.
SỐNG HẠNH PHÚC -
CHẾT BÌNH AN
The Joy
of Living - Dying in Peace
Ðạt
Lai Lạt Ma thứ 14
Dịch:
Chân Huyền
CHƯƠNG 6
TINH TẤN
Tinh
tấn là một yếu tố quan trọng trong việc nuôi lớn tâm tỉnh
thức. Ngay trong đời sống hằng ngày, muốn hoàn thành công
việc gì ta phải có kiên trì. Tương tự như vậy, ta phải
cố gắng trên con đường đạt tới những mục tiêu tâm linh.
Khi để cho lười biếng chỉ huy, ta sẽ không tinh tấn chi
cả. Tuy nhiên, ta phải biết khéo léo trong khi gắng sức. Người
Tây Tạng có một ngạn ngữ nói rằng sự cố gắng phải
liên tục như một dòng nước đang luân lưu. Tinh tấn có nghĩa
là ta cần chú tâm vào bất cứ việc gì ta làm. Trong tinh thần
đó, khi tu tập ta sẽ có niềm vui. Kiên trì không có nghĩa
là cố gắng tối đa một thời gian rồi có lúc buông lơi.
Chìa khóa của thành công là phải gắng sức luôn luôn và
đều đặn.
Trong
nhiều loại trở ngại, nản lòng là một rào cản lớn không
cho ta tiến bước trên con đường tâm linh. Ðó là do sự thiếu
tự tin, không đủ tự trọng. Ðể đối phó với thái độ
có hại đó, ta phải có lòng tin và quyết tâm. Nghĩ tới Phật
tánh là một thái độ rất tích cực và mạnh mẽ để đạt
được những điều kể trên. Ai cũng có Phật tánh,có hạt
giống giác ngộ. Do đó mỗi chúng ta đều có khả năng bình
đẳng với mọi người. Ta nên dựa vào tiềm năng bẩm sinh
đó để vượt qua những cơn nản lòng, thất vọng.
Nghĩ
tới chư Bụt trong quá khứ cũng là điều có lợi ích. Quý
ngài không đạt tới giác ngô ngay tức thì. Lúc đầu quý
vị đó cũng giống như người bình thường, khổ sở vì lo
âu và phiền não. Chỉ sau khi đã kiên trì tu luyện trong nhiều
kiếp, quý ngài mới đạt tới cứu cánh toàn giác. Chúng ta
nên hứng khởi, học hỏi từ các tiền kiếp của các ngài
để đi theo bước chân họ trên con đường tâm linh thích
hợp. Ðiều quan trọng là ta không nên để tánh lười biếng
và tinh thần chủ bại trùm lấp ta. Ngược lại ta phải nuôi
dưỡng lòng tự tin và có tín tâm vào khả năng cùng tiềm
năng của chính mình.
1.-
VƯỢT THẮNG TÍNH LƯỜI BIẾNG
Vậy
thì tinh tấn nghĩa là gì? Ở đây nó có nghĩa là ta biết
vui hưởng khi thực hành các nghiệp thiện. Bạn có thể vẫn
làm những việc vô thưởng vô phạt hay gây ra những hành
nghiệp bất thiện, nhưng trong Phật giáo, như thế không được
coi là tinh tấn. Thực tập tinh tấn có nghĩa là tạo được
nhiều niềm vui lớn khi phát triển các tính thiện. Một trở
ngại của tinh tấn là tánh lười biếng. Nó thể hiện ra
nhiều cách khác nhau: như tánh trì hoãn, hoặc là bị vướng
mắc vào những hoạt động vô bổ, không chịu tin vào khả
năng của mình, tất cả đều vì giải đãi (lười biếng)
cả. Ta phải vượt thắng những trở ngại này.
Mục
tiêu của Phật pháp là chuyển hóa tâm thức. Nó cũng giống
như một công trình xây dựng ngoài đời, nhưng nó phải được
thể hiện từ trong nội tâm ta. Khi khởi sự xây cất, ta phải
tìm coi những hoàn cảnh và phương tiện cần thiết là gì
để thu thập cho đủ vật liệu. Tương tự như vậy, ta cần
nhận diện những trở ngại và dẹp bỏ từng thứ một khi
muốn chuyển hóa tâm mình. Trở ngại chính của sự phát triển
các tính thiện trong tâm là sự lười biếng, không có khả
năng hoàn thành chuyện gì cả. Khi bạn bị vướng vào những
hoạt động vô nghĩa và không thể tu tâm, đó là lười biếng.
Khi bạn trì hoãn công việc tới mai mốt hay bỏ qua đi, bạn
cũng đang biếng nhác vậy. Nếu bạn nghĩ: "Một người như
tôi, làm sao mà tu cho được?" thì cũng là một hình thái giải
đãi.
Muốn
vượt thắng tính lười, ta phải biết lý do vì sao ta lười.
Bạn chỉ biết tính đó khi loại bỏ được những căn nguyên
của nó. Những căn nguyên khiến ta lười là: phí phạm thì
giờ, nghỉ ngơi hay ngủ nhiều quá; không xúc động trước
cảnh khổ luân hồi. Ðó là ba yếu tố chính làm cho ta lười
biếng. Càng nhận diện được sự giả tạm và những khổ
đau trong cõi nhân sinh, bạn càng mong vượt thắng được chúng
nhiều hơn. Trái lại, khi bạn không nhìn thấy cảnh khổ trên
đời và cảm thấy đang sung sướng, thì bạn sẽ không có
ý muốn được giải thoát. Ngài Aryadeva, một vị học giả
nổi danh người Ấn đã nói: "Một con người không bị thất
vọng vì cuộc đời thì đâu có để tâm tới Niết Bàn? Thật
khó xa lìa thế tục khi ta đã ở quen trong nhà thì đâu có
muốn đi ra ngoài nữa".
Những
phiền não trong tâm được ví như cái lưới, một khi bạn
bị rơi và vướng mắc vào cái lưới đó, bạn sẽ không
thể gỡ ra được để có tự do, mà sẽ bị chúng đưa vào
cõi sanh tử. Một cách để chống bệnh lười biếng là nghĩ
tới vô thường và nghĩ tới cái chết. Tử thần không có
lòng từ bi. Dần dà, từng người một, thần chết sẽ mang
ta đi. Chúng ta luôn luôn nghe nói người nào đó đã chết
tại một nơi nào, trong một thời điểm nào. Khi nghe tin một
người đã chết, ta thường nghĩ rằng họ đã tới số, mà
không bao giờ nghĩ tới lượt mình cũng sẽ ra đi.
Chúng
ta cũng giống như lũ cừu khờ dại khi nghĩ rằng các bạn
mình bị đưa vào lò sát sanh, mà không biết là chính chúng
cũng sẽ bị như vậy. Không sợ chết nên chúng tiếp tục
vui chơi, ăn ngủ. Khi nào thần chết tới là điều ta không
thể biết được. Nó có thể tới ngay thăm ngay khi ta vừa
mới bắt đầu một công việc gì đó. Thần chết không cần
biết ai có dự án vừa khởi sự hay đang tiến hành dở dang.
Nó có thể tới bắt ta bất cứ lúc nào, một cách bất ngờ.
Vì ta thế nào cũng chết, nên khi còn sống, ta nên rán tạo
thiện nghiệp. Khi bị thần chết viếng rồi thì muốn bỏ
tính lười cũng đã quá trễ, lúc đó không thể làm gì được
nữa. Vậy chớ nên chần chờ, đừng tính để chuyện tu tâm
dưỡng tánh tới ngày mai, hãy bắt đầu ngay đi.
Nếu
bạn luôn trì hoãn, để việc phải làm tới ngày mai hay năm
tới... thì dù có làm một danh sách những việc đó rồi ghi
vào máy Computer, bạn vẫn sẽ bị đau nặng bất thình lình
một ngày nào đó. Bạn sẽ phải vào nhà thương và uống
những thứ thuốc bạn chẳng ưa chút nào. Bác sĩ có thể
giải phẩu cho bạn. Có khi những người mặc áo trắng đó
tỏ ra tử tế, thương người; cũng có khi họ mổ xẻ bạn
như mở một cái máy ra sửa, chẳng có tình cảm chi hết.
Bình
thường khi người ta khỏe mạnh, họ thường ba hoa là họ
không tin ở kiếp trước kiếp sau gì cả. Nhưng khi cái chết
gần kề, bạn sẽ nhớ lại tất cả những ác nghiệp. Tâm
bạn có thể tràn đầy ân hận, đau khổ và phiền não. Bạn
có thể nghe thấy cả tiếng chuông trong địa ngục và sợ
đến vãi cả nước tiểu ra giường. Một người quen nói
với tôi rằng khi anh ta bị ốm nặng và thân thể rất đau
đớn, anh nghe nhiều tiếng động rất lạ tai. Có khi người
ta ngất xỉu vì quá đau đớn. Trước khi tỉnh lại, hình
như nhiều người thấy mình đã chui qua một cái ống. Ðó
là kinh nghiệm cận tử. Những người tạo nhiều nghiệp xấu
đều kinh hoàng khi họ thấy tứ đại trong thân họ tan rã.
Những người đã tạo nhiều nghiệp lành khi gần chết lại
cảm thấy hài lòng và sung sướng.
Khi
chúng ta sống, ta có thể bị kẻ thù bắt ta phải xa rời
quê hương, nhưng ta vẫn mong có ngày xum họp với bà con thân
thuộc. Nhưng khi chết thì ta phải vĩnh viễn lìa xa gia đình
và bè bạn. Ngay cả cái thân thể yêu quý đã từng theo bạn
đi bất cứ đâu, bạn cũng sẽ phải lìa bỏ nó. Và khi chết
rồi mọi người sẽ coi cơ thể ta là thứ nguy hiểm, dễ
sợ và xấu xí vô cùng. Mấy vị Du già (Yogins) thường nói:
cái thây ma luôn luôn hiện diện trong ta, ngay cả khi ta còn
sống. Thân mạng đó là thứ khó kiếm trong kiếp sau. Vậy
nên khi có may mắn làm người, ta không nên vì ngu muội mà
chỉ ngủ nghỉ thôi.
Phật
pháp thượng thừa của Bụt mang lại cho ta nguồn suối an
lạc bất tuyệt. Bỏ lỡ con đường cao tột nầy và bị lôi
cuốn vào những cơ duyên gây khổ não thì thật là bất hạnh.
Hãy kềm chế mình, đừng trì hoãn nữa mà nên cố gắng để
có sáng suốt thực hành chuyện tu tập. Nó giống như chúng
ta sửa soạn ra trận vậy. Trước hết bạn phải có tự tin
để chiến đấu, bạn phải quyết tâm chịu cực khổ để
thắng được tất cả những trở lực. Giống như một vị
tướng cần có vũ khí tốt và lính thiện chiến, bạn phải
có trí tuệ và nhiều đức tính. Khi đánh nhau, bạn phải
xử dụng tối đa hỏa lực của khí giới, nhắm thẳng vào
kẻ thù. Tương tự như vậy, dù tu tập theo phương pháp nào,
bạn cũng phải xử dụng trí tuệ một cách tỉnh thức, có
chánh niệm. Kết quả, bạn sẽ thắng kẻ thù lười biếng
và kiểm soát được thân tâm, tiến bước trên con đường
tâm linh. Nếu nghĩ rằng bạn không có khả năng và thiếu
thông minh thì thật là sai lầm. Ngay trong đời sống hằng
ngày, bạn cũng nên tự tin khi muốn làm việc gì đó. Người
Tây phương hay thiếu lòng tự tìn nơi chính mình, tôi không
biết người Tây Tạng và các xứ văn hóa khác có bị như
vậy không. Nhưng không tin ở chính mình làm cho ta rất suy
nhược. Trong việc thường ngày hay trên con đường tâm linh,
ta đều cần giữ vững lòng tin.
2.-
TIN MÌNH VÀ TIN PHẬT PHÁP
Những
vị đạo sư Kadampa trong thời xưa không có gì để vui thú
trong những cái hang khô khốc của họ. Nhưng họ có quyết
tâm tu luyện nên họ sống trong đó, rất an nhiên và tự tại.
Họ dùng tất cả con người của họ - thân, khẩu và ý -
để thực tập Phật pháp. Không bao giờ họ sợ bị thiếu
thực phẩm hay phương tiện và sẽ chết. Các ngài nghĩ dù
có phải đi xin ăn, họ cũng vẫn dùng thì giờ để cầu nguyện
khi chờ chết chứ không phí thì giờ vào chuyện gì ngoài
việc tu tập. Khi chết ta thường lo âu không biết ai sẽ giúp
ta, ai sẽ cầu nguyện cho ta? Nhưng các đạo sư Kadampa thường
nghĩ: "Sao ta lại phiền ai giúp cho? Ta thích chết tự nhiên
trong hang trống, như một con thú hay con chim vậy". Ðó là sự
quyết tâm tu tập của các ngài. Họ đã nói: "Nếu tôi bị
coi như một kẻ vô gia cư, tôi cũng vui lòng chấp nhận. Nếu
tôi phải sống như loài chó, tôi cũng cam tâm. Tôi sẽ đi
lang thang như một con chó, nhưng vẫn tu tập theo Phật pháp".
Quyết tâm như vậy thì cuối cùng họ sẽ trở thành Phật.
Nếu
bạn thật sự muốn tu tập, bạn phải có quyết tâm và tự
tin. Thiếu tự tin, bạn không hoàn thành được chuyện gì
hết. Hãy đi theo con đường tâm linh với tín tâm và không
mong cầu gì. Ðọc chuyên đời ngài Milarepa, ta biết ngài đã
bỏ hết thảy: bạn bè, cha mẹ, của cải. Khi muốn làm tròn
nhiệm vụ đối với một người hay vài người, chúng ta phải
có quyết tâm. Dĩ nhiên là khi muốn nuôi dưỡng tâm chánh
niệm, muốn đem lợi ích tới mọi chúng sanh, ta càng cần
có tâm Bồ đề kiên cố hơn.
Nếu
bạn nói bạn muốn nuôi dưỡng tâm chánh niệm để giúp chúng
sanh, rồi lại bảo bạn không đủ khả năng, thì thật là
chuyện ngược đời. Có tinh thần can đảm không có nghĩa
là bạn phải kiêu căng. Tự mãn và tự tin là hai điểm khác
nhau. Khi bạn nuôi dưỡng những tính thiện như từ bi, chánh
niệm; bạn cần làm với sự tự tin. Chánh niệm đưa tới
từ lòng từ bi, thương xót mọi loài. Bạn không bị ràng
buộc với ý niệm sai lầm về Ngã nữa. Bạn có thể hết
lòng phấn đấu để có quyết tâm.
Nhìn
lại nước Tây Tạng, chúng ta phải luôn luôn tin là ta sẽ
thắng. Ta phải có lòng tin. Ðể tôi nói cho bạn nghe một
câu chuyện, vào khoảng năm 1979, trong thời gian hơi được
nới lỏng, khi người Tây Tạng được ra nước ngoài thăm
bà con, có một người tới nói chuyện với tôi. Anh ta sanh
khoảng năm 1950 tại Lhasa và lớn lên ở đó, nên được thấy
những cuộc nổi dậy của dân chúng. Anh nói người Trung Hoa
rất khôn lanh và dân Trung hoa thì quá đông. "Khí giới của
họ đầy dẫy, nên chúng tôi không làm gì được", anh ta rất
chán nản. Tôi nghĩ tiếng súng của những năm 1950 vẫn còn
rền vang trong tai anh. Rồi cũng có một vị sư từ vùng Dokham
tới, ông ta thấy nhiều cuộc giao tranh tại đó, nhiều làng
bị bạch hóa và dân quê bị giết hàng loạt. Tôi nói với
ông là dân ta quá ít mà họ quá đông thì những chuyện đó
xảy ra như vậy! Tôi hỏi: "Nhưng nếu một người Tây Tạng
đánh nhau với một người Trung Hoa thì sao?" Ông thầy cười
và nói: "Như vậy thì dễ lắm, mình có thể giỡn với họ
như trong lòng bàn tay mình vậy". Ðó là một thí dụ về lòng
can đảm. Không cần phải kiêu hãnh nhưng điều quan trọng
là phải tự tin, nghĩ rằng bạn có thể làm được.
Năm
1959, khi khởi sự có vấn đề nặng với người Hoa, xứ Tây
Tạng chúng tôi ở vào hoàn cảnh rất khó khăn. Toàn dân tôi
chỉ có sáu triệu người, thật đáng bi quan. Nhưng từ năm
đó tới nay, chúng tôi không bao giờ bỏ cuộc, vì chúng tôi
tranh đấu cho một lý do chánh đáng, cho công lý. Không bao
giờ chúng tôi mất quyết tâm, quên mục tiêu. Dù đã gần
50 năm kể từ khi Cộng sản Trung quốc sang Tây Tạng, chúng
tôi đáng lẽ đã bị diệt vong, thì lại đang đạt được
một thế đứng quốc tế. Chúng tôi được nhiều xứ hỗ
trợ và có thể đạt được thành quả trong thời gian không
lâu nữa.
Làm
sao để chúng tôi giữ được lòng tin và không bị chán nản?
Ðức Bụt từ bi, con người đã nói lên toàn sự thật, đã
dạy rằng: "Chúng sanh thấp kém nhỏ nhoi như sâu bọ, ong,
ruồi... cũng đều có Phật tánh. Dù yếu đuối tới đâu,
nếu cố gắng trong nhiều kiếp, chúng cũng có thể đạt tới
quả vị cuối cùng rất khó đạt là Phật quả". Chính Bụt
đã dạy rằng tâm trí chúng sanh cũng có tiềm năng thành Bụt.
Dù yếu kém, đau khổ tới đâu, loài nào cũng có thể thành
Bụt cả. Như vậy, khi được sanh ra làm người, ta biết thế
nào là thiện, ác, ta biết hạnh tu Bồ tát thì làm sao ta lại
không đắc đạo?
Những
vị đạo sư vĩ đại ở Ấn độ và Tây tạng ngày trước
cũng là những con người như chúng ta. Họ đạt tới những
quả vị cao như vậy là nhờ họ có sẵn Phật tánh và được
làm người. Chúng ta cũng thế, cũng được làm người và
có Phật tánh ở bên trong. Không thể nào ta lại không đạt
tới giác ngộ. Khi đọc tiểu sử ngài Tsong-Kha-pa, ta thấy
ngài tu tập cực khổ ra sao để vượt thắng những giai đoạn
phát triển tâm linh. Trong những đoạn văn viết từ khi còn
trẻ, ngài cho biết đã không hiểu được Trung đạo là gì.
Nhưng rồi ngài vừa tu phước và tu huệ, sau đó ngài viết
ra những bài rất sâu sắc, sáng sủa và xác quyết về những
điều ngài đã chứng đắc. Ðọc những tài liệu như vậy
cho ta nhiều cảm hứng và hy vọng tinh tấn được trên con
đường thực chứng.
3.-
MỘT TIỀN THÂN CỦA BỤT
Tôi
xin kể chuyện một tiền thân của Bụt. Ðạo Bụt không tin
có một thượng đế sáng lập ra mọi thứ. Phật tánh không
phải là một cái gì do một vị thần linh từ trên cao ban
xuống cho bạn, mà là kết quả của con đường chân chính
bạn đã theo. Bụt Thích Ca Mâu Ni trong lịch sử không phải
là người đạt tới quả vị Bụt trong một kiếp mà thôi.
Ngài tích tụ công đức và thiện nghiệp từ bao kiếp trước
rồi. Truyện kể trong một tiền kiếp, ngài là hoàng tử Vishvantara
(có nghĩa là người giải phóng vũ trụ), con vua Samghaya.
Vishvantara
không phải là một người thường mà là hiện thân của một
Bồ tát có nguyện cứu khổ tất cả chúng sanh. Vì nghèo là
một trong các nguyên nhân lớn của khổ đau nên ngài nguyện
thực tập hạnh Bố thí trước hết. Cha ngài là vua Samghaya,
vừa can đảm, nhân hậu, thông minh và rất am tường Kinh Vệ
đà. Vishvantara có phần nhiều giống vua cha. Ngài không hề
biết sợ hãi và luôn luôn từ bi với mọi người. Ngài có
tư cách của một hoàng tử nhưng cũng bình dị với thần
dân, ai cũng có thể tới với ngài.
Từ
hồi nhỏ, ngài đã chú ý tới chuyện tâm linh, ngài rất tin
tưởng ở chư Bụt và Bồ tát, thường tỏ lòng kính ngưỡng.
Ngài đi tìm thầy học đạo và lắng nghe giáo pháp. Theo truyền
thống, ngài thường lắng nghe lời giảng dạy của các vị
thầy rồi dùng trí suy xét, phán đoán tỉ mỉ. Sau khi thiền
quán, ngài mới thực tập. Giáo pháp không phải là thứ triết
lý khô khan. Ngài hiểu đó là những bài học để ngài áp
dụng vào đời sống hằng ngày. Nhờ những dấu ấn thiện
đã sẵn trong dòng sông tâm thức, nên ngài tiến bộ rất
mau. Ngài nuôi dưỡng tâm kỷ luật và kiểm soát được những
cảm thọ phiền não. Dĩ nhiên chuyện này khiến cho ngài được
bình an, vui vẻ và hạnh phúc.
Ngài
chăm chú học năm môn chính là văn phạm, y khoa, nghệ thuật
và khoa học nội tâm hay tâm lý Phật giáo. Ðồng thời ngài
cũng được huấn luyện về hành chánh và ngoại giao để
lo việc cai trị vương quốc. Sau khi học xong, ngài trở thành
một vị thầy cho các học sinh ưu tú khác. Ai cũng đều yêu
mến ngài. Làm mọi cách để đáp ứng nhu cầu của dân, ngài
quan tâm nhất tới chuyện dẹp được nạn nghèo đói nhưng
cũng chú ý tới các thương gia. Bình an và hòa hợp khắp nơi
trong xứ sở ngài.
Hoàng
tử Vishvantara rất giàu có, nhiều quyền lực và rất được
kính nể. Vì ngài có tinh thần tin tưởng ở giáo pháp nên
ngài không ham danh lợi thế tục, cũng không lạm dụng quyền
thế hay địa vị mình. Ai cũng biết là khi quyền bính lọt
vào tay những người ngu dốt thì có hại cho họ và người
khác. Hằng ngày chúng ta đều thấy những người hẹp hòi
có nhiều tiền quá tự làm hư hỏng cuộc đời mình ra sao.
Họ hách dịch, thiển cận và không quan tâm tới ý kiến người
khác. Hoàng tử không như vậy, ngài kiểm soát ngũ quan và
hành động của mình. Ngài có tư cách của một ông hoàng
nhưng lại tử tế, dễ mến và thành thật với tất cả mọi
người.
Khi
bạn có động lực trong sáng và ý hướng tốt thì quyền
lực và tiền tài có vai trò của nó. Chắc chắn nó giúp cho
bạn hoàn thành các mục tiêu. Ðiều quan trọng là thái độ
bạn. Vishvantara là một người rất tiến bộ, vì nhìn thấy
những khổ ải của luân hồi nên ngài nguyện phải được
giải thoát khỏi cảnh đó. Ðồng thời ngài cũng có lòng
từ bi với tấ cả chúng sanh. Ngài thực hành Lục độ (sáu
phép tu để qua bờ đạt đạo), nhất là hạnh Bố thí cũng
là vì có lòng từ bi vô lượng. Lòng từ bi của Bồ tát là
tình thương vô điều kiện. Người nghèo đói và đau khổ
lại được quan tâm hơn. Hoàng tử là người rất thông minh
và dễ thương, nhưng đừng quên chính chúng ta cũng có tiềm
năng để khi đủ nhân duyên thì cũng chuyển hoá thành người
tốt. Khi có duyên, chớ để nó vuột mất.
Hoàng
tử chính là một vị Bồ tát có hạnh nguyện lớn, dù ngài
thể hiện bằng những hành động tâm linh hay thế tục, nhưng
hành động nào của ngài cũng có mục tiêu là độ càng nhiều
chúng sanh càng hay, giúp một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Ðộng lực của các hành động từ bi đó không hề bị vẩn
đục vì chấp ngã. Do lòng từ bi, hoàng tử có thói quen cứu
giúp những người nghèo khổ. Ngài có của cải và quyền
lực để khi cần thì có thể dùng, ngài không bó tay vì thiếu
phương tiện. Ngài rất tỉnh thức, hiểu nên bố thí cái
gì và nên cho vào lúc nào. Ðiều này quan trọng vì thiếu
tỉnh thức thì dù có ý tốt, bạn vẫn có thể lầm lỗi
khi bố thí. Vì vậy từ bi cũng cần có trí tuệ.
Chỉ
cho thôi thì đó không phải là cách thực hành hạnh bố thí
một cách hoàn hảo, phải có một số tiêu chuẩn. Bạn không
được coi thường người tới xin bạn giúp đở, ngược lại
bạn phải sung sướng khi gặp họ. Bạn nên nhìn họ như những
vị thầy tới để cho bạn có cơ hội phát triển lòng vị
tha. Bạn nên cho tài vật và thì giờ tùy theo nhu cầu của
người thiếu thốn. Một số đồ không được đem tặng là
ruợu, thuốc độc và vũ khí. Thực tập hạnh bố thí nghĩa
là bạn phải biết cho những gì thích hợp với từng người.
Vishvantara có một động lực trong sáng và lành mạnh; ngài
bố thí cho mọi người vô điều kiện, ngài không phân biệt
người này người khác, tặng cho bất kỳ ai thứ gì họ cần.
Vậy nên ngài hấp dẫn nhiều người từ nơi xa xôi tới xin,
ngài rất xúc động trước sự nghèo khổ của chúng sanh.
và lòng quảng đại của ngài do đó càng ngày càng tăng tiến.
Ngài thiết lập và tổ chức nhiều địa điểm để bố thí,
và tự mình kiểm soát công việc. Người tớixin đều hài
lòng, không than phiền gì hết. Vishvantara càng bố thí càng
vui và càng quyết tâm thì động lực của ngài càng trong sáng
hơn.
Các
bạn có thể nổi hứng để tham gia vào việc bố thí khi bạn
biết quán tưởng về những phúc lợi của việc này. Bố
thí nghĩa là bạn giúp cho người nghèo túng và làm cho họ
bớt khổ. Nhìn họ vui là bạn tạo được hạnh phúc trong
tâm thức mình. Hạnh phúc đó sẽ tạo ra một môi trường
an bình chung quanh bạn và làm cho bạn cùng người xung quanh
được an vui hơn, Người quảng đại được biết tới nhiều
và được kính trọng tại mọi nơi trong xã hội. Tương lai,
bạn sẽ được tái sanh trong cảnh giàu sang, lòng vị tha cũng
làm tăng trí sáng tạo trong ta.
Vishvantara
rất tin vào những phúc lợi do hạnh bố thí mang lại và muốn
phát triển tánh thiện đó. Ngài tin rằng ngài có thể tặng
tay, chân và toàn thể thân mình cho ai cần tới. Cảm thọ
này bắt nguồn từ lòng từ bi sâu xa của ngài đối với
chúng sanh. Hạnh nguyện bố thí của ngài lớn đến nỗi mặt
đất bị rung chuyển, khiến cho vua Trời phải ngó xuống,
thấy nguyên nhân của chấn động đó chính là ý nguyện lớn
lao của Vishvantara.
Muốn
thử coi hạnh nguyện của Vishvantara thanh khiết tới đâu,
vua Trời giả trang thành một ông lão mù lòa. Khi tới gặp
hoàng tử, ông lão nói: "Tôi từ xa tới đây để xin ngài
tặng cho tôi một con mắt, vì tôi thì mù mà ngài có đủ
hai mắt, trong khi chỉ cần một mắt cũng nhìn được mọi
thứ". Vishvantara im lặng một lát trước lời cầu xin này.
Ngài cân nhắc cẩn thận lợi hại và muốn biết coi món tặng
vật này có thật sự giúp ích cho người kia không. Người
mù rất kiên quyết, nhắc đi nhắc lại rằng bị mù lòa là
chuyện rất khổ sở. Hoàng tử bèn quyết định sẽ giúp
ông ta, coi như ông cho ngài cơ hội để thực hành hạnh bố
thí. Khi nghe ngài nói vậy, triều đình rất lo ngại, họ không
hiểu ngài sẽ làm sao và họ cầu xin ngài thay đổi ý định.
Họ đề nghị thay vì cho mắt, thì tặng cho ông lão nhiều
tiền bạc trong kho báu của hoàng gia. Nhưng ngài muốn giữ
lời hứa nên quần thần không thuyết phục được ngài. Với
quyết tâm đầy từ ái, ngài cho ông lão luôn cả hai mắt.
Ngay khi đó, vua Trời hiện ra nguyên hình và khen ngợi hoàng
tử về hành động vô ngã của ngài. Vua nói: "Hoàng tử bố
thí hoàn toàn là do ý nguyện vô ngã và vị tha, nên ngài sẽ
có lại hai con mắt". Ngay khi đó, Vishvantara nhìn rõ hơn bao
giờ hết. Vua Trời biến đi và hoàng tử rất vui sướng.
Tín tâm vào giáo pháp của ngài càng chắc chắn và sâu xa.
Triều đình không thể tin được khi thấy chuyện xảy ra như
vậy, nhưng thấy mắt hoàng tử không bị hư hại gì, họ
rất vui mừng.
Vishvantara
tiếp tục bố thí và tiếng tăm ngài lan rộng khắp nơi. Ngài
có lần phải cho cả con voi đã đoạt nhiều giải thưởng,
đó là biểu tượng quý giá của hoàng gia, tượng trưng cho
uy quyền và hoàng phái. Tin này được truyền ra nhanh chóng
trong triều đình và lan ra quần chúng, ai cũng chống việc
làm của ngài. Họ khiếu nại lên hoàng đế, cho rằng hoàng
tử mê mãi theo đường tâm linh như vậy thì không nên cho
nối ngôi. Vua cha bối rối vì ngài thương quý hoàng tử, hy
vọng nhiều ở ngài. Nhưng sau khi suy nghĩ chính chắn, vua đặt
quyền lợi của vương quốc trên hết và lưu đày hoàng tử.
Theo lệnh vua, các quan đọc chiếu chỉ của vua cho hoàng tử
nghe. Ngài không tỏ vẻ buồn phiền gì, có lẽ ít buồn hơn
ai hết. Ngài nói sẽ tuân lệnh vua cha, nhưng ngài muốn ra
đi một mình, để vợ và hai con ở lại kinh thành. Nhưng công
chúa vợ ngài đòi tháp tùng ngài. Vì vậy, gia đình hoàng
tử gồm cả hai con sửa soạn rời hoàng cung, chỉ mang theo
những gì vua cho phép. Khi ra đi, hoàng tử nói với triều thần
phải kính trọng các tăng ni và cung ứng các nhu cầu cho họ
đầy đủ. Ngài mong họ sẽ tiếp tục cứu giúp những người
nghèo khổ và cơ cực. Cuối cùng ngài cho biết sẽ luôn luôn
cầu nguyện cho nước, cho dân.
Hoàng
tử nghĩ nếu mình ẩn cư trong một góc rừng thì dễ đuổi
theo mục tiêu tâm linh hơn. Trên đường đi, gặp người xin
giúp đở, hoàng tử vẫn độ lượng bố thí dần dần mọi
vật tùy thân. Khi tới cuối cuộc hành trình, ngài đã bố
thí hầu hết mọi thứ kể cả xe và ngựa. Hoàng tử và công
chúa mỗi người bế một con nhỏ, tiến vào khu rừng thưa.
Trẻ còn nhỏ quá nên cuộc sống của công chúa khó khăn hơn.
Hoàng tử nhìn cuộc sống mới qua góc cạnh khác: ngài cho
là từ nay ngài có cơ hội để thiền định và đạt được
mục tiêu giải thoát, hơn là khi còn trong hoàng cung, ngài chẳng
thể thực hiện được.
Cuộc
đời như vậy thật là khó khăn cho một gia đình. Họ không
có lợi tức nên trẻ đói thường trực, mẹ chúng rất đau
khổ. Vì hoàng tử luôn chìm đắm trong thiền định, nên bà
vợ phải ra ngoài kiếm đồ ăn. Tuy vậy tiếng tăm về lòng
bác ái của ngài vẫn ngày một lớn. Một đôi vợ chồng
không con nghe danh ngài, họ nghĩ nếu hoàng tử tặng cho họ
mấy đứa con ngài thì họ sẽ dùng chúng làm đầy tớ. Họ
chờ khi công chúa đi ra ngoài kiếm thực phẩm mới tới xin
con ngài. Vishvantara phải suy nghĩ, tuy rất yêu con nhưng ngài
đã cam kết giữ hạnh bố thí. Hai vợ chồng kia làm áp lực
khiến ngài lâm vào hoàn cảnh khó xử.
Vishvantara
không muốn làm cho ai cần tới ngài phải thất vọng, nhưng
ngài cũng quan tâm tới tương lai của các con. Ngài cố gắng
để đi tới thỏa hiệp. Ngài nói với hai vợ chồng kia nếu
họ mang con ngài tới hoàng cung thì vua cha sẽ trọng thưởng
cho, và họ không được đòi xin chúng nữa. Ông bà kia cho
là nếu làm thế, họ có thể không được thưởng mà còn
bị tù. Thấy chuyện đó có thể xảy ra thực, hoàng tử bị
kẹt cứng. Thu hết can đảm, hoàng tử yêu cầu họ chờ công
chúa về để nàng được từ biệt chúng, nhưng hai người
không chịu. Họ cho rằng công chúa có thể từ chối và cản
trở ý nguyện bố thí của ngài, không cho họ mang trẻ về
để giúp việc. Ngài miễn cưỡng phải cho họ mang trẻ đi.
Công chúa trở về nhà hay chuyện thì ngất xỉu. Vishvantara
cũng bị rơi vào tình trạng phiền muộn.
Khi
tỉnh lại, họ an ủi nhau và Vishvantara tiếp tục quyết tâm
hành hạnh bố thí cho chúng sanh. Họ tiếp tục sống biệt
lập trong rừng. Vua Trời nghe nói về chuyện cho con cũng ngạc
nhiên hết sức. Ông định tới thử thách tấm lòng cao cả
của hoàng tử một lần nữa. Ông cải trang thành một ông
hoàng tới nhà Vishvantara. Vị này tiếp đón vua trời và hỏi
ông cần gì? Người lạ mặt nói nghe tiếng tăm của ngài
rất nhiều, nghe ngài cho cả con cái, không bao giờ từ chối
ai điều gì... Người này khen ngợi hoàng tử và cuối cùng
muốn xin một thứ. Hoàng tử bảo ông ta cứ nói, ngài sẽ
rán giúp cho. Người lạ mặt nói: "Tôi sống rất cô đơn,
không có ai thân tình, nên xin hoàng tử cho tôi bà vợ ông
để tôi bầu bạn và cuộc đời tôi có nghĩa lý".
Vishvantara
rất bối rối, ngài cảm thấy mình sẽ phải thua, khi trái
tim độ lượng của ngài gặp phải thử thách lớn lao này.
Vợ ngài là nguồn hy vọng và là trợ lực duy nhất của ngài.
Sự tồn vong của ngài đang bị đụng chạm. Nàng yêu ngài
và nếu phải ra đi thì sẽ khổ đau không chịu nổi. Ngài
nói không nên lời. Cùng lúc đó, ngài nhớ rằng mục tiêu
của đời mình là giải thoát giúp tất cả chung sanh. Bà vợ
năn nỉ đừng để bà phải xa ngài. Vishvantara biết rõ cuộc
chia ly này sẽ đau đớn tới đâu. Nhưng người kia ép ngài,
nói nếu ngài từ chối thì rốt cuộc ngài làm hỏng ý nguyện
bố thí cao cả của mình. Và người đó sẽ không còn lý
do để sống nữa. Hoàng tử cố gắng an ủi vợ, ngài nói
tới phúc lợi lâu dài của hạnh bố thí cho tất cả chúng
sanh. Ngài cũng không thể từ chối và làm cho một chúng sanh
đang đau khổ phải thất vọng. Cuối cùng ngài đành cho người
đàn ông cô đơn khổ sở kia bà vợ của mình.
Sự
can đảm và lòng tốt vô biên của Vishvantara không vô ích.
Của cải và hạnh phúc vô biên đã chứa sẵn trong con người
ngài, trong vợ con ngài. Khi người đàn ông dắt tay vợ ngài
đi ra, thì họ biến mất và vua Trời xuất hiện. Vua ca tụng
đức hạnh của Vishvantara, gọi ngài là vua của muôn loài,
vua cho biết tấm lòng vĩ đại của hoàng tử nay cả vũ trụ
đều biết tới, vua chỉ đến thử thách mà thôi. Vua Trời
khuyên hoàng tử và vợ trở lại hoàng cung, và thu xếp để
ông bà lão kia mang hai con ngài tới trả. Vua cha gặp lại con
cháu rất vui sướng, cả nước mở hội ăn mừng. Sau đó
ít lâu, Vishvantara lên ngôi nối nghiệp cha, làm ông vua sùng
đạo và vượng quốc ngài luôn có hòa bình và hạnh phúc.
Những
câu chuyện như vậy không phải để nghe cho vui tai. Chúng ta
cần học và rút tỉa hứng khởi từ đó. Người Tây Tạng
có câu: "Tiểu sử các đại sư phải được coi như bài pháp
dạy cho các đệ tử".
Cuộc
đời Bồ tát Vishvantara là bài học về hạnh bố thí. Ðó
là hạnh mà người mới học đạo Bụt cần phải thực tập.
Bố thí là một đức tính mà cả người nhận lẫn người
cho đều có lợi lạc. Người cho có công đức. để có thể
sống giàu sang và hạnh phúc trong tương lai. Người nhận thì
đỡ túng thiếu. Tặng, cho có hai khía cạnh: một là dâng
lên Bụt hạnh bố thí, hai là giúp người khốn cùng đỡ
thiếu thốn. Ðiều cốt yếu là chúng ta phải bắt đầu phát
triển ý nguyện bố thí, hỗ trợ bởi những tư tưởng tích
cực và từ bi. Ta nên cho cái gì mình có thể cho. Nhưng điều
cũng quan trọng là ta phải nguyện thực tập bố thí hoài
hoài. Chuyện này sẽ làm cho ý chí ta thêm mạnh và có quyết
tâm hơn.
4.-
VƯỢT THẮNG PHIỀN NÃO
Trong
vô lượng kiếp làm người hay súc sanh, bạn đã nhiều lần
gặp cảnh khổ đau ngang trái. Bạn đã trải qua không thiếu
cảnh khổ nào vì tâm bạn đầy phiền não. Thân bạn có thể
đã bị mua bán, làm thịt, bị thiêu đốt hay lột da. Dù cho
bạn đã trải qua, những vấn nạn đó vẫn thật sự làm
cho bạn đau đớn. Ðó là kết quả của những vọng tưởng
tiêu cực trong tâm bạn. Những khổ đau đó không những không
thể giúp gì bạn trên con đường tới xứ Bụt, mà cũng không
giúp cho bạn được giàu sang hay sống thọ hơn. Dù trước
đây từ vô thủy, bạn đã trải qua những khổ đau vô lượng
đó rồi, từ nay đến vô chung, những khổ đau đó vẫn cứ
tiếp diễn, khác nào như những cực hình tra tấn bạn.
Nhưng
nếu bạn quán về Phật tánh, hướng tâm bạn về đó và
có cố gắng thì dù có gặp khó khăn hay không, cuộc đời
bạn cũng đã có mục đích. Theo đuổi con đường tới chân
như thì những khó khăn chỉ có giới hạn, vì những thứ
này phải lùi bước khi bạn có tiến bộ tâm linh. Càng thực
tập nhiều bạn càng có nhiều thành quả. Nhờ thái độ và
tinh thần của bạn đã phần nào tinh tấn, những khó khăn
cũng sẽ trở nên dễ giải quyết. Nhờ năng lượng của sự
tu tập và sức mạnh tinh thần, bạn có thể chấm dứt khổ
đau.
Trong
vòng luân hồi, khổ đau không thể dứt, tưởng tượng bạn
bị bắn vào bụng rất đau đớn. Muốn lấy viên đạn ra
và hết bị đau, bạn phải được giải phẩu. Dù có thể
có những hậu quả khác, nhưng chắc chắn bạn sẽ vui lòng
chấp nhận cái đau của giải phẩu để loại bỏ được
viên đạn trong bụng ra. Ngày nay người ta thường mổ xẻ
để cắt bỏ hoặc để ghép một bộ phận nào đó vào trong
cơ thể. Ðôi khi bạn phải hy sinh một phần cơ thể để
sống còn. Ðể tránh bị đau nhiều, ta sẵn sàng chấp nhận
cái đau nhỏ hơn, dù cho các bác sĩ, thuốc men và phẩu thuật
có thể làm cho ta khó chịu, ta cũng phải cộng tác với họ
để thắng được các tật bệnh. Vậy thì nếu muốn vượt
qua muôn ngàn khổ ải, nếu ta chịu đựng những gian khổ
nhỏ thì cũng là chuyện dễ hiểu thôi.
Bụt
Thích Ca giống như một vô thượng lương y, giúp cho tất cả
chúng sanh đều có thể trở thành Bụt hết. Ngài chỉ dạy
cho ta một con đường rất êm ái, nếu ta chịu theo kỷ thuật
đó ta sẽ chữa được vô lượng đau khổ. Bụt là một người
dẫn đạo tuyệt vời. Nếu ta phải vượt qua một ngọn núi
cao và khó leo, ta không thể ép một cái máy xe leo thẳng dốc
lên được. Muốn lên tới đỉnh núi, ta phải theo con đường
vòng vèo. Tương tự như vậy, Bụt dạy chúng ta nhiều pháp
môn với trình độ khác nhau tùy người học. Những pháp môn
này từ từ sẽ giúp chúng sanh đạt tới quả vị Bụt.
Tỷ
dụ như hạnh bố thí, đầu tiên Bụt dạy ta bố thí thực
phẩm v.v... Khi ta đã tập có thói quen bố thí, từ từ sẽ
có ngày - khi trí tuệ từ bi trong ta lớn hơn lên - ta có thể
bố thí dễ dàng cả thân mạng, thịt xương của mình! Sẽ
tới ngày bạn nhìn cơ thể bạn không khác với thực phẩm.
Khi đó bạn sẽ không thấy khó khăn trong việc hiến tặng
thân thể mình. Dù sao, nếu chưa luyện tâm được, thì chuyện
này vô cùng khó!
Ðôi
khi trong truyền hình, tôi nhìn thấy những thử nghiệm khá
tàn bạo trên súc vật. Bạn có thể thấy cảnh y sĩ mổ óc
của một con vật đang còn sống. Tôi phải nhắm ngay mắt
lại không thể coi tiếp. Rõ ràng là tôi không có thói quen
nhìn những chuyện như vậy, trong khi người quen coi rồi thì
không ngại gì. Tương tự, khi nhìn mấy con gà bị nhốt trong
lồng để ở phía ngoài tiệm ăn, tôi thấy rất buồn trong
khi đối với người sắp làm thịt và nấu gà đó thì con
vật không khác gì rau cỏ. Lúc này, ý tưởng đi vào địa
ngục để cứu vớt chúng sanh có thể làm bạn kinh hoàng,
nhưng khi làm quen với nó rồi thì sẽ dễ thôi.
Các
Bồ tát đã xả bỏ được tâm hành tiêu cực thì không còn
bị đau đớn về thể xác. Và khi tập để có trí tuệ, họ
cũng không bị khổ đau về tinh thần nữa. Vì chấp ngã một
cách lầm lẫn, chúng ta đã làm cho thân tâm đau khổ. Nhờ
có phước đức, chúng ta sẽ được an lành về thể chất,
và nhờ có trí tuệ, chúng ta được hạnh phúc trong tinh thần.
Vậy nên dù còn trong vòng luân hồi, người từ bi sẽ không
bao giờ nản chí. Nhờ có tâm Bồ đề kiên cố, nhờ sự
tỉnh thức, các Bồ tát sẽ loại bỏ được những cảm thọ
tiêu cực của quá khứ và thu góp được cả đại dương
phúc lợi. Do đó, họ được coi như những vị đứng trên
những người chỉ tu tập để giải thoát cho mình. Vậy thời
bạn nên can trường cỡi con ngựa tâm tỉnh thức đi từ cõi
an lạc này tới vùng hòa bình kia. Khi thực sự tỉnh thức,
bạn làm sao còn nản chí đượcc nữa.
Muốn
đáp ứng được các ước vọng của chúng sanh, bạn phải
tích lũy được những năng lượng vững chãi, an vui và biết
lúc nào nên dừng lại. Phải có hứng khởi tu tập và kiên
trì, nghĩa là không bỏ ngang sự thực tập, bạn sẽ được
an lạc nếu tìm được niềm vui khi tu tập. Dừng lại sau
khi thành công chứ không dừng khi chưa làm được chi cả,
Nếu bạn tự ép mình tu học khi tâm bạn chưa muốn thì bạn
sẽ đi tới chỗ ghét cả nơi bạn ngồi thiền. Vậy nên buổi
ban đầu bạn phải khéo léo, lúc mới tập, mỗi đầu giờ
thiền, bạn nên tươi tỉnh và vui hưởng giây phút đó. Vậy
nên nghỉ ngơi trước đó thì tốt hơn. Ðừng nên ép bạn
tới kiệt sức, nên nghỉ xả hơi để khỏi bị như vậy.
Tội
lỗi của chúng ta và chúng sanh thì vô lượng. Chúng ta phải
phá hủy chúng đi. Tội lỗi đây có nghĩa là những cảm thọ
phiền não ngăn cản sự giải thoát và đạt đạo. Muốn xả
bỏ một lỗi lầm trong vô lượng tội, chúng ta phải cần
khá nhiều năng lực. Nhưng chúng ta chưa hề bắt đầu xả
bỏ được một phần tội lỗi. Trầm luân trong cõiluân hồi
thật là khổ, chúng ta cũng như chúng sanh phải đạt được
vô số nhân lành mới thành Bụt được, muốn có một nghiệp
lành đã phải tốn bao công sức! Chúng ta chưa hề làm quen
với một phần các đức tính đó, chúng ta phí phạm cuộc
đời một cách lạ lùng. Không kính ngưỡng Bụt, không góp
công vào việc hoằng pháp, không bố thí cho kẻ khó, không
tặng đức vô úy cho kẻ sợ hãi, không tặng an lạc cho kẻ
đau buồn... Khi còn trong bụng mẹ, chúng ta làm cho bà đau
đớn, khi ra đời, ta bắt đầu là nhân duyên gây đau khổ.
Ðời ta không có mục tiêu vì ta không muốn theo con đường
thực tập tâm linh. Nếu bạn là người thông minh thì sao lại
bỏ qua ước vọng này?
5.-
TỰ TIN VÀ TINH TẤN
Bạn
phải phát triển lòng tự tin và thực tập thiền quán, trước
khi thực tập theo con đường tâm linh, bạn phải nghiên cứu
và quyết định coi có nên tu tập hay không? Nếu bạn thấy
mình không thể thì đừng nên bắt đầu. Khi đã bắt đầu
rồi thì đừng bỏ cuộc. Nếu không bạn sẽ có những thói
quen bỏ dở. Không những trong đời này thói quen đó còn làm
hại bạn trong các đời sau, khiến cho những khổ đau chồng
chất thêm lên. Vậy sau khi xem xét kỹ coi bạn có thể thực
hiện được hay không rồi hãy khởi sự. Và khi đã quyết
tâm thì phải đi tới đích.
Vì
phiền não, những chúng sanh không thể làm tròn những mục
tiêu của họ. Họ vô tình đi vào con đường tự đầy ải
mình. Muốn có chút tiền bạc, nhiều người phải làm việc
ngày đêm hoặc phải hành xử dữ dằn, lừa lọc. Họ bị
vướng vào những sinh hoạt thấp kém mà hình như họ chấp
nhận chúng một cách vui vẻ. Chúng ta đã có hạnh nguyện
độ các chúng sanh, làm sao ta ngồi yên nhìn họ cho được?
Chúng ta cần có thái độ tự tin, nhưng không nên hành động
với sự kiêu hãnh hay can đảm mà bi quan. Vừa kiêu ngạo vừa
bi quan là một tư tưởng bất an cần loại bỏ. Nếu chúng
ta để rơi vào sự chán nản, thiếu tự tin thì những cảm
thọ phiền não sẽ xâm chiếm tâm ta dễ dàng.
Chúng
ta phải giữ lòng tự tin khi nghĩ ta là con cháu hay đệ tử
của Bụt, một lãnh tụ vĩ đại. Tự tin nhưng không kiêu
hãnh, lòng tự tin không có gì đáng trách vì nó giúp ta làm
được những gì ta muốn làm. Nếu chúng ta tự tin và coi phiền
não như kẻ thù, thì ta có thể vượt thắng được tánh kiêu
hãnh. Ta không nên mắc cỡ về sự tự tin đó. Ai đã thắng
được lòng kiêu hãnh và giữ được tự tin có thể được
coi là người can trường và thắng lợi. Họ có thể đạt
tới quả vị Bụt và độ chúng sanh. Khi chúng ta có được
tín tâm đó, dù có bị cảm thọ phiền não quấy rầy, chúng
cũng chỉ như bầy hồ trước sư tử, không làm hại ta được.
Giống như loài người bảo vệ con mắt của họ trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, chúng ta phải thắng được phiền não
dù khó tới đâu. Thà là bị đốt cháy, bị giết hay chặt
đầu còn hơn là bị thua phiền não.
6.-
NUÔI DƯỠNG NIỀM VUI
Bạn
phải nên nuôi dưỡng những niềm vui, những người theo hạnh
Bồ tát thực tập một cách vui vẻ, sung sướng, như trẻ
con được tham dự trò chơi vậy. Bạn phải đi theo con đường
Bồ tát mà không tự mãn. Người đời thường tham dự vào
nhiều sinh hoạt để có được chút hạnh phúc hữu lậu dù
họ không biết rõ họ có thể hoàn thành được nguyện vọng
hay không. Họ có năm mươi phần trăm hy vọng nhưng họ vẫn
làm việc rất cần cù. Nhưng khi theo chân Bồ tát, chắc chắc
một trăm phần trăm, bạn sẽ tìm được niềm an lạc vĩnh
cửu. Sống theo con đường Bồ tát rất vui và lợi ích cho
bạn và cho mọi loài.
Không
có hạnh phúc lâu dài với các thú vui sắc dục và ham muốn
tài vật. Những thứ đó giống như mật ngọt bôi trên lưỡi
dao sắc bén. Khi bạn liếm mật đó, bạn có thể thấy vị
ngọt của nó nhưng đồng thời bị đứt lưỡi. Nhưng khi
bạn hướng về con đường giải thoát, công việc bạn làm
sẽ mang cho bạn phúc lợi và an lạc. Khi không tự mãn, công
việc đó sẽ giúp bạn giải thoát. Làm như thế, sự cố
gắng nơi bạn có thể đạt được kết quả. Vậy chúng ta
nên vui vẻ bắt đầu sống theo con đường của Bồ tát, giống
như con voi bị cháy nắng nhảy vào hồ nước mát một cách
sung sướng.
