin tưởng để
quay về nương tựa ngài. Niềm tin này mạnh mẽ và kiên cố
hơn là chỉ có tín tâm tôn giáo mà thôi.
Nuôi
dưỡng tâm tỉnh giác cũng tương tự như vậy. Có thể có
những vị Bồ Tát chưa hiểu rõ về tánh Không, nhưng tâm
họ khao khát đáp ứng được mọi ước nguyện của chúng
sanh. Do ước vọng đó, họ có thể nảy sinh ra tâm ý muốn
đạt đạo để giúp mọi người và mọi loài. Nhưng thường
khi nói tới tâm tỉnh giác, ta nói tới ý nguyện muốn tìm
hiểu coi có thể chấm dứt được khổ đau cho đại chúng
không, và nếu được thì nên làm cách nào để giúp chúng
sanh dứt khổ. Căn cứ vào các tư tưởng đó, ta xét tới
ý nghĩa của sự giác ngộ, theo hai điều sau đây:
- Từ
bi nhằm vào chúng sanh.
-
Trí tuệ chủ vào giác ngộ.
Khi
chúng ta nuôi dưỡng tâm cao quý mong được giác ngộ để
giúp chúng sanh, vì biết ta có thể đạt tới trình độ đó,
thì tâm ta trở nên huyền diệu và kiên cường.
Sự
khác biệt sẽ rất lớn lao khi tâm từ bi được trí tuệ
hỗ trợ. Bình thường khi nhìn vào chúng sanh khốn khổ, ta
sanh ra một tâm niệm rất mãnh liệt muốn giúp họ đở khổ,
vì ta không chịu nỗi những cảnh đau lòng đó. Nhưng nếu
ta nhìn và phân tích sâu hơn ta sẽ hiểu vì đâu mà họ khổ
và biết họ có khả năng nuôi dưỡng những yếu tố diệt
khổ của chính họ. Ta có thể nhìn ra những điều đó trong
người kia nhưng chính họ thì bị bấn loạn trước các sự
kiện và không biết cách phát hiện những yếu tố tích cực
nói trên. Ta có thể nhìn thấy người kia không những đang
bị đau khổ mà còn đang bị vướng vào những hành nghiệp
bất thiện nữa. Họ đang bị lầm lạc, hướng vào những
hành sử gây ra đau khổ liên tục trong tương lai.
Chúng
ta sẽ khởi lên những tâm niệm từ bi, thương xót chúng sanh
khi nhìn rõ khả năng thoát khổ của họ mà vì u mê, họ chưa
nhìn ra con đường đó được. Cũng giống như khi ta thấy
một con người có thể giải quyết vấn đề của họ một
cách dễ dàng mà họ không làm nổi vì u mê hay vì thiếu sáng
kiến. Nhìn thấy người khác đang khổ, ta nên biết rằng
họ cũng giống mình, không hề muốn bị khổ. Ta phát khởi
ước mong: "Nếu sự đau khổ này chấm dứt được thì hay
lắm, cầu xin cho nỗi khổ đó sớm chấm dứt!" Khi ta đã
biết con đường và những phương cách thoát khổ, thì nhìn
người kia ta càng thấy thương xót họ nhiều hơn.
Khi
tu tập để có tâm tỉnh giác, chúng ta nên có hai mục tiêu:
mong đạt tới quả vị Bụt và mong độ được cho người
khác. Tâm tỉnh giác hướng về tha nhân, không chỉ lo cho mình
mà muốn giúp người, đó là lòng từ bi. Muốn nuôi dưỡng
tâm từ bi đích thật, ta không những cần quan tâm tới những
người đang đau khổ, mà còn cần coi họ như những con người
dễ thương, dễ mến nữa. Ðồng thời ta phải có khả năng
nhìn thấu bản chất khổ đau của họ.
Muốn
nhận diện rõ ràng những niềm đau nỗi khổ, trước hết
ta hãy nghĩ tới những kinh nghiệm mình đã trải qua. Nhận
diện theo cách đó dễ dàng hơn. Chúng ta thường nghĩ lòng
từ bi và quyết tâm thoát khỏi luân hồi khổ não như hai
mặt của một đồng tiền. Quán tưởng về những khổ đau
của mình và tập để xả bỏ chúng đi là vì ta có quyết
tâm muốn được giải thoát. Khi ta mong giúp người khác được
khổ, là ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi.
3.-
TỨ DIỆU ÐẾ
Nền
tảng của sự giải thoát khỏi khổ đau là giáo pháp Tứ
Diệu Ðế. Ðây là căn bản quan trọng nhất trong Phật pháp.
Tứ Diệu Ðế có thể chia làm hai phần: Khổ đế và Tập
đế là những nguyên nhân và các hệ quả của những cảm
thọ bất an mà ta muốn thoát ly. Diệu đế và Ðạo đế là
những con đường toàn diện cho những hành nghiệp trong tương
lai. Nếu không học và không đi theo con đường này, mà chỉ
quán về hai sự thật đầu (Khổ và Tập), thì chúng ta thật
sự đã tự trừng phạt mình. Thà là ta cứ thoải mái hưởng
đời thôi có lẽ còn tốt hơn. Chỉ nghĩ tưởng về cái khổ
mà thôi thì nghĩ làm gì? Khi ta được khuyên nên nghĩ về
Khổ đế là vì do đó, ta sẽ biết cách thoát được khổ.
Quán về khổ để ta có quyết tâm vượt khổ, để được
tự do. Vì thế, giáo lý Tứ diệu đế rất quan trọng.
Ðể
giúp chúng ta thiền quán về cái khổ, ta nên biết có ba cái
khổ khác nhau. Trước hết khổ vì bị đau đớn, khổ vì
sự thay đổi vô thường và những cái khổ tràn đầy khi
sinh sống. Khổ vì đau đớn là do những vấn đề và phiền
trược trong cuộc đời. Khổ vì vô thường liên qua tới những
hạnh phúc giả tạm mà chúng ta mong cầu. Những thứ hạnh
phúc này chóng tàn không được lâu bền. Những niềm vui đó
thay đổi và trở thành nỗi khổ rất mau, nên ta gọi chúng
là những cái khổ vì vô thường. Căn bản các loại khổ
trên đều lệ thuộc về cái thân tứ đại, liên hệ tới
nghiệp báo và các cảm thọ phiền não. Do đó mà sinh ra những
nguyên nhân khiến ta tái sanh liên tục trong cõi luân hồi.
Vậy nên chúng ta không thể tránh được khổ, khi còn sinh
hoạt trong cuộc đời.
4.-
CON ÐƯỜNG DIỆT KHỔ
Mỗi
sự thật trong Tứ đế đều có thể được giải thích căn
cứ vào bốn dấu ấn của Phật pháp: vô thường, khổ, không
và vô ngã. Sự vật nào do nhân duyên mà thành cũng đều do
nhân duyên mà thay đổi và hoại diệt. Vì bản chất của
nhân duyên cũng là vô thường, thay đổi từng phút giây, nên
chúng tạo ra khổ não. Ðó là nguyên nhân của khổ. Khi quán
về những tập hợp mà chúng ta gọi là thân và tâm, ta sẽ
hiểu chúng đều có bản chất vô thường. Nó thay đổi theo
từng giây từng phút và là một sản phẩm tùy thuộc vào
nhiều nhân duyên mà cái duyên chính là vô minh. Thân tâm ta
gồm những tập hợp - sản phẩm của vô minh - nên ta có thể
hiểu rằng bản chất của nó là khổ.
Khi
quán chiếu về sự vô thường đó, ta sẽ hiểu rằng vô minh
là nhân duyên chính của sự tập hợp ngũ uẩn trong thân tâm
ta. Khi còn là sản phẩm của vô minh, thì dù ta sinh ra trong
hình tướng nào, ta cũng sẽ bị hoại diệt. Dù xấu hay đẹp,
to hay nhỏ, thân ta rồi cũng đổi thay. Khi hiểu thấu được
điều này thì ta sẽ không còn bị khó chịu vì những khó
khăn nho nhỏ nữa. Ta sẽ hiểu là khi nào chưa thoát được
những ràng buộc của phiền não, thì ta chưa thể có chân
hạnh phúc. Ta phải luyện tâm như vậy.
Khi
thực tập theo lối này, ta sẽ thấy những phiền não, bất
an mới chính là kẻ thù thực sự của ta. Tiềm ẩn lặng
lẽ trong tâm thức ta từ lúc nào, chúng chỉ mang lại cho ta
khổ đau. Khi nhận diện, biết chúng là kẻ thù thì ta có
thể khởi sự chống trả chúng một cách hữu hiệu. Các đại
sư Tây Tạng thời Kadampa (thế kỷ 12 và 13) thường dạy:
"Khi bị những kẻ thù phiền não đè bẹp vì chúng quá mạnh,
ta chỉ có cách nghiến răng chống lại mà thôi, đừng chịu
thua chúng".
Mặt
khác ta nên nuôi dưỡng tâm ý chán ghét những cảm thọ bất
an đó. Ta cũng cần hiểu là khi nào còn vô minh, ta không thể
nào có hạnh phúc chân thật. Vấn đề là ta có thể loại
bỏ được vô minh chăng? Diệt đế chỉ cho ta rất rõ ràng
phương cách thoát được vô minh đó. Bụt giảng về đế
thứ ba (sự diệt khổ) này rất rõ. Ai cũng có Phật tánh
- ý này có hai nghĩa: trước hết, những lầm lỗi do tâm đều
vì vô minh; thứ hai Phật tánh là thứ ta có thể đạt được.
Khi quán và tư duy về hai điều này, ta thấy diệt khổ là
chuyện có thể thực hiện. Vì thế nên ta phát sanh tâm nguyện
đạt tới giải thoát, Niết bàn.
Khi
tìm thấy những khuyết điểm trong vòng luân hồi, ta có thể
tìm được một lối sống nào khác hay chăng? Một khi ta biết
có Niết bàn,ta sẽ khởi tâm muốn đạt tới đó. Tâm bất
an là cản trở chính cho sự giải thoát của ta. Vậy nên ta
nhìn tâm bất an đó như kẻ thù chính và ta sẽ muốn chiến
đấu để thắng nó. Trong thực tế, lúc đầu ta khó mà chiến
đấu và ngăn chận kẻ thù này. Vì chánh phạm của bất an
là vô minh, muốn hết bất an, ta phải ngăn chận được vô
minh. Yếu tố duy nhất khiến ta thắng vô minh là sự hiểu
biết về vô ngã.
Ðể
có trí huệ về vô ngã, không phải ta chỉ cần hiểu nó hoăïc
thỉnh thoảng tư duy về ý nghĩa của vô ngã mà ta phải nhất
tâm quán chiếu về nó, cũng như quán về Không. Ta phải có
cái thấy chân thực thì mới từ từ từng bước loại bỏ
được những cảm thọ bất an. Tóm lại, ta cần thiền quán
và tập làm quen với cái nhìn vô ngã trong một thời gian dài.
Muốn
nuôi dưỡng cái thấy về vô ngã, ta cần thực tập để có
định. Nền tảng của sự thực tập này là phải tránh hành
sử một cách bất thiện. Trước khi chống chọi với các
cảm thọ bất an, ta cần đề phòng những hành sử tiêu cực.
Tích lũy những nghiệp xấu đó đây sẽ khiến ta bị những
cảm thọ bất an thống trị.
Những
ác nghiệp do tâm bất an đưa đẩy có thể tìm thấy trong
mười hành động sai quấy như: trộm cắp, giết hại, tà
dâm (nghiệp thân) và nói dối, lưỡi hai chiều, đàm tiếu,
nói thô (khẩu nghiệp); sau đó là tà kiến, ý muốn hại người
và tham đắm (ý nghiệp). Khi ta có cơ nguy phạm vào một trong
mười điều bất thiện này, ta phải biết kềm chế và tìm
cách hóa giải nó. Như tu tập theo thập thiện chẳng hạn.
Muốn vậy, ta phải tin thuyết nhân quả và nghiệp báo. Nếu
ta gây nhân xấu, thì sẽ gặt quả xấu. Khi làm những việc
có bản chất tốt, thì kết quả là ta được an vui. Càng
tin ở thuyết "nhân nào quả nấy", ta càng tu tập giỏi và
lánh xa những con đường bất thiện.
Ðược
sanh ta trong kiếp người là một sự cố độc nhất và hãn
hữu. Ta cũng giống như các sinh vật khác, nhưng con người
đặc biệt hơn vì có trí thông minh và khôn ngoan. Khi hiểu
rằng kiếp người đáng quí và có giá trị, ta sẽ biết dùng
trí khôn của mình để đi vào chánh đạo. Khi hiểu biết
về những kết quả xấu của mười điều bất thiện, ta
sẽ hiểu vì sao những việc ác đó là sai trái. Làm những
việc bất thiện đó, ta sẽ bị tái sanh vào cảnh khổ như
bị đọa làm súc sanh chẳng hạn. Bạn cứ nhìn những loài
vật thì thấy. Không muốn bị như chúng, ta phải tránh các
nghiệp dữ. Tu tâm như vậy, từ từ ta sẽ nhận diện được
khổ đau và có quyết tâm giải thoát.
Một
khi ta hiểu rõ được những nỗi khổ đang làm mình phiền
não, ta có thể thay đổi đối tượng, tập nhìn vào nó như
nhìn vào cái khổ của một người khác vậy. Rồi ta tập
luyện tâm, mong đem phúc lạc tới cho các chúng sanh. Những
người đang đau khổ đó không phải là không liên hệ gì
với ta. Hạnh phúc tương lai của ta tùy thuộc nơi họ rất
nhiều. Nuôi dưỡng tâm vị tha mong cho chúng sanh được lợi
lạc là một điều tuyệt diệu. Ngay cả khi ta còn theo đuổi
mục tiêu riêng nhưng nếu tâm ta có mong ước giúp ích chúng
sanh thì ta lại đạt được mục tiêu của mình lẹ hơn. Nuôi
dưỡng lòng vị tha có lợi như vậy. Chuyện tiên khởi ta
cần biết là chúng sanh và ta đều có liên hệ và chẳng có
chi phân biệt.
5.-
NUÔI DƯỠNG TÂM BÌNH ÐẲNG
Chúng
ta nên luyện tâm để ta luôn luôn nhìn chúng sanh như những
sinh vật gần gụi và dễ thương. Chúng ta nên bắt đầu bằng
cách quán bình đẳng. Ta thường cảm thấy gần cận với
những người thân thuộc như bà con, bạn bè. Những người
ta không ưa được xếp vào loại kẻ thù và ta cảm thấy
xa cách với họ. Tỷ dụ như người Tây Tạng chúng tôi khi
nghe về những cảnh khổ đau, những thảm kịch nơi quê hương
thì chúng tôi cùng nhau tới chùa cầu nguyện. Nhưng khi nghe
tin Trung Hoa bị lũ lụt, thì thay vì cầu nguyện cho các nạn
nhân, có khi chúng tôi lại vui mừng. Ðây là cái tâm phân
biệt cần tu sửa. Thực tập sự bình đẳng là để sửa
thái độ không cân bằng kể trên. Những người bạn chúng
ta bây giờ chưa chắc đã là thân hữu của ta trong các kiếp
trước. Họ cũng có khi là kẻ thù. Những người ta coi là
kẻ thù ngày nay cũng vậy. Họ có thể đã là bằng hữu.
Ta không có lý do chánh đáng để khởi tâm phân biệt. Theo
đại sư Gungthang, ngay trong cuộc đời này, một người bạn
ta coi là thân nhất, cũng có thể trở thành kẻ thù khi họ
lỡ nói một câu sai trái. Những người khi trước là bạn,
sau có thể trở thành kẻ thù và ngược lại. Chúng ta ai cũng
thấy như vậy. Thái độ phân biệt này cần được loại
trừ, vì nó căn cứ trên sự tham đắm và giận hờn. Rõ nhất
là khi người kia đổi thái độ thì ta cũng thay đổi. Mặt
khác nếu ta cảm thấy gần gụi với các chúng sanh khác không
kể tới địa vị của họ thì dù họ đổi thái độ, ta
cũng vẫn vậy thôi. Khi nói tới bạn bè hay bà con, ta thường
nói "bạn tôi, bà con tôi". Ta nhấn mạnh tới liên hệ có
tính cách ràng buộc. Ta nên cẩn thận đối với sự phân
biệt này. Khi nào còn tâm phân biệt, bạn không có khả năng
để thấy mọi chúng sanh đều bình đẳng. Ðó là lý do khiến
ta nên quán chiếu để thấy rằng bạn thân nhất của ta trong
đời trước có thể nay là kẻ thù. Một khi ta nuôi dưỡng
được cái tâm bình đẳng với mọi chúng sanh, ta sẽ có khả
năng hiểu được lòng tốt của họ.
Vậy
thời, kẻ thù thật sự của ta chính là cái tâm bất an chứ
không phải là những con người đang đau khổ và bị phiền
não nắm đầu. Muốn nuôi dưỡng tâm từ bi, ta nên hiểu rõ
về sự khác nhau giữa các loại đau khổ. Ta thường phát
tâm từ bi ngay khi nhìn thấy những người tàn tật hay thân
thể đang bị đau đớn. Nhưng khi thấy người khá giả hay
có học, thay vì thương xót, ta thường ghen tức và muốn tranh
đua với họ. Ðiều này chứng tỏ tâm từ bi của ta có tánh
cách phân biệt và không hoàn hảo, vì ta không hiểu được
những đau khổ trong tâm của tất cả chúng sanh. Ta cần phải
nhận biết tâm bất an trong ta chính là kẻ thù thật sự của
mình. Biết như vậy, ta sẽ hiểu được những khổ đau do
phiền não gây ra trong tâm mọi người khác. Ta cần phát khởi
và nuôi dưỡng lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh. Giữ
liên hệ gần gụi với một nhóm người mà ta coi là bạn
hay bà con, chỉ là sự vướng mắc, không phải do lòng từ
bi đích thực. Và kết quả của những ràng buộc đó là khổ
đau. Vậy nên ta cần nuôi dưỡng tâm bình đẳng đối với
người khác, không bị ràng buộc, giận hờn, không bị tâm
phân biệt làm cho ta mất tự do.
Bước
thứ hai là ta coi hết thảy mọi người đều là quyến thuộc.
Hầu như ai cũng đã từng liên hệ với ta, có thể đã là
mẹ ta chẳng hạn trong quá khứ. Trong tương lai, chắc chắn
họ cũng sẽ trở thành bạn hay bà con của ta nữa. Trong bối
cảnh đó, ta hãy nên nhớ tới sự tử tế của họ, như lòng
mẹ đối với con vậy. Sau đó ta nuôi dưỡng tâm Xả, để
thấy ta bình đẳng với chúng sanh. Ai cũng như ta, chỉ mong
được hạnh phúc và thoát cảnh khổ đau. Khi luyện cho tâm
ta nghĩ như thế rồi, ta sẽ thấy mình không thể phân biệt
thương nhóm này ghét nhóm kia nữa.
Ta
quán chiếu để thấy được lòng tốt của muôn loại, luôn
mang phúc lợi tới cho người khác một cách trực tiếp hay
gián tiếp, không phải chỉ giúp cho bà con mà là giúp hết
thảy mọi người. Trong cuộc sống của loài người chúng
ta liên hệ với nhau rất nhiều. Ta được hưởng kết quả
công trình do bao nhiêu người khác làm ra. Hàng hóa do thợ
lắp ráp trong các xưởng, các nguyên liệu do thợ đào từ
hầm mỏ; ngay khi đọc hay nghe những lời giảng này, ta cũng
nhờ ơn bao nhiêu bạn đã làm việc. Nhờ họ chịu cực mà
ta được hưởng, được biết tới Phật pháp và những phương
cách nuôi dưỡng tâm tỉnh giác. Ngay cả chuyện đạt tới
quả vị Bụt, ta cũng phải nhờ vào lòng tốt của chúng sanh.
Nhớ như vậy, ta sẽ thấy gần cận với muôn loài. Ta sẽ
thấy chúng sanh lúc nào cũng tử tế cả.
6.-
CHO VÀ NHẬN
Quán
tưởng tới lòng tốt của chúng sanh, ta cũng nhớ nghĩ tới
thái độ vị kỷ nhiều lầm lỗi của ta và những phúc lợi
do lòng vị tha đem lại. Khi hiểu được những lợi hại của
hai thái độ trái ngược này, ta sẽ khởi tâm muốn trao đổi
địa vị của ta với người khác. Cho tới nay, ta luôn coi
trọng mình hơn hết. Nay ta thay đổi, quan tâm tới người
khác và coi mọi người đều đáng quý. Trước nay ta coi nhẹ
tha nhân. Nay ta nhận ra là làm hài lòng người khác quan trọng
hơn và nhu cầu cá nhân ta không có gì đáng kể. Ðó là cách
tu hoán chuyển mình vào địa vị người khác.
Khi
ta huân tập tâm ta như vậy, thì dù cho mọi người sống hay
cư xử cách nào, ta cũng vẫn thấy họ dễ thương. Ðó là
căn bản của phép tu cho và nhận. Do tình thương mà ta cho
- nghĩa là hiến tặng hạnh phúc và tính thiện của ta cho
người. Do lòng từ bi mà ta nhận - nghĩa là nhận hết vào
mình những khổ đau và tính ác của người khác. Tu tập như
vậy, ta nuôi dưỡng tâm thức trách nhiệm một cách mãnh liệt.
Ta tu tập như thế để có thể đem phúc lợi tới cho người
khác.
Khi
chúng ta có thể đạt tới Niết bàn trong tâm ta, ta sẽ thấy
người khác cũng có cơ hội như ta vậy. Và ta khởi tâm mong
ước giúp cho toàn thể chúng sanh được tới Niết bàn. Trước
tiên, ta phải đạt tới giác ngộ, đó là điều kiện duy
nhất để giúp chúng sanh. Mục tiêu của sự giác ngộ là
ta muốn giúp cho chúng sanh đạt đạo. Ðiều này đòi hỏi
một sự cam kết vững chắc và can trường, một cái tâm tỉnh
giác.
Càng
nuôi dưỡng tâm ý muốn mang phúc lợi tới cho chúng sanh, ta
càng có hòa bình và hạnh phúc trong tự thân. Khi có hòa bình
trong ta rồi, ta có nhiều khả năng hơn trong sự đóng góp
hạnh phúc cho người khác. Chuyển hóa tâm thức để có thái
độ tích cực chính là nhân duyên cho ta hạnh phúc trong nhiều
kiếp tương lai. Nó cũng giúp cho ta thoải mái, can cường và
có tinh thần cao. Ðối với tôi, tôi cố gắng giữ được
tâm luôn lạc quan bằng cách học và hành theo chánh đạo.
Khi gặp vấn đề, tôi giải quyết nó dễ hơn vì tôi luôn
nhớ và hiểu đời là bể khổ. Khi biết rằng mọi sự đều
tàn hoại và sự đau khổ cũng vậy, tôi sẽ không mất niềm
tin. Và tất nhiên không bao giờ tôi nghĩ tới chuyện tự hủy
diệt. Giáo pháp thực sự giúp ích chúng ta trong đời sống.
Nay
tôi đã hơn sáu mươi tuổi, và tôi đã thu thập đủ kinh
nghiệm để có thể nói một cách tự tin rằng Phật pháp
rất hữu hiệu và thích hợp cho nhiều người. Nếu các bạn
thành khẩn thực hành các nguyên lý của giáo pháp này thì
chắc chắn nó sẽ giúp bạn trong đời sống hiện tại cũng
như trong các đời sau. Tu tập rất có ích cho bạn và tất
cả chúng sanh. Nó giúp chúng ta biết cách bảo vệ và sống
hòa hợp với môi sinh. Không phải vì giáo pháp đã hữu dụng
thời xưa mà nay không còn hợp thời nữa. Trái lại nó rất
khế cơ, rất hợp với thời đại này.
Khi
người ta khuyên bạn nên thực tập theo Phật pháp không phải
chỉ vì muốn giữ lại một truyền thống cũ. Dù sao, khi đọc
và học về đạo Bụt, ta cũng đã đóng góp nhiều cho truyền
thống này. Nhưng khi thực tập bạn có thể tạo nên một
giá trị tâm linh nào đó cho tâm thức bạn. Khi người ta đóng
góp vào việc xây chùa hay dựng tháp, người ta nghĩ là mình
đang thực hành Phật pháp. Nhưng sự học hỏi và tu tập quan
trọng hơn nhiều, vì kết quả trên tâm linh có thể kéo dài
sang nhiều dời sau. Những công trình xây cất bên ngoài có
thể tàn lụi cùng thời gian. Những gì ta xây dựng trong tâm
sẽ còn lại lâu bền hơn nhiều. Chuyện quan trọng hơn hết
là ta phải sửa soạn chính ta để có thể sống hữu dụng
trong đời này và có cơ hội tu tập trong các đời sau. Sau
nữa, ta phải hiểu được rằng, những sự khổ đau phiền
não trong ta đều do kẻ nội thù, là cái tâm bất an mang tới.
Khi những cảm thọ bất an đó còn ngự trị trong tâm thức
ta thì ta không thể có hạnh phúc. Ta có thể làm chủ nhiều
phương tiện, nhưng chúng có bản chất phù du, nên chúng không
thể đem cho ta hạnh phúc vĩnh cửu. Ta không nên chỉ chú ý
tới các đời sau mà ngay bây giờ phải làm sao dứt bỏ được
các phiền trược. Với thái độ này, ta mới mong đạt tới
sự giải thoát tự do, dạt tới Niết bàn, ra khỏi luân hồi.
Ta có thể phát tâm rộng lớn hơn là sự mong cầu giải thoát
cho riêng mình: đó là tâm mong cho hết thảy chúng sanh được
giải thoát. Sự tu tập này giống như trẻ đi học: bắt đầu
là trường mẫu giáo, rồi lên tiểu, trung học... mục tiêu
ngày càng lớn hơn. Ðó là cách xây dựng những giá trị cho
tâm mình. Ta luyện tâm để thay đổi thái độ hiện tại
vị kỷ với thái độ từ bi nghĩ tới chúng sanh.
7.-
TÂM TỈNH GIÁC KỲ DIỆU
Ðược
làm một con người tự do và may mắn thật là quý, vì ta có
cơ hội để nuôi dưỡng tâm tỉnh giác. Có cơ hội tốt mà
không biết dùng thì thật đáng tiếc. Không có loài nào hơn
loài người trong khả năng tạo phúc lợi. Nhưng không phải
người nào cũng được tự do thực hành Phật pháp và có
phước gặp được Phật pháp. Sâu bọ hay các thú vật đều
không có những may mắn này. Chỉ có những người sanh sống
nơi có giáo pháp của Bụt mới được như vậy.
Trên
thế giới này có hơn năm tỷ người. Bao nhiêu thành phố
có được ảnh hưởng của Phật pháp hay sự quan tâm tự
nhiên của con người đối với đồng loại? So với các loài
sinh vật khác, loài người hiện diện rất ít. Trong đó những
người có đức tin tôn giáo còn nhỏ nữa và trong số các
tín đồ, số người có lòng từ bi đối với nhân loại lại
càng ít ỏi. Những con người như vậy rất khó tìm, vì không
dễ hội đủ các nhân duyên để cho họ hiện hữu.
Bạn
đừng bao giờ nghĩ là mình không có đủ khả năng tu tập
nghiêm chỉnh hay nuôi dưỡng các đức tính. Bất kỳ tuổi
nào, trình độ thông minh ra sao, so với loài vật thì chúng
ta đều có thể thực hành Phật pháp được dễ dàng. Ngay
cả khi đã già yếu hay bị tàn tật ta vẫn có trí khôn, đừng
nản chí. Người trẻ cũng nên hăng hái. Ta cứ nhìn vào cuộc
đời những hiền giả đã tu chứng để có phấn khởi. Các
vị này đã làm lợi mình lợi người biết bao nhiêu. Chúng
ta nên theo gương họ.
Khi
có cơ hội quý giá được làm một con người tự do và may
mắn, nếu ta không làm được chuyện gì hữu ích thì trong
tương lai, ta sẽ khó được làm người. Ngạn ngữ Tây Tạng
có câu nói rằng, muốn tu tập những tính thiện thì khó như
lừa kéo xe lên đồi cao, trong khi muốn vướng vào các hoạt
động bất thiện thì dễ như cưỡi xe tuột dốc vậy. Ta
có khuynh hướng làm những chuyện bất thiện ngay cả khi ta
nghỉ là không nên. Khi nghỉ mình là một tăng sĩ, hay là một
Phật tử thuần thành của Mật tông, ta vẫn có thể thiếu
hăng hái trong việc tu tập. Nhiều tính thiện ta không tập
được vì nó bị những ý tưởng bất thiện làm gián đoạn,
khiến nó trở nên mỏng manh. Một ánh chớp trong đêm đen
cho ta thoáng thấy cảnh vật chung quanh trong giây lát. Ta gặp
Phật pháp cũng khó khăn và ngắn ngủi như vậy thôi. Các
thiện tính của ta yếu kém vì sự tu tập và hành trì không
mạnh, trong khi các tính bất thiện thì đầy quyền phép và
xuất hiện liên tục. Vậy ta phải hết sức cố gắng để
nuôi dưỡng những tính tốt.
Chỉ
có tâm chánh niệm đưa ta tới giác ngộ là có khả năng diệt
trừ được những nghiệp dữ. Sau hằng hà sa số quán chiếu
để hiểu xem điều gì có lợi ích nhất cho chúng sanh, Bụt
Thích Ca cho biết điều đó chính là tâm tỉnh giác hay tâm
chánh niệm. Chư Bụt trong quá khứ đã nuôi dưỡng tâm chánh
niệm để giúp cho chúng sanh hết khổ. Quý ngài tu tập, tạo
bao nhiêu công đức và cuối cùng đạt tới giác ngộ. Mỗi
vị điều tu chứng và thấy chánh niệm chính là thứ có lợi
ích nhất cho tất cả mọi loài. Ðó là cái tâm trách nhiệm
giúp mọi loài có được các tính thiện, nó cũng giúp cho
chúng sanh được hòa bình và hạnh phúc. Dù là mới tu tập
hay đã sắp đạt tới Phật tánh, tất cả đều tùy vào vào
sự phát triển tâm tỉnh giác. Trong cuộc đời bình thường,
lòng vị tha mong phúc lợi cho người khác cũng rất quý giá.
Khi ta có thái độ tích cực muốn tự độ mình và độ người,
ta có khả năng gieo trồng những hạt giống hạnh phúc cho
mọi chúng sinh và giữ được hòa hợp với thiên nhiên.
Một
con người sống cực như một con chó trong cõi luân hồi, khi
có được tâm tỉnh giác, thì lập tức được coi là Bồ
tát. Người và trời đều phải kính trọng con người đó.
Tâm tỉnh giác giống như một thứ nước ngọt có thể biến
sắt thành vàng. Ðó là vì khi ta có chánh niệm, các hành vi
bên ngoài như nói năng, hành sử của ta đều được chuyển
hóa. Những tính thiện khác của ta giống như cây chuối, chỉ
có một chùm trái rồi bị tàn lụi, trong khi chánh niệm giống
như một thứ cây nhà trời, liên tiếp kết trái không bao
giờ ngưng. Nhờ vào tâm tỉnh giác này, chúng ta sẽ sớm được
giải thoát khỏi khổ đau, sợ hãi.
Tâm
tỉnh giác cũng là tâm mong cầu hết thảy chúng sanh đều
được giác ngộ. Nó hiện diện trong ta để ta có thể giúp
chúng sanh khổ não. Muốn phát triển nó, ta phải nhận ra là
mọi loài đều có cùng bản chất với ta. Ai cũng mong được
hạnh phúc thoát được đau khổ. Bản chất tâm họ cũng là
thứ ánh sáng trong trẻo như tâm ta. Những chướng ngại của
họ chỉ nhất thời và ngẫu nhiên. Tôi không nói rằng họ
không bị chướng ngại, vì chúng cũng như bản chất toàn
thiện và khả năng đoạt tới quả Bụt của tâm thức họ,
tất cả đều đã có từ khởi thủy. Bình thường ta bị
chướng ngại và vô minh nên không giác ngộ được, nhưng
khi ta loại bỏ được những ngăn che này thì tâm ta sẽ nhìn
thấu mọi sự.
Tìm
kiếm hạnh phúc, vượt thoát khổ đau là quyền tự nhiên
của mọi chúng sanh. Chúng ta có cơ hội ngang nhau trong việc
này. Khi so sánh hạnh phúc của tập thể với hạnh phúc của
một cá nhân, ta thấy ngay tập thể quan trọng hơn nhiều.
Hiểu vậy, ta biết ta nên đi tìm kiếm nguồn gốc hạnh phúc
cho muôn loại.
Khi
nói muốn mang chúng sanh tới Niết bàn, ta hiểu chuyện này
không thể làm bằng cách dùng của cải hay thần lực cá nhân.
Ta chỉ có thể chỉ cho họ con đường chánh đạo để đi
tới Niết bàn mà thôi. Muốn làm thế, chúng ta phải kinh qua
những đoạn đường đó. Nếu không có kinh nghiệm thực chứng,
chúng ta không giúp được bao nhiêu.
Tâm
tỉnh giác hay chánh niệm thật kỳ diệu và đáng trân quý
như ngọc như ngà, trên hết mọi tâm khác. Chỉ đạt được
tâm đó đã có nhiều phước báu rồi. Ngay trong cõi luân hồi,
nó mang cho ta nhiều kết quả tốt như tâm hồn được bình
an, sống hòa hợp với môi sinh. Khi chánh niệm trở thành động
cơ tạo ra các hành nghiệp, thì phước báu sẽ tiếp tục
tuôn tràn. Nếu ta hành trì Bồ tát đạo, thì nguồn ơn phước
đó sẽ liên tục hỗ trợ ta không bao giờ dứt.
Chí
nguyện độ sanh đã tốt hơn sự cúng dường chư Phật, nên
hành động cứu giúp chúng sanh còn tốt đẹp hơn nữa. Chúng
ta có thể hỏi tại sao khi chúng sanh mong thoát khổ và có
hạnh phúc, ta lại không để cho họ tự cố gắng? Câu trả
lời là tuy họ sợ khổ, nhưng họ luôn luôn chạy theo nó.
Tuy họ mong có an lạc, nhưng vì vô minh và bối rối, họ liên
tục hủy hoại sự bình an. Chánh niệm mang an lạc tới cho
họ. Thật không có gì quý bằng.
Khi
ta khen ngợi một người vì biết trả ơn những kẻ giúp đở
anh ta, thì ta sẽ phải ca ngợi các Bồ tát ra sao, khi các ngài
độ hết thảy chúng sanh dù họ không kêu cầu? Tặng một
bữa ăn cho người đói cũng đã được người đời coi là
công đức, thì ta nói sao về các Bồ tát luôn luôn độ cho
chúng sanh đạt tới an lạc của quả Bụt? Khi ta có thể nuôi
dưõng tâm Bồ tát như vậy, tự nhiên là ta sẽ được hưởng
phước, và được an lạc cũng như đạt được các ước
nguyện. Tôi thường khuyên mọi người là nếu muốn được
thọ hưởng nhiều nhất thì hãy nên làm việc giúp ích chúng
sanh. Những ai không nghĩ tới người khác, chỉ muốn đạt
được những ước vọng của riêng mình thật là điên rồ.
Khi
nói tới dân chủ và dân quyền, chúng ta nói tới sự an vui
của đám đông. Càng quan tâm và làm việc tốt cho xã hội,
chúng ta càng được an lạc. Mặt khác, nếu ta độc tài, tranh
hơn và áp đặt ý kiến mình trên nhiều người khác, thì
ta sẽ không đạt được các ước muốn riêng tư. Luật tự
nhiên là càng nhiều người bị áp bức thì càng nhiều chuyện
lộn xộn. Công dân có quyền lợi và bổn phận đối với
quốc gia, chúng ta là Phật tử cũng có bổn phận đem an vui
tới cho mọi loài. Ðó là sự cam kết của chúng ta. Muốn
có quyết tâm hơn, ta cần thanh lọc các ác nghiệp cũ để
chúng không còn xuất hiện sau này nữa. Vây nên ta hãy tham
gia vào các việc làm lợi cho chúng sanh và tránh những gì
làm hại họ.
Ðây
là chuyện mà mỗi chúng ta đều nên làm. Có người được
giải thoát rất mau, nhờ nghiệp thiện cũ của họ. Nhưng
đa số chúng ta không có hy vọng tới được cõi Niết bàn
một cách huyền diệu như thế. Khi ta trồng một cái hạt,
đừng mong cây đơm hoa kết trái ngay. Tôi nhớ hồi nhỏ sau
khi gieo hạt, tôi không cho nó thời gian để nẩy mầm mà đào
lên ngay coi nó ra sao. Như vậy không được, ta phải cho thiên
nhiên đi theo tiến trình của nó. Nếu ta vi phạm luật tự
nhiên và muốn giác ngộ ngay lập tức, thì ta sẽ thất vọng.
Tôi thường nói giỡn là khi ta nói tới thời gian ba năm hay
ba tháng để đạt giác ngộ, thì cũng là chuyện tào lao như
các khẩu hiệu tuyên truyền của người Trung hoa. Ta có thể
nhập thất ba tháng hay ba năm, khi trở ra vẫn chỉ là người
thường với râu tóc dài hơn mà thôi. Vậy nên ta phải nhìn
xa và giữ ước nguyện đạt tới giải thoát, dù cho ta cần
phải tu học nhiều đời nữa.
Chánh
niệm hay tâm tỉnh giác là nhân duyên duy nhất giúp ta đạt
đạo. Muốn nuôi dưỡng tâm này, cần nhất là ta phải thanh
lọc ác nghiệp và tạo nhiều thiện nghiệp. Khi ta thấy có
ảnh hưởng của nó trên tâm ta và bắt đầu thực chứng
được rồi thì ta nên thọ nhận một nghi lễ để trình lên
nguyện vọng muốn đi theo con đường Bồ tát của mình.
