.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG 3
SỐNG CÓ Ý
NGHĨA
Ðại
sư Gungthang thường dạy rằng: được làm người là một
cơ duyên hãn hữu, có khi ta chỉ được làm kiếp người một
lần duy nhất mà thôi. Dù chúng ta đã trải qua nhiều kiếp
trước đây, ta vẫn chưa biết sống kiếp này sao cho xứng
đáng. Hiện nay, chúng ta thật may mắn được sống khỏe mạnh
từ thể chất tới tinh thần, lại được tu tập theo Phật
pháp. Cuộc đời như vậy thật là độc nhất vô nhị. Giáo
pháp của Bụt cũng thật đặc biệt. Khởi thủy là do Bụt
Thích Ca Mâu Ni, rồi truyền xuống các vị đại sư người
Ấn Ðộ, sau lan qua Tây Tạng (cùng nhiều xứ khác), và ngày
nay truyền thống tu tập theo Phật giáo vẫn còn sống động
khắp nơi. Tại xứ tuyết băng Tây Tạng, chúng tôi có đủ
các truyền thống của đạo Phật. Ðời này thật là thời
điểm quan trọng để cho chúng ta cố gắng hết mình, đem
Phật pháp áp dụng cho chính mình và cho tất cả chúng sanh.
Dù
mỗi người chúng ta đều được làm kiếp người quý báu,
nhưng chúng thường hưởng đời mà không nhận biết được
sự quý giá này. Hơn nữa, chúng ta cũng không nhận ra giới
hạn của những cuộc sống khác trong đó ta không có duyên
được học và quý trọng giáo pháp: Chim muông, thú vật là
những loài sống bên chúng ta nhưng không có khả năng hiểu
được đạo. Dù làm người nhưng nếu chúng ta sanh ra, không
để tâm gì tới những lời giảng dạy của Phật, thì cũng
như loài vật ta không có hiểu biết. Nhiều người tuy có
nghe giảng dạy, nhưng vì lý do gì đó không thực tập thì
cũng không ích lợi gì mấy. Chúng ta thực là may mắn vô cùng,
chúng ta đã không bị sanh ra trong thế giới sơ khai không có
Phật pháp. Chúng ta cũng được tự do, không gặp nhiều trở
ngại lớn lao, có được những điều kiện thuận lợi như
vậy, ta nên nhận thức được tiềm năng và giá trị của
hoàn cảnh mình đang có.
Ngay
các nhà tiểu thương cũng biết rằng làm ăn phải có thời,
đúng chỗ. Muốn bán thứ hàng trái mùa thì chỉ thất bại
mà thôi. Tương tự như thế, nhà nông biết về thời tiết
đổi thay, họ biết khi nào phải trồng trọt ngay, dù cho có
phải làm việc ngày đêm cũng rán làm cho kịp. Là người
được tự do và có duyên may, ta phải nắm lấy cơ hội để
tận dụng những thuận duyên này. Dĩ nhiên khi nói là chuyện
tu tập rất quan trọng, tôi không có ý bắt mọi người ai
cũng phải tu. Bó buộc người ta làm chuyện gì ngay cả chuyện
tu học, cũng là điều không tốt.
Sự
thực tập quan trọng nhất trong đạo Phật là việc chuyển
hóa tâm thức. Vì muốn chuyển hóa tâm nên chúng ta mới thiền
quán. Thiền là phương tiện giúp ta làm quen với những hình
thái tích cực của tâm ý. Trong cách thực tập này, ta cũng
tìm cách chế ngự cái tâm nổi loạn và vô kỷ luật của
mình. Tâm ý cũng được gọi là ý thức (Mind) là thứ có
thể huấn luyện được. Giống như khi ta tập luyện cho loài
ngựa, lúc đầu nó là một con ngựa hoang khó điều phục,
nhưng ta huấn luyện nó dần dần, nó sẽ nghe lệnh ta.
Thời
gian đầu tiên cũng vậy, khi tâm ý ta chưa quen tùng phục,
nó thường có nhiều ý nghĩ bất thiện và ta khó kiểm soát
được nó. Khi ta thiền quán và làm quen với những gì tốt
lành, ta có thể huấn luyện và từ từ chuyển hóa tâm ý.
Thiền quán là cách để ta hay đổi tâm ý, chuyển đổi nó
thành ra tốt đẹp hơn.
1.-
CHUYỂN HÓA TÂM THỨC
Khi
ta suy ngẫm về giá trị của đời người, cùng có cơ hội
hãn hữu ta đang được hưởng, ta sẽ thấy cần phải chuyển
hóa tâm thức của mình, và ta cũng mong tới được bờ giác
nữa. Ta cần thiền quán để tập cho tâm ý quen với chủ
đề ta quán tưởng, thí dụ quán Từ bi chẳng hạn. Như vậy
ta sẽ chuyển hóa tâm ý của mình. Thí dụ như mỗi khi nghĩ
tới những đau khổ của chúng sanh, chúng ta nảy sinh tâm trách
nhiệm, muốn giúp đở họ. Từ gần gụi, ta trở nên quen
thuộc với những hành động tích cực.
Khi
ta gặp một người nào đó lần đầu tiên, ta không nhận
biết được những thái độ, thói quen hay cảm xúc của họ.
Nhưng khi quen với họ hơn, ta sẽ quen với những cách phản
ứng của họ. Chơi với bạn tốt thì ta sẽ nhiễm tính tốt.
Ta cũng có thể giảm bớt được những thói xấu nhờ có
bạn tốt, vì ta cẩn thận không muốn làm gì phiền lòng bạn.
Trong tâm thức chúng ta có rất nhiều, không thểâ đếm xuể
các loại tâm ý đặc biệt. Tâm ý có ba loại chính: một
là trung tính, hai là có ích lợi (thiện) và ba là loại bất
thiện. Ta cần phải làm quen với tâm sở thiện cũng giống
như ta nên chơi với bạn tốt. Ta cần nuôi dưỡng những tâm
sở tích cực, những thứ có lợi lạc cho ta. Giống như khi
làm vườn, ta nên trồng hoa và những cây hữu dụng, nhưng
ta cũng phải nhổ bỏ cỏ dại đi.
Khi
nói tới chuyện tạo những gì có giá trị tinh thần cho tâm,
ta phải tự mình cố gắng xử dụng ngay tâm trí mình. Ta phải
giảm thiểu những nhận thức bi quan tiêu cực và nuôi dưỡng
tăng cường những gì tích cực. Trước hết, phải biết phân
biệt những nhận thức tích cực với những gì tiêu cực
có tính cách phá hoại. Ta phải nuôi dưỡng và phát triển
những gì tốt đẹp. Với những tâm ý phiền não như giận
hờn, ghen tỵ, tranh đua, vướng mắc, ta cần tìm hiểu vì
sao chúng lại có hại, vì đâu chúng khởi lên trong tâm thức
ta để làm cho ta đau khổ, mất hạnh phúc? Hiểu được những
trở ngại do chúng mang tới, ta có thể làm cho chúng nhỏ lại
được. Ta không thể nói một cách giản dị rằng những nhận
thức đó có hại vì trong kinh điển dạy như thế. Ta phải
tự quan sát mình để thấy được chúng có hại ra sao.
Thí
dụ như khi ta nổi giận và biểu lộ cơn giận đó ra một
cách mạnh mẽ dữ dằn, ta thường nói những lời khó chịu
với người khác. Khi nổi điên lên, ta không còn sáng suốt
phân biệt gì được. Mặt mũi ta xấu xí một cách khủng
khiếp, thái độ bất an thấy rõ. Những gia đình liên tục
cãi nhau có hạnh phúc hơn chăng? Những nơi người ta chống
đối, tranh đấu với nhau liệu có hòa bình không? Dĩ nhiên
là không. Nếu bất ngờ ta có một người khách hay nóng giận,
có lẽ ta không hoan hỷ tiếp đón họ. Nhưng nếu khách là
một người vui tính, từ ái thì ta sẽ mời ngồi chơi và
rót trà ngay. Ta có thể dễ dàng nhận ra những tính giận
hờn, ganh tỵ, háo thắng nơi người khác.
Căn
bản của tất cả những tính bất thiện nơi ta gồm ba thứ:
tham, sân và háo thắng. Khi ta biết được những tai hại của
các tâm ý này, ta có thể nhận ra được những dấu hiệu
khi chúng sắp phát khởi. Nhận biết được như thế,ta có
thể hướng dẫn tâm ý mình về phía thiện. Thực tập theo
cách này rất hiệu quả và có ích lợi. Khi nói về thiền,
chúng ta thường nghĩ tới chuyện lên núi cao ngồi tĩnh lặng.
Phật pháp thực ra là để chuyển hóa tâm thức, cách duy nhất
để chuyển hóa là ta phải thiền quán và thực tập liên
tục. Dù ở đâu, ta cũng có thể thực hiện được sự chuyển
hóa này.
Mỗi
khi ta đạt tới một sự hiểu biết nào đó qua cái nhìn phân
tích của thiền quán, ta nên chú tâm vào điều đó một thời
gian. Kết hợp thiền quán phân tích với sự chú tâm vào một
đối tượng có thể giúp ta chuyển hóa tâm ý mình dần dần.
Phương pháp này hữu hiệu hơn là tụng cả trăm lần bài
kinh cầu nguyện. Theo phương pháp này, ta có thể làm cho cuộc
đời quý giá có ý nghĩa. Thay vì thực tập ngay, bạn lại
hẹn sẽ làm vào ngày mai hay tháng sau hoặc năm tới bạn,
sẽ không làm kịp. Nếu bạn nghĩ mình chỉ có thể thực
tập sau khi làm xong dự án này hay thu xếp xong công chuyện
kia... thời gian tu tập sẽ không bao giờ tới. Ta biết rằng
khi vướng vào chuyện đời, càng ngày ta càng có nhiều việc
để làm hơn, giống như biển không bao giờ ngưng nổi sóng.
Tốt hơn ta nên biết dừng lại và bắt đầu tu tập.
2.-
BẮT ÐẦU NGAY
Khi
tôi còn nhỏ, tôi chỉ phải học thuộc lòng và tụng kinh.
Tôi có nhiều ngày giờ nhưng không thích tu lắm. Khi tôi vào
lứa tuổi hai mươi, tôi cố gắng hơn và có chút hiểu biết
về chân lý, Niết bàn. Tôi hy vọng được tĩnh tu dài hạn
chừng ba năm hoặc ba tháng, nhưng càng ngày tôi càng bận bịu
không có thì giờ. Hiện tại dù bận rộn, tôi vẫn thường
tạo ra thì giờ để tu tập.
Dù
là tăng ni đã thọ giới sống trong phòng riêng, họ cũng luôn
luôn có chuyện làm. Không bao giờ bạn có thể được tự
do, ra khỏi tất cả các sinh hoạt. Vậy nên mỗi ngày bạn
phải kiếm cho ra thì giờ để tu học. Mỗi sáng bạn nên
dạy sớm hơn để có thể thiền quán trong vòng một hai tiếng
đồng hồ. Nếu bạn bảo rằng khi hết việc bạn sẽ thực
tập, có nghĩa là bạn không thực sự muốn tu học theo Phật
pháp. Thầy Gangthung đã nói: "Nếu bạn muốn tu tập, đừng
bao giờ để tới ngày mai hay ngày mốt mới bắt đầu". Phải
bắt đầu ngay bữa nay, để tới một ngày nào đó có thể
khi có thì giờ thì bạn đã chết mất rồi. Chết là chuyện
chắc chắn, nhưng khi nào chết thì không ai biết được, nó
có thể tới bất kỳ lúc nào, nên ta không thể trì hoãn việc
tu tập.
Tu
tập khi còn trẻ là chuyện quan trọng vô cùng, vì khi đó
thân tâm ta còn nhiều năng lực và tươi mát. Bình thường
khi già yếu người ta thường bị bệnh và trí nhớ suy giảm.
Những người tu tập từ khi còn trẻ, lúc già thường cũng
hoạt động nhanh nhẹn, tươi mát và trí tuệ minh mẫn. Khi
tu tập lâu, quen với cách chuyển đổi tâm thức rồi, thì
lúc chết ta có thể đưa tâm ý ta vào việc thực tập thiền
quán. Thực tập giỏi, bạn sẽ vui vẻ đón chào cái chết.
Tu tập vừa vừa, bạn sẽ không sợ chết và dù tu tập kém,
sẽ không có gì tiếc hận lúc lìa đời.
Bắt
đầu, chúng ta tịnh hóa các hành nghiệp bằng cách nhìn nhận
chúng một cách cởi mở. Thỉnh triệu mười phương chư Bụt
và chư Bồ tát, chúng ta sám hối những nghiệp dữ đã phạm
vì vô mình từ bao kiếp. Chúng ta xin nhận lỗi và sám hối.
Vì sao ta lại sám hối tất cả các nghiệp xấu? Vì nếu không
làm, các nghiệp này sẽ có khả năng chỉ huy ta khi cái chết
tới. Vậy nên ta cầu tha lực, nương tựa vào đó để thoát
khỏi những quả xấu các các nghiệp mình đã gây. Ta phải
nhận ra và tịnh hóa các nghiệp dĩ cho nhanh vì cái chết không
báo trước ngày nào sẽ tới. Nó không đợi cho ta làm xong
mọi thứ như định, nó không chờ và cho phép ai sống thêm
chỉ vì người đó chưa thực hiện đủ thiện nghiệp. Dù
khỏe mạnh hay đau yếu cũng không khác: cái chết không đợi
ai bao giờ. Nó có thể lấy mạng ta khi ta chưa sẵn sàng.
Cuộc
đời qua mau và rất phù du. Ta sẽ phải bỏ lại tất cả
của cải và thân quyến. Nếu không hiểu được vậy ta thường
hay tạo nghiệp dữ của thân, khẩu, ý đối với những người
thân hay sơ. Dù họ có thân tình hay không, tất cả rồi sẽ
biến đi. Bạn cũng chết. Hơn nữa, chúng ta dù đã tạo nhiều
nghiệp xấu hay tốt với họ rồi ta cũng sẽ ra đi. Bạn,
thù, bà con, của cải tất cả đều tạm bợ, vô thường
và sẽ biến đi hết. Sẽ tới lúc chúng ta không thể nào
nhìn thấy hay nghe được tiếng họ nữa. Ta chỉ còn thấy
họ trong trí nhớ. Ta sẽ thấy mọi chuyện như một giấc
mơ. Tất cả đều là hiện tượng và môi trường mà ta đã
sống đều chỉ là những ký ức mờ nhạt.
3.-
THIỆN NGHIỆP VÀ ÁC NGHIỆP
Tuy
nhiên những nghiệp dữ mà ta đã tích lũy sẽ còn đó, dù
cho thù và bạn ta đã biến đi, những nghiệp dĩ sai trái đã
gây ra sẽ còn vướng bận trong tâm ta, làm cho ta phiền não,
nếu ta không tìm cách tịnh hóa và tẩy bỏ chúng. Vì không
hiểu được bản chất phù du của mình, chúng ta không biết
rằng mình chỉ còn sống một thời gian ngắn nữa thôi, nên
chúng ta bị tham, sân, si hướng dẫn gây nên bao ác nghiệp.
Chúng ta lãnh đạm với chúng sanh, quyến luyến bạn bè và
hờn giận ganh ghét kẻ thù. Ta tích lũy những nghiệp dĩ như
vậy từ lâu đời, trong khi đó cuộc đời ta cứ ngắn dần.
Ngày không chờ và đêm cũng không đợi. Từng phút từng giây
thời gian trôi qua và cuộc đời ta cứ thu ngắn lại. Ðời
người tiến tới chung cuộc một cách chắc chắn, không thể
thay đổi được.
Cuối
cùng ta chỉ có thể nương tựa vào những nghiệp thiện ta
đã làm. Nếu bạn sống có đạo đức, nếu đã thực tập
mười điều thiện, phát triển lòng từ bi tâm bạn có thể
có những năng lực mạnh mẽ của thiện nghiệp, thì đó là
những thứ duy nhất giúp được bạn khi cuộc đời chấm
dứt. Không ai và không có cái gì khác giúp bạn nữa. Lúc
đó tâm bạn không còn chỗ ẩn náu, và bạn có thể thấy
mình đã không tạo nhiều nghiệp thiện. Bạn sẽ than thở:
"Chỉ vì vô minh, không hiểu biết về tình trạng dễ sợ
lúc này, lại bị lôi cuốn vào vòng dục lạc của những
thú vui nhất thời mà tôi đã tạo nên nhiều nghiệp dữ trong
cuộc đời phù du. Tôi đã lãng phí thì giờ vào những hoạt
động vô nghĩa".
Nơi
nương tựa đích thật chính là Phật pháp. Chúng ta cũng quy
y với Phật và các vị Bồ tát, nhưng theo trong kinh đã dạy
chư Bụt không tẩy sạch được nghiệp ác cho chúng sanh bằng
cách dùng tay gở bỏ chúng đi. Chư Bụt cũng không thể hoán
chuyển trí tuệ của các ngài vào tâm ý chúng ta được. Chúng
sanh chỉ được giải thoát khi thấy được chân lý. Chúng
ta phải nương tựa vào pháp là thứ thật sự bảo vệ ta...
Như
vậy, nghĩa là ta phải nương vào sự thực tập Phật pháp.
Khi ta bị một chứng bệnh thông thường, ta cũng phải nghe
lời y sĩ. Vậy thì khi đau khổ vì trăm ngàn phiền não trong
tâm thức, ta nương vào pháp nghĩa là phải nghe lời dạy của
đức Thế Tôn, ngài vốn được coi là một lương y. Không
có thuốc nào chữa khổ đau tận gốc rễ ngoài lời giảng
của Bụt.
Trong
thế kỷ này, hai trận thế chiến I và II đã giết hại nhiều
người. Một tập thể đông đảo (khoảng 6 triệu) người
Do Thái đã bị Ðức Quốc Xả giết hại. Nhiều triệu người
chết trong thời Stalin, thời Mao. Nguyên nhân vì tâm thần những
người cầm quyền đó bị nhiễu loạn. Khi chúng ta không biết
cách kềm chế những rối loạn trong tâm thức, thì chúng sẽ
tự tung tự tác, kết quả có thể là những tàn phá khủng
khiếp. Chúng ta có thể nói rằng một người điên loạn cũng
có khả năng hủy diệt cả nhân loại rồi. Tất cả những
rắc rối khổ đau, phiền trược của loài người trên thế
giới này đều vì những trạng thái tâm thần bất an, nhiễu
loạn.
Tất
cả những tính thiện, hạnh phúc đều do ý muốn làm việc
có ích lợi giúp người khác (lợi tha), dù cho các công trình
đó thuộc về thế tục hay trong chiều hướng tâm linh. Dù
cho ta không theo một tôn giáo nào, tất cả chúng ta ai cũng
cần có tấm lòng thiện. Như vậy ta sẽ thực chứng được
hòa bình và an lạc. Khi có người cười với mình, có phải
ta sung sướng hơn chăng? Khi người ta nhăn nhó hay cằn nhằn
mình, ta cũng khó chịu chứ? Chúng ta là loài sinh vật sống
thành xã hội, nguyên tắc căn bản của đời sống là sự
hợp tác và sự tương quan mật thiết với nhau. Tinh thần
hợp tác được xây dựng trên lòng từ ái đối với nhau.
Nếu chúng ta có lòng từ ái, thì chúng ta sẽ có hạnh phúc
trong gia đình, với hàng xóm và cộng đồng mình đang sống.
Ngược
lại nếu ta cứ âm mưu chống đối giận dữ nhau, ta sẽ có
thể rất giàu sang nhưng không có hạnh phúc. Trong những chế
độ độc tài, có những kẻ làm gián điệp theo dõi mọi
hành động trong cộng đồng, ngay cả trong gia đình họ nữa.
Kết quả là không còn ai tin được ai, lúc nào cũng nghi ngờ
mọi chuyện. Một khi chúng ta không còn tin tưởng, và không
biết quý trọng lòng thành thực của ai khác thì làm sao ta
sống hạnh phúc được? Ta sẽ phải sống trong một xã hội
đầy sợ hãi, nghi ngờ và ta sẽ giống như một con quạ,
sợ cái bóng của chính nó.
Vậy
nên có tâm ý muốn tạo phúc lạc cho người khác, cho chúng
sanh là điều kiện thiết yếu cho một cuộc đời an lạc
Ngày nay, tại các nước đã phát triển, có nhiều tiến bộ
về kỹ thuật và vật chất. Nhưng vì con người thiếu bình
an nội tại và lòng từ bi trong thâm tâm, các quốc gia này
đang phải đối diện với khá nhiều vấn đề. Nếu nghĩ
rằng chỉ có tiền là đủ đem lại hài lòng và hạnh phúc
thì thật quá lầm lẫn. Lòng vị tha chắc chắn là một điều
kiện đáng kể.
Do
sự tiến bộ về kỹ thuật tiềm năng phá hoại của chiến
tranh hiện đại lớn không thể tưởng tượng. Dĩ nhiên chúng
ta sẽ cho rằng đôi khi phải cần tới chiến tranh để xây
dựng hòa bình. Nhưng làm sao ta có hòa bình lâu dài căn cứ
nơi chiến tranh, hận thù và bắn giết kẻ khác? Sự hợp
tác thực thụ, hòa bình và phúc lạc lâu bền chỉ có thể
xây dựng trên tinh thần từ bi bác ái. Khi nào đi ra nước
ngoài giảng pháp, tôi cũng nhấn mạnh rằng lòng từ ái thương
người rất là quan trọng. Trong kinh điển đạo Phật điểm
chính yếu là phải biết nuôi dưỡng lòng vị tha. Ðó là
lòng mong mỏi phát triển Phật tánh để cứu khổ cho mọi
loài.
