DI
SẢN LỊCH SỬ
Khởi
nguyên của truyền thống Tịnh Độ có từ thời xuất hiện
của Phật giáo Đại thừa vào thế kỷ thứ nhất Công nguyên,
khoảng năm thế kỷ sau sự thành lập Phật giáo của đức
Phật lịch sử ở Ấn Độ. Con đường Tịnh Độ đặt giáo
lý của mình trên ba bộ kinh Đại thừa : Đại Kinh Tịnh Độ,
Tiểu Kinh Tịnh Độ và Kinh Quán A Di Đà Phật. Ngày nay được
biết với tên là Ba Bộ Kinh, chúng phát nguyên từ Ấn Độ
và Trung Á và đến Nhật vào thế kỷ thứ sáu ngay sau khi
Phật giáo đi vào đảo quốc này. Nhưng trong thời kỳ sơ
khởi ấy ít có ai chú ý đến những bản văn này. Thậm chí
những vị tăng học giả lỗi lạc nhất cũng xem chúng là
thứ yếu.
Một
sự làm quen với những kinh chính yếu này giúp chúng ta cảm
nhận một số mặt độc đáo của Phật giáo Tịnh Độ. Đại
Kinh, cũng được biết là Kinh Vô Lượng Thọ, là một thuyết
giảng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở núi Linh Thứu thành
Vương Xá, Ấn Độ. Ngài kể lại câu chuyện của Dharmakara
(Pháp Tạng) phát bốn mươi tám lời nguyện cứu độ tất
cả chúng sanh, cuối cùng thành tựu những lời nguyện đó
và đạt đến giác ngộ tối thượng để thành Phật A Di
Đà – Phật của Ánh Sáng Vô Lượng và Đời Sống Vô Lượng.
Đây là một câu chuyện không chỉ là một câu chuyện mà
là sự đột khởi của thực tại nền tảng trong đời sống
một con người.
Tiểu
Kinh là một bản văn ngắn hơn nhiều miêu tả vẻ đẹp vô
ngần của Tịnh Độ bằng hình tượng diệu kỳ, biểu trưng
của trạng thái giác ngộ tối thượng. Kinh Quán A Di Đà phác
họa mười sáu cách thực hành thiền định dẫn đến giải
thoát và tự do.
Phật
giáo ở Nhật lớn lên nhanh chóng trong thế kỷ thứ sáu dưới
sự trị vì của vương triều và quý tộc. Nó được chào
đón như là cái chuyên chở cho nền văn minh đại lục, truyền
cảm hứng cho nghệ thuật và kiến trúc, hội họa và điêu
khắc, thơ và văn xuôi. Nó cũng làm phong phú đời sống dân
chúng bằng cách cải thiện phẩm chất đời sống – xây
dựng bệnh viện, cô nhi viện, nhà tắm công cộng – và thúc
đẩy học vấn – nông nghiệp, xây cầu, nghề trồng dâu
nuôi tằm, y học và thiên văn học. Những học phái lớn của
Đại Thừa Tam Luận tông, Hoa Nghiêm tông và những tông khác,
phát nguyên từ Ấn hay Hoa được thiết lập vững chắc trong
thời Nara (710-794) ; Thiên Thai tông và Chân Ngôn tông nở rộ
trong giới quý tộc trí thức ở thời Heian (794-1185). Trong
thời gian này, những giáo lý và thực hành Tịnh Độ dần
dần được biết đến giữa những cá nhân tu sĩ và lan ra
trong dân chúng.
Tuy
nhiên sức mạnh và ảnh hưởng của Phật giáo của giai cấp
thượng lưu dần dần suy do những biến đổi lịch sử không
thể tránh vào thế kỷ mười một và mười hai. Vì trật
tự xã hội đã thiết lập bị tan vỡ, Tịnh Độ lan truyền
trong mọi giai cấp, đặc biệt được hoan nghênh trong giới
bị trục xuất khỏi con đường tu viện. Bổn Nguyện Nguyên
Sơ của A Di Đà, Phật của Ánh Sáng và Đời Sống Vô Lượng,
giờ đây xuất hiện như lực lượng chính yếu trên sân khấu
lịch sử.
Năm
1175 sư Pháp Nhiên của Thiên Thai tông từ bỏ núi Tỷ Duệ,
trung tâm của tông này, tuyên bố thành lập một tông Tịnh
Độ độc lập. Những thực hành Tịnh Độ thường được
theo đuổi trong các tông đã có, nhưng nó luôn luôn được
gắn với những cách thức tu hành truyền thống. Chẳng hạn
sự quán tưởng về những đức hạnh của A Di Đà và Tịnh
Độ đã được thực hành trong những nhóm nhỏ của giai cấp
cao, nhưng nó chưa bao giờ là một con đường riêng biệt tự
thân. Với sự thành lập một tông Tịnh Độ độc lập, Pháp
Nhiên khước từ cách tiếp cận thiền quán và ủng hộ sự
thực hành niệm Phật đơn giản, “Nam mô A Di Đà Phật”.
Sự thực hành đơn giản này là việc làm do chính đức Phật
chọn lựa cho tất cả mọi người trong thời mạt pháp. Thời
mạt pháp đã đến, rõ ràng với những trận động đất,
bão lụt, nạn đói, bệnh dịch, nội chiến và hỏa hoạn
nhận chìm thủ đô và nông thôn. Vì thế giới không ngừng
trở nên bất an và hỗn loạn ; Phật giáo truyền thống được
hỗ trợ bởi các giai cấp đặc quyền càng lúc càng không
thích hợp với thời đại, và đòi hỏi bức thiết phải
có một phong trào tôn giáo mới thỏa mãn được nhu cầu tâm
linh của thời đại trở nên bức bách.
Sự
trống rỗng được lấp đầy bởi giáo lý Tịnh Độ mới
thiết lập là niệm Phật. Nó đáp ứng cho sự đói khát tâm
linh của dân chúng và hấp dẫn quần chúng đi theo. Đối với
những người đã bị trục xuất khỏi con đường Phật giáo,
nó là ơn cứu độ. Những người ở “ngoài vòng” là những
người đánh cá và thợ săn sống bằng sự phạm giới “bất
hại”, những nông dân được xem là “thấp kém”, ngu dốt
và “xấu xa”, phụ nữ trong mọi giai cấp với những phiền
não nhiễm ô của họ, và những tăng ni đã phạm giới của
đời sống tu viện.
Trong
những đệ tử của Pháp Nhiên có Thân Loan (1173-1263), một
nhà sư tương đối vô danh, đã bỏ tu viện ở núi Thiên Thai
ở núi Tỷ Duệ và trở thành đệ tử sùng tín của ngài
vào năm 1201. Không lâu sau đó, vào năm 1207, bị tố cáo đã
gây nên những xáo trộn xã hội vì truyền dạy con đường
Tịnh Độ, Pháp Nhiên và các đệ tử, gồm cả Thân Loan,
bị kết án và đi lưu đày ở những tỉnh hẻo lánh. Phong
trào Tịnh Độ dân dã đã tạo ra một sự ly giáo trong xã
hội, và những giai cấp thấp, cháy bỏng với sự nồng nhiệt
tôn giáo, lên án và báng bổ những đức Phật khác với A
Di Đà và những thần linh địa phương. Pháp Nhiên khiển trách
những tín đồ về những quá khích này, tuy nhiên ngài nhận
trách nhiệm về mình.
Pháp
Nhiên tịch năm 1212, ít lâu sau sự ân xá cho ngài ở Kyoto,
nhưng Thân Loan vẫn ở các tỉnh xa để truyền bá niệm Phật.
Sau vài thập niên, cuối cùng ngài về Kyoto và mất ở đó
năm 1263. Từ đó, các vị kế thừa và các tín đồ lập ra
một phái riêng rẽ gọi là Tịnh Độ Chân tông và xem ngài
là người sáng lập. Chính ngài không có ý định như vậy,
vì mục đích của ngài chỉ là diễn bày “giáo lý chân thật
(Chân tông, Shinshu) về Tịnh Độ (Jodo)” như thầy mình là
Pháp Nhiên đã dạy. Tịnh Độ Chân tông cũng được biết
là Phật giáo Chân tông, và đôi khi nó được dùng đồng
nghĩa với Phật giáo Tịnh Độ. Sự đồng hóa này là hiểu
lầm bởi vì có những hình thức khác của những giáo lý
Tịnh Độ ngoài Phật giáo Chân tông ở Nhật, Đại Hàn, Trung
Hoa và Việt Nam.
Thân
Loan đặt nền giáo lý trên ba bản văn Tịnh Độ và tuyên
bố một dòng truyền lấy cảm hứng từ Bổn Nguyện của
Phật A Di Đà và đầu tiên được Phật Thích Ca nói ra trong
Kinh Vô Lượng Thọ. Dòng Tịnh Độ Nhật Bản được truyền
thừa qua lịch sử từ Ấn Độ đến Trung Hoa bởi bảy đạo
sư : Nagarjuna (Long Thọ, 150-250) và Vasubandhu (Thế Thân, thế
kỷ thứ năm) của Ấn Độ ; Đàm Loan (476-542), Đạo Xước
(562-645) và Thiện Đạo (613-687) của Trung Hoa ; Nguyên Tín (942-1017)
và Pháp Nhiên (1133-1212) của Nhật.(Hình
bên phải: Ngài Thân Loan)
Trường
phái mới nổi trội nhiều mặt so với những truyền thống
có trước nó, đặc biệt trong cách hòa nhập với cuộc đời
bình thường, thường ngày. Phật giáo Chân tông không phân
biệt gay gắt giữa tăng lữ và người thường trong khả năng
đạt được giác ngộ. Mọi người, bất kể sự khác biệt
tuổi tác, giai cấp, phái tính, nghề nghiệp hay tội lỗi đều
có thể đạt được Phật quả do sự vận hành của đại
bi. Từ đó, tự nhiên là con đường đạo này hài hòa với
đời sống gia đình. Do vậy hôn nhân được chấp nhận, và
sự độc thân đã thành truyền thống của đời sống tu viện
được lật lại, bắt đầu với chính Thân Loan, khi ngài lập
gia đình và công khai từ chối lý tưởng độc thân của truyền
thống tu viện. Đạo tràng cho sự thực hành Phật giáo là
cuộc đời thường nhật, thế tục chứ không phải một chốn
ẩn cư rào kín hay một không gian ưu đãi nào. Việc Pháp Nhiên
và Thân Loan khám phá ra đường lối đem chân lý Phật giáo
sống động vào giữa đời sống gia đình quả là một thiên
tài. Những lời nói của Thân Loan :
Mọi
người – đàn ông, đàn bà, địa vị cao hay thấp –
Không
hạn chế gì trong việc xướng lên danh hiệu
A
Di Đà
Khi
đi, đứng, ngồi, hay nằm,
Cũng
không thời gian, nơi chốn hay điều kiện.
SẮC
VÀNG
Dù
Phật giáo Chân tông sáng tác ra một hình thức thực hành
mới từ căn bản, mục tiêu của nó là một và như nhau với
mục tiêu của Đại Thừa. Mục tiêu là đánh thức chân tánh
như là một biểu lộ của pháp hay “thực tại như nó là”.
Điều này có nghĩa là gì đã được minh họa bởi vài ẩn
dụ phổ thông trong truyền thống Tịnh Độ.
Trước
tiên là ẩn dụ sắc vàng. Qua nhiều thời đại, kim loại
này được xem là sở hữu quý nhất. Nó cũng được liên
kết với những sự vật có một bản chất tâm linh, và mỗi
tôn giáo tìm thấy nơi nó một biểu tượng phong phú. Vàng
trang
sức cho hộp đựng Mười Điều Răn ; vàng được các tín
đồ Thiên Chúa giáo nhớ đến như là món quà quý giá của
Magi cho Jesus mới sanh ; người dâng cúng vàng trong Rig-Veda được
nhận lại một đời sống ánh sáng và vinh quang ; và Thiên
đường thứ năm của Hồi giáo làm bằng vàng. Tóm lại, vàng
là biểu tượng phổ quát của cái gì quý nhất.
Trong
Phật giáo màu sắc của vàng cũng quý không kém, tượng trưng
cho sự thức tỉnh tối thượng hay giác ngộ. Lời nguyện
thứ ba trong bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà
trong Đại Kinh nói rằng :
Nguyện
tôi không đạt giác ngộ nếu một khi tôi viên thành Phật
quả, bất kỳ ai, người và trời, trong cõi của tôi không
có sắc vàng ròng.
Trong
cõi của những người giác ngộ, tức là Tịnh Độ, mỗi
người đều có màu sắc vàng ; nghĩa là, mọi người không
trừ ai đều đạt đến sự thức tỉnh tối thượng. Sự
phân biệt đặt trên màu sắc, giới tính, tuổi tác, giai cấp
xã hội, khả năng trí thức v.v... đều vô nghĩa và không
có căn cứ. Mỗi người được xác nhận trở thành như anh
ta hoặc cô ta thực sự vốn là, trọn thành tiềm năng bẩm
sinh ẩn dấu bên trong. Tất cả mọi chúng sanh được bảo
đảm về Phật quả qua sự vận hành của pháp, pháp ấy tự
hiện thành trong một con người.
Pháp
có vài hàm ý trong những tôn giáo Nam Á, nhưng trong Phật giáo
có hai nghĩa căn bản, tương liên : pháp là “giáo lý” như
trong thành ngữ Phật pháp, và pháp là “thực tại như nó
là” (adhigama-dharma). Giáo lý là sự diễn tả thành lời của
thực tại như nó là, nó gồm hai phương diện – chủ thể
thực hiện và đối tượng được thực hiện. Chúng cùng
tạo thành “thực tại vốn là” ; nếu mặt nào thiếu, đó
không phải là “thực tại vốn là”. Nghĩa này của pháp
hay thực tại vốn là cũng được gọi là tánh như (tathata)
hay tánh như thị (tattva) trong Phật giáo.
Ẩn
dụ thứ hai là hoa sen. Hoa sen nói lên nghĩa đặc biệt của
tánh như hay tánh như thị. Hoa sen là một biểu tượng tôn
giáo quan trọng trong thế giới châu Á từ hơn năm ngàn năm
với nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong truyền thống Tịnh Độ
nó biểu trưng tính độc nhất của mỗi nhân cách, hay mỗi
thực tại như nó là, phân biệt với tất cả các cái khác
bằng tính độc nhất của riêng nó. Khi giác ngộ tối thượng
được tượng trưng bởi vàng nhấn mạnh đến sự không phân
biệt, thì tánh như hay tánh như thị xác nhận tính độc nhất
của mỗi phần tử cụ thể. Điều này căn bản đối với
sự hiểu của Phật giáo về “bình đẳng” (samata), nó không
phải là một tánh như nhau không phân biệt mà là sự xác
định tánh như của phần tử cụ thể – mỗi cái hoa là
như vậy, mỗi cái lá là như vậy, mỗi con bướm là như vậy,
mỗi con người là như vậy...
Sự
đa thù này là căn bản đối với thế giới quan Đại thừa
về tính tương hệ và tương thuộc của đời sống. Sự rực
rỡ nhiều màu sắc này được diễn tả một cách thi ca trong
Tiểu Kinh :
Trên
mặt nước ao hồ
Có
những hoa sen lớn như những bánh xe.
Những
hoa màu xanh, óng ánh xanh ;
Màu
vàng, óng ánh vàng ;
Màu
đỏ, óng ánh đỏ ;
Màu
trắng, óng ánh trắng ;
Chúng
thanh nhã và ngát hương.
Những
màu sắc muôn vẻ của cành hoa sen, mỗi hoa chiếu rọi sự
rực rỡ của nó, tạo thành sự vinh quang của cõi giác ngộ.
Đây là cõi Tịnh Độ, thế giới của giác ngộ. Nhưng thế
giới này không phải là một cái gì được đem tới cho ;
nó phải được thực hiện trải qua một chuyển hóa nền
tảng.
Sự
chuyển hóa này được chỉ dẫn trong ẩn dụ thứ ba về gạch
vụn được chuyển hóa, căn cứ trên câu kinh điển : “Chúng
ta như những thứ gạch ngói vụn được chuyển hóa thành
vàng.” Bao gồm khắp và không loại trừ, con đường này
chấp nhận mọi người, thậm chí người thấp thỏi nhất
được xem không khác “những thứ gạch ngói vụn” trong
con mắt của xã hội. Nhưng bất kể người nào hay là ai,
mọi người được chuyển hóa qua thần lực đại bi để
đích thực trở thành một người thức tỉnh. “Những thứ
gạch ngói vụn” là sự thấu biết của những người buộc
phải thấy sự hữu hạn, bất toàn và phải chết nằm trong
căn bản của mình, do được soi sáng bởi Ánh Sáng Vô Lượng
và Đời Sống Vô Lượng tức là A Di Đà. Sự thấu biết
này có vẻ không quá gây phấn khích, nhưng xác định sự
thực căn bản của mình là tác nhân quyết định trong tiến
trình chuyển hóa. Tạo ra một sự chuyển hóa như vậy là
ý định duy nhất của Bổn Nguyện Nguyên Sơ của A Di Đà,
sự vận hành của đại bi suốt qua vũ trụ.
Ẩn
dụ này về một chuyển biến có tính “luyện kim” đặt
nền trên giáo lý Đại thừa về tính bất nhị của sanh tử
và Niết bàn, mê lầm và giác ngộ, gạch vụn và vàng ròng.
Đấy không phải là một đồng nhất đơn giản, vì nó bao
gồm một căng thẳng biện chứng giữa hai cực, giữa những
chúng sanh hữu hạn và nghiệp báo với đại bi vô biên. Hai
cái cách lìa nhau, nhưng chúng là một ; chúng là một, nhưng
luôn luôn cách lìa. Điều này đòi hỏi vài sự giải thích,
nhưng trước đó chúng ta hãy đặt truyền thống Tịnh Độ
trong bối cảnh Phật giáo, liên hệ đến các tông phái khác.
TINH
THẦN THUNG LŨNG
Lý
tưởng của Phật giáo tu viện là sự siêu vượt khỏi hiện
hữu thế gian, như thể người ta leo lên đỉnh núi. Ngược
lại, thực tiễn của Phật giáo Tịnh Độ là đi xuống trong
thung lũng, bóng của ngọn núi. Chúng ta tìm thấy một đối
nghịch tương tự trong văn minh Trung Hoa. Như Phật giáo tu viện,
lý tưởng Khổng giáo có thể tượng hình bằng những đỉnh
núi vươn cao, biểu hiện những thành tựu cao nhất của giới
trí thức. Và giống như Tịnh Độ, Lão giáo được tìm thấy
trong thung lũng và vùng đất thấp, một nơi trú ẩn cho những
người không thích hợp với xã hội quy ước vì lý do nào
đó. Nhưng chính trong thung lũng này mà đời sống và sự sáng
tạo nở hoa. Đạo Đức kinh nói :
Tinh
thần Thung Lũng không bao giờ chết.
Gọi
là Mẹ nhiệm Mầu.
Cửa
của Mẹ Nhiệm Mầu
Là
gốc từ đó Trời và Đất xuất sinh.
Nó
ở đó trong chúng ta mọi lúc
Dùng
nó như bạn muốn, nó không hề khô kiệt.
Trong
thung lũng, sự trù phú được nuôi dưỡng và sáng tạo năng
động được sanh ra. Từ chiều sâu của nó năng lực đời
sống tạo ra Trời và Đất. Được bất tử hóa như Tinh Thần
Thung Lũng và đồng nhất với nguyên lý âm, sinh khí sáng tạo
của nó không bao giờ cạn kiệt. Từ đó mà có tên của văn
bản Lão giáo này, Đạo (con đường) và Đức (Năng Lực của
Đạo). Thung lũng cuối cùng là nơi an nghỉ cho mọi sự bị
trôi từ đỉnh núi, thu gom mọi loại bị từ chối và rác
rưởi của xã hội và chào đón cái không cần đến, cái
thừa, cái gây thất vọng, cái tan nát.
Ở
Nhật, truyền thống tu viện Phật giáo – dù Thiên Thai, Chân
Ngôn hay Thiền – đều nhắm đến sự “siêu vượt lên”
khỏi những đam mê trần thế. Những nguyên tắc căn bản
của nó cốt ở từ bỏ mọi ràng buộc gia đình, giữ sự
độc thân, làm chủ những kỷ luật gắt gao, tránh tiếp xúc
với người khác phái và dấn thân vào những lễ nghi tỉ
mỉ. Ngược lại, Tịnh Độ là sự “siêu vượt xuống”
vào thế giới đối nghịch, sự tự thức tỉnh với sự chìm
ngập trong bùn lầy của giận dữ, ghen ghét, không an toàn,
sợ hãi, nghiện ngập, kiêu căng, đạo đức giả. Thật tự
nhiên khi giáo lý Tịnh Độ được chào đón một cách thật
đặc biệt bởi những người của các tầng lớp thấp, bị
xem là vô phương cứu chuộc trong con mắt của giới được
đặc ân. Nhưng trong những mảnh vỡ vô giá trị và bị thải
bỏ này, một tính tâm linh phong phú được nuôi dưỡng, cung
cấp nghị lực vô tận và sinh khí vô biên cho một con người.
Phật
giáo Chân tông làm sống lại những người sống trong thung
lũng và trong bóng núi. Nó thách thức người ta khám phá ý
nghĩa tối hậu của cuộc đời trong vực thẳm của bóng tối
vô minh. Khi chúng ta đáp ứng đầy đủ cho thách thức, giáo
lý Chân tông giúp chúng ta vượt qua mê cung của cuộc đời
sanh tử. Sự kỳ diệu của giáo lý này là giải thoát có
thể dành cho chúng ta không phải bởi vì chúng ta thông thái
mà bởi vì chúng ta ngu dốt, hạn hẹp, bất toàn và hữu hạn.
Trong ngôn ngữ của Tịnh Độ, chúng ta là những chúng sanh
ngu ngốc được chuyển hóa thành rất ngược lại bởi năng
lực của đại bi.
Pháp
Nhiên tóm kết những con đường khác nhau của Phật giáo trong
phát biểu của mình : “Trong Con Đường của những vị Thông
Tuệ người ta hoàn thiện trí huệ và thành tựu giác ngộ
; trong Con Đường Tịnh Độ người ta trở lại chính sự
ngu dốt để được cứu độ bởi A Di Đà.” Sơ khởi, sự
thức tỉnh tôn giáo không tùy thuộc vào việc chúng ta là
gì hay chúng ta làm gì, mà nó trở nên tương hợp với sự
vận hành của đại bi ở trong lòng hiện hữu. Sự tương
hợp này được thực hiện nhờ cái lắng nghe sâu xa được
tiếng gọi từ sâu thẳm. Chúng ta không bị đòi hỏi gì cả
ngoại trừ việc đi vào sự lắng nghe sâu xa. Bởi vì đây
là đòi hỏi độc nhất – không giới luật, không thực hành
thiền định, không hiểu biết giáo lý, nó được biết như
là “con đường dễ”.
Tuy
nhiên, con đường dễ chỉ diễn tả sự đơn giản của con
đường, chứ không phải cấp độ khó khăn khi thực hiện
của nó, vì con đường dễ không “dễ” chút nào. Lắng
nghe sâu xa là một thách thức thật sự và có thể là một
cuộc chiến đấu dữ dội, nhất là đối với người kiêu
hãnh, bởi vì sự kêu gọi phải trở nên hiện thân trong một
con người. Hiện thân có nghĩa là sống sự niệm Phật từ
đó tuôn chảy một cách tự nhiên lời niệm Nam mô A Di Đà
Phật. Tiến trình hiện thực như vậy có thể không quá đơn
giản, như chúng ta nhớ lại trong Tịnh Độ có nói : “Dù
con đường thì dễ, ít người chịu dùng nó.” Những trở
ngại gặp phải thì khác với những trở ngại khi tuân thủ
những kỷ luật tu viện trên con đường của những bậc Thông
Tuệ bởi vì người ta phải tranh đấu với chính mình giữa
mọi loại cạm bẫy trong xã hội. Như James Hallman chỉ ra,
“Con đường đi qua thế giới thì khó tìm thấy hơn con đường
vượt qua thế giới.”
Phật
giáo Tịnh Độ có thể gợi lên một định hướng về một
thế giới khác, nhưng tiêu đích chủ yếu của nó đặt vào
cái tại đây và bây giờ. Không phải là cái tại đây và
bây giờ do kiểm soát tự ngã mà nắm được, mà cái tại
đây và bây giờ thân thiết như một quà tặng của chính
đời sống để sống đầy sáng tạo và tạ ơn, ban cho chúng
ta bởi lòng bi vô hạn. Tính hào phóng của đại bi làm cho
sự giải thoát của chúng ta khỏi cái cũi sắt do chúng ta
tự tạo trở nên có thể.
LÀM
RA PHÂN VƯỜN NHÀ
Như
một phần trong nỗ lực làm cho người ta ý thức về môi
trường hơn, thị xã Northampton của tôi, bang Massachusetts, đã
khuyến khích mọi người dân lấy rác làm phân trong vườn.
Rốt cuộc, mỗi chút gì cũng góp phần giải quyết những
vấn nạn môi sinh : rác choán mất đất, nhiễm chất hóa học,
phá rừng, đất bị xói mòn và tầng ô-zôn biến mất. Mỗi
gia đình được giao cho những cẩm nang làm ra với những chỉ
dẫn chi tiết dùng các vật thải bỏ. Như vậy không chỉ
làm giảm khối lượng rác mà còn làm đất mầu mỡ hơn.
Khi tôi đọc cuốn cẩm nang, tôi nhớ một bài thơ Chân tông
của Chisho Yanagida :
Khi
đất đai nhận những chất thải bỏ
Chất
thải bỏ biến thành đất
Không
cần thiết phải biến đổi thành đất
Để
trở thành phần của đất.
Đất
đai nhận bất cứ cái gì cho nó
Không
có yêu cầu, đòi hỏi nào.
Nam
mô A Di Đà Phật nhận lấy
Một
người như chính nó.
Khi
niệm Phật nhận lấy một người,
Bất
kể là ai hay là gì,
Người
ấy được chuyển hóa thành niệm Phật,
Tôn
vinh và ban phước cuộc đời.
Niệm
Phật nhận tôi như tôi là,
Bất
toàn và khiếm khuyết,
Với
những lo âu và vấn nạn,
Và
chuyển hóa mọi sự
Thành
những nội dung của đức hạnh cao nhất.
Sự
kỳ diệu của con đường niệm Phật là nó không đòi hỏi
một người phải trở nên thông thái hơn, tốt hơn hay hoàn
hảo hơn. Nhưng nó đòi hỏi chúng ta chính thức trở thành
thật sự như những con người bằng cách thức giấc với
lòng bi vô biên đang hộ trì chúng ta. Khi làm thế chúng ta
nhận ra những giới hạn và bất toàn của chúng ta như là
những chúng sanh mang nghiệp và cuối cùng những cái ấy được
chuyển hóa thành những nội dung của đức hạnh cao nhất.
Khi “những thứ gạch vụn được chuyển hóa thành vàng”,
sự tràn đầy phong phú của Phật pháp được biểu lộ trong
đời sống của một con người.
Vài
năm trước, vợ tôi và tôi sống trong một căn nhà ở Los
Angeles với đứa con hai tuổi. Một hôm, tôi hỏi nó khi lớn
lên muốn trở thành cái gì. Đấy có vẻ là một câu hỏi
lừa gạt đối với một đứa bé hai tuổi, nhưng nó tức
thì la lên, “Người đổ rác !” Vâng, tôi không nhất thiết
hy vọng nó nói, “Học giả Phật giáo !” nhưng sự lựa
chọn nghề nghiệp của nó khá gây ngạc nhiên. Tuy nhiên tôi
nhớ đến sự say mê của nó với chiếc xe tải vệ sinh trắng
bóng đến nhà chúng tôi mỗi sáng thứ ba lấy thùng đựng
rác. Khi phần sau của chiếc xe tải khổng lồ rầm rầm mở
ra, nó nuốt mọi thứ rác công nhân vệ sinh ném vào. Tôi nghĩ
thằng bé ngạc nhiên biết bao – giống như một con quái vật
nuốt đồ ăn. Bấy giờ tôi nói, “OK, nhưng trở thành người
Phật giáo sưu tập rác tốt nhất thế giới !”
Cho
đến lúc đó tôi đã không ngừng nhìn xem những chiếc xe
hốt rác và những công nhân vệ sinh, nhưng do luôn luôn tìm
một ẩn dụ lớn, tôi bắt đầu suy nghĩ những ám chỉ siêu
hình của việc ấy. Bởi vì rác chúng ta mang theo chung quanh
chúng ta – sự vô minh, những lỗi lầm, những nghiện ngập,
những tự phụ và những bệnh loạn thần – tất cả đều
được nhận lấy không một lời hỏi han, A Di Đà giống như
một người sưu tập rác sẵn sàng nhận những thứ bị khước
từ và đổ vào bãi rác Tịnh Độ (được tạo ra một cách
thích hợp bởi một người bạn láu lĩnh). Bởi vì mọi thứ
đều được biến thành phân vi sinh trong cánh tay bi mẫn của
A Di Đà, bãi rác tự chuyển hóa thành chất dinh dưỡng có
thể giúp cho một đời sống phong phú và mầu mỡ.
Một
bài thơ của Tz’u-min, một vị tổ Tịnh Độ Trung Hoa thế
kỷ thứ tám, tóm kết công việc vận hành của lòng bi chân
thật :
Đức
Phật ấy, trong giai đoạn Bồ tát, đã phát lời nguyện toàn
vũ trụ :
Khi
chúng sanh nghe đến Danh Hiệu tôi và nghĩ đến tôi, tôi sẽ
đến rước họ.
Không
phân biệt gì giữa người nghèo, người giàu và người sang
quý,
Không
phân biệt gì giữa người hạ lưu và người thượng lưu
;
Không
chọn lựa người học nhiều và người giữ giới,
Không
từ chối người phạm giới và người nghiệp nặng.
Chỉ
cần chúng sanh quay lại và niệm nhiều Danh hiệu,
Tôi
có thể làm gạch vụn biến thành vàng.
Như
đã bàn ở chương trước, “gạch vụn” là ẩn dụ cho những
người bất toàn, không giác ngộ, họ là mối quan tâm chính
yếu của đại bi. Rộng ra, nó ám chỉ đến những khó khăn,
xung đột và thất vọng trong đời chúng ta. Mọi thứ tiêu
cực được biến thành vàng. Hành giả niệm Phật Ichitaro
kinh nghiệm một sự chuyển hóa như vậy bất cứ lúc nào
ông gặp những vấn nạn trong cuộc đời. Một lần ông nói
: “Bạn đừng trốn chạy khỏi những rắc rối của bạn
và thế là bạn tìm thấy hạnh phúc. Hơn nữa, bạn đừng
nghĩ đến những rắc rối như là những rắc rối nữa. Và
những rắc rối tự chúng biến thành hạnh phúc, nam mô A Di
Đà Phật.”
Một
số vấn đề khó khăn trong đời sống không có những giải
đáp hợp lý, nhưng điều ấy không có nghĩa là tận thế.
Thật vậy, trong một giây phút bất ngờ của sự phát hiện,
một chương mới của đời người có thể mở ra. Brian Schulz,
khổ đau vì bệnh thấp khớp nhận ra trong Một Con Đường
Chữa Lành của Mark Ian Barasch : “Trước kia mong muốn của
tôi là trốn khỏi cơn bệnh đau như thể nó là một cái gì
ngoại lai, một kẻ xâm nhập. Bây giờ tôi bắt đầu đối
xử với nó như là một phần của tôi có thể sờ chạm được.”
Một tư tưởng tương tự của Joseph Cardinal Bernadin ở Chicago,
trước khi chết vào ngày 14 tháng 11 năm 1996, đã nói : “Cái
chết là bạn tôi.” Đấy chính xác là tình cảm biểu lộ
trong câu nói phổ thông của Chân tông : “Bệnh tật cũng
là người bạn tốt (thiện tri thức) của tôi.”
Trước
chương trình tái sinh rác ở thị xã của tôi, tôi không ngừng
nghĩ đến rác rưởi có chút giá trị gì không. Nhưng trên
con đường Tịnh Độ chính những cái của mình mà chúng ta
muốn vứt đi, chúng là vô giá, vì chúng là mối quan tâm chủ
yếu của lòng đại bi và chính nhờ lòng đại bi này chuyển
hóa chúng thành những sở hữu quý giá và thân yêu.
BỔN
NGUYỆN NGUYÊN SƠ
Sự
chuyển hóa gạch vụn thành vàng chỉ nhờ vào công việc của
Bổn Nguyện Nguyên Sơ. Từ quá khứ lâu xa, Bồ tát Pháp Tạng
đồng cảm với sự đau khổ của tất cả chúng sanh và tìm
những giải pháp cho những khổ đau ấy. Trải qua vô số kiếp
quyết tâm, tư duy và thực hành, Pháp Tạng hoàn thành Bổn
Nguyện Nguyên Sơ để cứu độ tất cả chúng sanh. Lời nguyện
đó tựu thành khi đắc quả Phật với danh hiệu A Di Đà,
đức Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Công việc cứu
độ này chứa đựng trong Danh Hiệu, nam mô A Di Đà Phật,
âm vang khắp toàn vũ trụ.
Bổn
Nguyện Nguyên Sơ của sự cứu độ giống như một khối nam
châm mạnh mẽ hút tất cả chúng sanh về với nó. Dù người
ta không ý thức đến nó hay cưỡng chống lại nó, thần lực
hấp dẫn cuối cùng sẽ thắng. Đây cũng giống như đất
mẹ. Theo Thân Loan, “Lời nguyện của lòng bi giống như đại
địa, vì tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khắp
mười phương khởi lên từ nó.”
Ai
cũng có những mộng ước riêng tư về thành công và hạnh
phúc, ước mong chúng thành tựu sớm hay trễ. Tuy nhiên, mục
tiêu thì khó nắm, và đại đa số người hiếm khi đạt được.
Bây giờ, Bổn Nguyện Nguyên Sơ vận hành để cứu độ cho
những trái tim tan vỡ và những giấc mộng tan tác của loài
người, chuyển hóa chúng thành những suối nguồn của một
đời sống phong phú và trọn vẹn. Bấy giờ người ta nhất
định đến chỗ nhận thức rằng cuộc đời không thể lập
lại này chứa đựng những kho tàng và những phần thưởng
không ngờ. Công việc không ngừng của Bổn Nguyện Nguyên
Sơ tiếp tục khi nào còn khổ đau trong thế giới, vì nhiệm
vụ căn bản của nó là thực hiện sự luyện kim tâm linh,
chuyển hóa “những gạch vụn” thành vàng.
Lời
nguyện này là “căn bản, nguyên sơ” (Sanskrit purva) trong
ý nghĩa nó ở trước thời vô thủy, nhận chứa tất cả
chúng sanh một cách không điều kiện. Nó thấy trước tất
cả mọi mong muốn, ước vọng cũng như mọi thất bại và
thất vọng mà nhân loại sẽ trải nghiệm. Như thế, nó đã
sửa soạn cho những trả lời và giải pháp cho những nhu cầu
của mỗi chúng sanh. Dù chiều sâu và viễn cảnh của sự
vận hành của Bổn Nguyện Nguyên Sơ thì vượt quá trí tưởng
tượng của chúng ta, nó đi đến chúng ta qua Danh Hiệu, nam
mô A Di Đà Phật. Như vậy, bất kỳ ai, bất kỳ ở đâu,
bất kỳ thời gian nào cũng có thể ngâm nga Danh Hiệu và thức
dậy với lợi lạc vô biên của nó.
Truyền
thống nói rằng phải năm trăm lần tái sanh để sinh vào đời
sống làm người và một ngàn lần tái sanh để gặp Phật
pháp, nhưng Bổn Nguyện Nguyên Sơ đi trước thậm chí những
tái sanh vô số này. Khi nào tôi nghe những con số thiên văn
gặp trong văn học Phật giáo, tôi nghĩ đến vườn Nhật Bản
ở Smith College xây vào năm 1986. Nằm trên mặt hơi nghiêng
nhìn ra Ao Thiên Đàng ở trung tâm sân trường, những sự tạo
thành bằng đá diễn tả cuộc đời đức Phật. Đó là những
cảnh đản sanh, từ bỏ, giác ngộ, bài pháp đầu tiên và
nhập niết bàn, cũng như Tam Bảo và Bốn Chân Lý Cao Cả.
Từ trà thất trên đỉnh vườn người ta nhìn xuống nước
của Ao Thiên Đàng và Bờ Bên Kia.
Cái
làm cho cái vườn thành độc nhất là bảy mươi tấn đá
cuội được lấy từ những ngọn đồi chung quanh thung lũng
Sông Connecticut. Vì tò mò về niên đại của đá, tôi mời
một anh bạn địa chất đến quan sát chúng. Anh tiếp cận
những viên đá bằng sự chăm sóc dịu dàng – nhẹ nhàng
vuốt ve những viên đá, vỗ nhẹ chỗ này chỗ nọ, nhè nhẹ
thổi bụi. Sau vài phút quan sát chăm chú, anh nói cho tôi hai
niên đại của đá chúng tôi đã sưu tập cho cái vườn.
Một
số đá đã được tạo thành 350 đến 450 triệu năm trước
– đá biến hình, vốn từ trầm tích dưới biển, đá nham
thạch từ dung nham. Loại khác, gọi là đá thạch anh, ít nhất
là một tỷ năm. Hoàn toàn ngẫu nhiên mà những viên đá một
tỷ năm tuổi này được chọn để làm chỗ ngồi thiền định
cho đến khi giác ngộ của đức Phật và chỗ đức Phật
nằm trong cảnh nhập diệt. So với tuổi tác của những viên
đá này, lịch sử nhân loại chỉ là một chấm nhỏ của
thời gian. Còn nhỏ hơn nữa là một kiếp người.
Một
tỷ năm vượt quá trí tưởng tượng của chúng ta, nhưng Bổn
Nguyện Nguyên Sơ vượt qua nó về thời gian và chiều sâu.
Thân Loan nói sự phát nguyện của Bổn Nguyện là mười đại
kiếp, hay ở đôi chỗ là năm đại kiếp. Một đại kiếp
là đơn vị thời gian theo các nhà toán học Ấn Độ thời
cổ thời. Nó bằng một ngàn chu kỳ của kiếp hay là 4.320.000.000
năm. Có người giải thích bằng thí dụ sau. Một kho chứa
hàng, bốn mươi dặm vuông, chứa đầy hạt cải. Mỗi một
trăm năm thì một hạt cải được lấy ra. Để làm trống
hết kho hàng, đó là thời gian một đại kiếp. Mười đại
kiếp cần để tựu thành Bổn Nguyện gợi lên sự vô biên
của nhiệm vụ sâu xa đó – làm thế nào nhổ sạch bóng
tối của vô minh trong mỗi con người từ thời vô thủy.
Bóng
tối vô minh này được Thiện Đạo diễn tả như sau : “Phải
thực biết rằng tự ngã này là một chúng sanh ngu dốt của
nghiệp xấu, lập đi lập lại sanh và tử từ vô thủy kiếp,
mãi mãi chìm đắm và lang thang không hề biết đến con đường
giải thoát.” Vô minh này không phải là sự thiếu tri thức
mà gợi ý rằng thực tại vượt khỏi giới hạn của lối
suy nghĩ quy ước. Yui-en, người sưu tập bộ Tannisho nói về
nó théá này :
Tôi
biết ơn bao nhiêu khi Thân Loan diễn tả điều ấy bằng chính
con người của mình để khiến chúng ta nhận thức sâu xa
rằng chúng ta không biết chiều sâu của nghiệp xấu và rằng
chúng ta không biết chiều cao của nhân đức Như Lai, cả hai
điều đó khiến chúng ta sống trong mê mờ hoàn toàn. (Tannisho,
Lời mở đầu)
Vì
chúng ta không biết chiều sâu của ác nghiệp, nên chúng ta
cũng không cảm kích được với hoạt động toàn vẹn của
lòng bi. Hai thiếu sót này, do giới hạn của khả năng lý
trí của chúng ta, là cội nguồn của khổ đau không dứt trong
thế giới của chúng ta.
Tinh
túy của Bổn Nguyện Nguyên Sơ là lòng bi vô biên, diễn tả
trong lời nguyện thứ mười tám của bốn mươi tám đại
nguyện của Bồ tát Pháp Tạng như điều kiện để đạt
Phật quả. Theo Đại Kinh, phổ biến ở Đông Á, thì lời
nguyện căn bản này là :
Nếu
khi tôi đắc Phật quả, chúng sanh trong mười phương với
tâm thành, niềm tin hoan hỷ và ước nguyện sanh về cõi tôi
và nói Danh Hiệu tôi chỉ mười lần mà không sanh về đó,
nguyện tôi không đạt được giác ngộ tối thượng. Chỉ
trừ những người phạm tội ngũ nghịch và những người
phỉ báng chánh pháp.
Ba
từ ngữ chủ chốt trong lời nguyện – tâm thành, niềm tin
hoan hỷ và ước nguyện sanh về – được biết như là Ba
Tâm. Một cách truyền thống, ba cái ấy được xem là những
thái độ thích hợp cần thiết cho niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên
Thân Loan đảo ngược ý kiến đó và nói rõ ràng rằng ba
cái đó là những phẩm tính của A Di Đà truyền ngấm vào
cuộc đời của mỗi người. Chúng tạo thành nội dung của
đức tin chân thật làm cho một người trở nên chân thật,
thực sự và thành thật.
Tâm
thành trong Bổn Nguyện không liên quan gì đến tâm thức của
một chúng sanh bị nghiệp trói buộc, không có gì chân thực
và thực sự. Hơn nữa, nó là tâm của A Di Đà, thấm vào
tâm thức nhiễm ô của mỗi chúng sanh. Điều này đưa đến
niềm tin hoan hỷ và sự tự phát. Tâm thành của A Di Đà vận
hành trong một con người cũng đánh thức nguyện vọng hướng
thượng, nghĩa là sinh vào Tịnh Độ. Mục đích của sự siêu
sanh này là trở thành một vị Phật, đầy đủ trí huệ và
lòng bi, để làm việc cho sự cứu độ tất cả chúng sanh.
Sự
giải thích lại Ba Tâm kết thúc trong cái được xem là sự
hoàn thành của lời nguyện thứ mười tám :
Tất
cả chúng sanh, đã nghe Danh Hiệu, giao phó chính mình và thỏa
thích trong Nhất Niệm. Đấy là kết quả của tâm thành của
Phật. Nếu họ ước nguyện được sanh về cõi Phật đó,
họ sẽ được vãng sanh và ở nơi địa bất thối chuyển.
Ngoại trừ những người phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng
pháp.
Cả
hai đoạn kinh trích ở trên chứng thực lòng bi bao trùm tất
cả và vô biên của Phật A Di Đà. Tâm thành của A Di Đà
hoạt động trong chúng sanh bảo đảm cho họ đạt được
bất thối chuyển, trạng thái không trượt lại vào sanh tử.
Nhưng sự loại trừ những người ngũ nghịch và những người
phỉ báng có vẻ ngược lại với bản tánh tuyệt đối của
đại bi. Những người bị loại trừ là những người phạm
năm điều xấu lớn lao : bạo lực với cha, mẹ, tăng ; làm
đổ máu thân Phật ; và tạo sự chia rẽ trong Tăng đoàn.
Cũng bị loại trừ là những người phỉ báng Phật pháp,
một xúc phạm thậm chí lớn hơn vì nó phủ định bất kỳ
sự bước vào một nguồn cứu độ nào. Điều khoản gọi
là ngoại trừ này đã đặt ra cho các tổ sư Tịnh Độ một
vấn nạn cần giải thích trải qua các thời đại. Nhiều
giải thích khác nhau đã được đưa ra để biện minh cho sự
loại trừ này.
Thân
Loan tóm kết những loại người kể trên trong điều khoản
ngoại trừ và giản lược nó thành như sau : “Người xem
thường những vị thầy và nói xấu những vị tổ phạm tội
phỉ báng pháp. Những người nói xấu cha mẹ mình thì phạm
năm trọng tội.” Câu hỏi hiện sinh đối với ngài trở
lại với câu hỏi căn bản : Ai trong chúng ta không phạm tội
phê phán những vị thầy và cãi lại cha mẹ ?
Bây
giờ, Thân Loan hiểu điều khoản loại trừ liên hệ với
tình trạng khó xử của riêng ngài và hiểu mục tiêu của
nó là có hai. Trước hết, nó là một lệnh chống đối lại
đời sống không có đạo đức. Bởi vì những vi phạm là
trầm trọng, ngài cảnh cáo rằng sự cứu độ có thể vô
phương cho người phạm chúng. Thứ hai, tuy nhiên, đối với
những người đã có tội, như chính ngài, điều khoản loại
trừ làm nổi bật chính đối tượng của Bổn Nguyện Nguyên
Sơ của lòng bi. Thật ra, sự cứu độ một người làm điều
xấu ác như vậy là một bộ phận cần thiết của Bổn Nguyện
; không có nó Lời Nguyện vẫn chưa hoàn thành và Phật quả
không thực hiện được. Thân Loan giải thích đơn giản :
“Do phát hiện sự trầm trọng của hai trọng tội này, những
lời ấy khiến chúng ta nhận thức rằng những chúng sanh trong
tất cả các phương trong vũ trụ sẽ được sanh vào Tịnh
Độ không loại trừ ai [nhấn mạnh được thêm vào].”
Trong
lời mở đầu cuốn Tannisho, Thân Loan xác nhận một cách tri
ân sự kiện này trong lời thú tội nổi tiếng của ngài :
Khi
tôi suy tư về lời nguyện bi mẫn của A Di Đà, được thiết
lập trải qua năm đại kiếp với thâm tâm, nó chính là để
cho tôi, chỉ một mình tôi, Thân Loan. Bởi vì tôi là một
chúng sanh chất nặng nghiệp, tôi còn biết ơn sâu xa hơn Bổn
Nguyện Nguyên Sơ, nó đích thực được tạo ra để cứu độ
tôi.
Trải
qua nhiều thế kỷ, vô số người đã thay tên Thân Loan bằng
tên của chính họ và đọc tụng lời thú tội này, rưng rưng
nhớ ơn đã tự thân gặp được Lời Nguyện bi mẫn giữa
chốn sanh tử luân hồi.
NIỆM
PHẬT : DANH HIỆU KÊU GỌI
Khi
bạn tôi, Teruo, trước tiên đặt ra với tôi câu hỏi về
nghiệp, đó là một ý niệm khác trong nhiều cái tôi đang
nghiên cứu. Nó đã không liên hệ gì đến cuộc đời của
tôi, thậm chí còn kém hơn những câu hỏi rốt cuộc làm hao
mòn tôi : Tôi là ai ? Cuộc đời tôi từ đâu đến ? Nó đang
đi về đâu ? Tôi sớm bắt đầu nhận thức rằng toàn thể
thông điệp của đức Phật nhằm trả lời những câu hỏi
nền tảng này về tự ngã, cái tự ngã bị trói buộc bởi
quá khứ nghiệp quả và mong mỏi giải thoát và tự do.
Câu
trả lời của Tịnh Độ chứa đựng trong “nam mô A Di Đà
Phật”. Đây là sự niệm Phật vốn bao gồm “quán tưởng
Phật” nhưng ngày nay thường có nghĩa “nói lên Danh Hiệu
của Phật A Di Đà”. Hai cái được phân biệt thành niệm
Phật tham thiền và niệm Phật đọc tụng. Đâu là ý nghĩa
của sự cầu khẩn của Danh Hiệu A Di Đà ?
Chủ
yếu của niệm Phật là sự thức tỉnh trước sự hữu hạn
và những giới hạn của con người, sự tỉnh giác với bóng
tối của vô minh làm khởi lên tham sân si. Thành phần nam mô
biểu lộ sự hữu hạn này. Sự nhận thức về nam mô –
lạc lõng, không nguồn gốc và không phương hướng – đưa
đến tỉnh giác do A Di Đà Phật, lòng bi vô biên vô tận bao
bọc sự nam mô đó. A Di Đà nghĩa là “vô lượng”, không
thể đo lường và vượt ngoài hiểu biết ý niệm.
A Di
Đà gồm hai nghĩa trong nguyên ngữ Sanskrit, Ami-tabha, Vô Lượng
Quang và Amitayus, Vô Lượng Thọ. Phật là âm của chữ Buddha.
Như thế, được soi sáng bởi Phật Vô Lượng Quang và Vô
Lượng Thọ, tôi nhận thức được thực tại của tôi là
một chúng sanh bị nghiệp trói buộc – giới hạn, bất toàn
và phải chết – được chứa đựng trong lòng bi vô biên.
Trong hiểu biết trọn vẹn sự hữu hạn của tôi, sự nô
lệ cho nghiệp của tôi, giải thoát và tự do được thực
hiện.
Nói
lên câu niệm Phật khẳng định đời sống vô biên, vô cùng
(A Di Đà Phật) trong đó tự ngã không an thấy ra mình đang
ở nhà. Lý trí con người không thể dò thấu sự trọn vẹn
của nam mô A Di Đà Phật sống động, bởi vì phần lớn sự
trọn vẹn đó vượt khỏi ý thức tỉnh giác của chúng ta.
Trên cấp độ ý thức, sự căng thẳng thường trực giữa
sự tỉnh giác về một con người hữu hạn, nam mô, luôn luôn
tự khẳng định mình và sự rộng mở rỗng rang của lòng
bi, A Di Đà Phật, cho ta khoảng không gian được chính là mình.
Nhưng sự căng thẳng này cuối cùng đạt đến giác ngộ tối
thượng nhờ năng lực của Bổn Nguyện Nguyên Sơ.
Nói
một cách triết lý, niệm Phật là sự tự phát âm của thực
tại nền tảng. Như thế, sự nói lên Danh Hiệu chứa đựng
alpha (cái bắt đầu) và omega (cái kết thúc) của con đường
giải thoát luận Phật giáo. Danh Hiệu âm vang với ý nghĩa
huyền thoại, đầy những dấu hiệu chỉ dẫn vượt ngoài
những lối suy nghĩ thông thường : những lời nguyện nguyên
sơ của Bồ tát Pháp Tạng hợp nhất với khổ đau của con
người, sự viên thành của những lời nguyện đa diện làm
cho sự giải thoát của chúng ta thành một sự kiện đã thành
tựu, sự đạt đến Phật quả nhờ đó, và giác ngộ tối
thượng của tất cả chúng sanh quá khứ, hiện tại, vị lai.
Chúng ta có thể hiểu câu chuyện này, phong phú chất tôn giáo,
theo một cách đơn giản, trực tiếp.
Những
lời nói và ý niệm của ngôn ngữ hàng ngày được dùng và
cần thiết cho cuộc sống, nhưng khi hết sử dụng, chúng biến
mất. Trái lại, Danh Hiệu, nam mô A Di Đà Phật, là nguồn
của đời sống sáng tạo, năng lực xác định thực tại-như-nó
là. Mỗi khi ngâm tụng nó, đời sống đầy năng lực được
kinh nghiệm. Điều này có nghĩa thế nào ? Qua sự hoạt động
của Danh Hiệu, chúng ta trở nên tỉnh giác với chính chúng
ta như là những chúng sanh giới hạn, hữu hạn (nam mô), tuy
nhiên an toàn trong năng lực hộ trì của lòng bi vô biên (A
Di Đà Phật). Là chúng sanh, chúng ta được làm cho trở thành
chân thật, thật sự và thành thật nhờ tác động vận hành
của Danh Hiệu. Như thế, khi chúng ta hiện thân Danh Hiệu,
A Di Đà là ở ngay đây. Không đọc tụng Danh Hiệu, không
có A Di Đà. Danh Hiệu là Phật A Di Đà. Danh Hiệu là thực
tại như nó là, là bản thân thực tại.
Những
sử dụng khác nhau của Danh Hiệu được tìm thấy trong những
tôn giáo khắp trên thế giới từ thời tiền sử đến ngày
nay. Nó được dùng như những chú thuật, bùa, thần chú, và
những lễ nghi cầu khấn. Sự kiện chung là Danh Hiệu được
xem là có loại thần lực nào đó. Như vậy, nó có giá trị
ích dụng, phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của con người
: chữa bệnh, giữ gìn sức khỏe, mang đến may mắn, chiến
thắng cái chết, tiêu diệt kẻ thù và hứa hẹn đời sống
vĩnh cửu.
Ngược
lại, chức năng chủ yếu của Danh Hiệu trong Phật giáo Chân
tông là giá trị chân lý của nó, nó đem lại sự chứng ngộ
thực tại như chính nó. Tóm lại, Danh Hiệu không có những
thần lực nhiệm mầu, nó không liên hệ gì với những thị
kiến xuất thần, nó không bao giờ hứa hẹn những lợi lạc
vật chất và nó không làm ra vẻ giải quyết mọi vấn nạn
trần thế. Mục tiêu căn bản của Danh Hiệu nam mô A Di Đà
Phật là đánh thức trước giá trị không thể so sánh của
cuộc đời không thể lập lại này, cuộc đời giới hạn,
hữu hạn không hề tách lìa khỏi đời sống vô biên và vô
cùng.
Một
trong những tương tự gần gũi nhất với thực hành niệm
phật trong những tôn giáo thế giới là Cầu Nguyện Jesus của
Công giáo Tây phương. Con Đường của Người Hành Hương thúc
dục người ta giữ gìn lời cầu nguyện không ngừng, “Đức
Jesus Christ thương xót con.” Có lúc người hành hương được
yêu cầu lập lại lời cầu nguyện mười hai ngàn lần mỗi
ngày.
Cầu
nguyện không ngừng là luôn luôn kêu gọi Danh Hiệu Thượng
Đế, dù đang nói chuyện, đang ngồi hay đi, hay đang làm việc,
hay ăn uống, bất cứ đang làm gì, ở mọi nơi và mọi lúc,
người ta phải kêu gọi Danh Hiệu Thượng Đế.
Điều
này khiến chúng ta nhớ lại sự thực hành hàng ngày của
Đạo Xước, ngài nói đã niệm Phật bảy mươi hai ngàn lần
một ngày. Pháp Nhiên cũng khuyến khích thường hằng niệm
Danh Hiệu ; và ngài cũng đã niệm sáu mươi hoặc bảy mươi
ngàn lần mỗi ngày.
Một
giải thích công phu về Cầu Nguyện Jesus có trong một tiểu
luận nhỏ, Về sự Cầu Khẩn Danh Hiệu Jesus, một công trình
phối hợp của Công giáo Chính thống và giáo hội Anh. Trong
tác phẩm này, tụng niệm Danh Hiệu Jesus được hiểu theo
ba cách căn bản : như một hành động thiền quán trong khi
ngồi yên lặng, như một phương pháp tiếp xúc Nhân cách của
Jesus, và như một hình thức khổ hạnh, đòi hỏi bỏ quên
bản ngã và xua đi những hình ảnh tội lỗi. Nó cũng cảnh
cáo đối với bệnh “tôn thờ thần tượng với ngôn ngữ”,
dùng Danh Hiệu cho những mục tiêu thực dụng.
Khi
Phật giáo Chân tông chủ trương tính cốt yếu của tụng
niệm Phật, việc ấy không liên quan đến con số lần cầu
khẩn. Điều cốt yếu là phẩm chất của tấm lòng trong mỗi
lần niệm, sự trong sạch trong việc đáp trả sự kêu gọi
của Phật Ánh Sáng Vô Lượng và Đời Sống Vô Lượng. Như
thế, dù chỉ thốt lên một lời, hay thậm chí “ý tưởng
muốn niệm Phật” là đủ. Không có loại điều kiện nào
đặt ra cho một người ; điều đòi hỏi duy nhất là lắng
nghe sâu xa, lắng nghe lập lại sự kêu gọi của niệm Phật.
Bởi
vì niệm Phật được xem là tự phát âm của thực tại, tín
đồ Phật giáo Chân tông không xem “nam mô A Di Đà Phật”
được liên kết với bất kỳ ngôn ngữ đặc biệt nào –
Sanskrit, Trung Hoa, Nhật Bản hay những ngôn ngữ khác – dù
cho về mặt lịch sử nó có từ tiếng Sanskrit. Là biểu tượng
tôn giáo tối hậu, Danh Hiệu là đối tượng chủ yếu cho
sự thờ phụng tôn sùng. Nam mô A Di Đà Phật, được viết
trên một cuộn vải và đặt trên bàn thờ, là hình ảnh trung
tâm. Nó được thích hơn những hình tượng tạc hay vẽ của
A Di Đà. Bởi vì thực tại trở thành biểu lộ bất cứ nơi
đâu và bất cứ lúc nào Danh Hiệu được xướng lên, rõ
ràng nó không phải là một ý niệm trừu tượng, được đặt
ra một cách trí thức, cũng không phải là một dấu hiệu
mang ý nghĩa. Rốt ráo, niệm Phật là sức mạnh sáng tạo
đời sống, nó trở thành biểu lộ nơi một nhân cách, hiện
thân nơi tư tưởng, hành động và ngôn ngữ.
Khi
Pháp Nhiên nằm trên giường để thị tịch, những đệ tử
của ngài bao quanh ngài và tỏ vẻ buồn và tiếc rằng đạo
sư của họ đã không xây dựng chùa chiền hay tháp miếu gì
để họ tưởng nhớ ngài. Những đại sư trong quá khứ đều
dựng lên những ngôi chùa lớn và những tu viện, và cuộc
đời và công hạnh các ngài được tôn vinh với những buổi
lễ tưởng niệm tỉ mỉ ở các chốn đó. Pháp Nhiên sống
ở một nơi ẩn cư đơn giản, cửa luôn luôn mở cho dân chúng.
Ngài từ chối xây dựng những công trình, và trên giường
chết ngài nói, “Nơi nào niệm Phật được xướng lên, nơi
đó là chùa của ta.”
Tuy
nhiên, là một hình thức thực hành tôn giáo, niệm Phật có
hai chức năng. Thứ nhất, nó nói lên mong ước sâu xa nhất
của chúng ta vượt lên bản ngã và trở nên chân thật, thực
sự và thành thật như một con người. Khi điều này thực
sự xảy ra, tức khắc chúng ta gặp một chướng ngại, đó
chính là bản ngã của chúng ta, và đến chỗ thấy được
rằng niệm Phật đã được thành tựu từ vô thủy cho mỗi
chúng ta từ phía Phật A Di Đà. Thứ hai, bấy giờ chúng ta
trả lời cho Danh Hiệu-kêu gọi với sự biết ơn, một sự
biết ơn sâu xa đến nỗi ngôn ngữ bình thường không thể
diễn tả. Do đó, sự cầu viện duy nhất là niệm Phật, lời
sáng tạo đến từ nguồn sâu thẳm nhất của chính đời
sống. Trong trường hợp trước, Danh Hiệu- kêu gọi đến
từ chiều sâu và chạm đến chúng ta, và khi chúng ta trả
lời với toàn thể con người của mình, chúng ta thức dậy
từ giấc ngủ của sự tự mê mờ và mở mắt ra trước sự
diệu kỳ vô cùng là đời sống.
Một
lần một sinh viên trong lớp của tôi học về tư tưởng Phật
giáo ở Smith College viết một tiểu luận, khám phá ý nghĩa
của “sự kêu gọi” trong kinh nghiệm riêng của cô. Sự
việc xảy ra trong một cuộc đi bộ việt dã ở Grand Canyon.
Với vài người bạn, Julia đi một chuyến vào hẻm núi. Một
lúc cô tụt lại sau và thấy mình chỉ có một mình. Thình
lình cô nhận ra cô đã lạc vào một vùng xa lạ. Julia la hét
tên những người bạn, nhưng chỉ có những tiếng vọng âm
vang trong hẻm núi. Một sự im lặng bí hiểm ngự trị.
Sương
xuống, không khí lạnh hơn, và cô cố gắng giữ thân cho ấm.
Chắc chắn các bạn cô sẽ trở lại tìm cô, cô nghĩ vậy,
nhưng thời gian trôi qua và bóng tối xuống dần, không có
dấu hiệu của nhóm người tìm kiếm. Không khí ban đêm lạnh
hơn, dã thú hú không ngừng, và những tiếng sột soạt trong
những bụi cây làm sợ hãi.
Rồi
trong sự yên tĩnh của đêm, cô nghe những tiếng người yếu
ớt ở xa. Nhiều phút sau, những tiếng người lớn dần. Cô
có thể nghe những chuyển động trong bóng tối đến gần.
Nhóm người tìm kiếm kêu lớn gọi cô ; tiếng gọi càng lúc
càng rõ. Cô nghe rõ ràng tiếng gọi hướng về cô ; và để
trả lời, cô la lên đáp trả cho họ biết. Dù không thể
thấy nhóm tìm kiếm trong bóng đêm, tiếng gọi của họ xác
nhận sự có mặt của họ và bảo đảm cho sự cứu thoát
của cô. Khi Julia trả lời tiếng gọi, cô không sợ nữa.
Khi nghe tên mình được gọi lên và gọi trả, cô cảm thấy
mạnh mẽ trong thân và tâm. Toàn thể con người cô được
chuyển hóa từ một sự bối rối hoàn toàn đến một sự
an vui trọn vẹn. Niệm Phật tác động trong cuộc đời chúng
ta theo một cách tương tự, thế nên tôi dịch nó ra Anh ngữ
là Danh Hiệu-kêu gọi.
Danh
theo tiếng Trung Hoa và Nhật Bản gồm hai chữ : “tịch”
(hoàng hôn) và chữ “khẩu” (miệng). Khi chúng ta lạc trong
bóng tối, có ai đó gọi to lên và xác định mình bằng tên.
Thật vậy, chữ “tịch” trong tiếng Nhật là tasogare, nghĩa
là “ai đó ?” Trong bóng tối chúng ta nghe một danh hiệu,
xác định nó, và tất cả đều êm xuôi. Dù chúng ta đang
mò mẫm trong bóng tối, một khi chúng ta nghe Danh Hiệu, chúng
ta được đem từ bóng tối vào một môi trường rộng mở
của ánh sáng mặt trời. Sự sáng sủa này cho phép chúng ta
thấy đúng như mình là, thoát khỏi mọi tính chủ quan. Cái
quán chiếu vào tự ngã là hạt nhân tinh thần ở trong lòng
sự niệm Phật. Hãy để tôi minh họa điều này bằng một
ví dụ đơn giản.
Khi
đi ngủ, một đứa bé bắt đầu đi vào giường ngủ trong
bóng tối, nó thấy những con quái vật trong phòng và kêu lên,
“Mẹ ơi, Mẹ !” Bà mẹ chạy vào phòng, bật điện lên,
dỗ dành đứa con, nói rằng, “Nhìn xem, không có con quái
vật nào ở đây cả.” Nó hoàn hồn, bà mẹ tắt đèn và
rời phòng. Được trấn an, đứa bé cố gắng ngủ trở lại,
nhưng trong bóng tối đứa bé thấy những con quái vật nhảy
nhót quanh phòng, và quá sợ nó bắt đầu kêu khóc. Bà mẹ
vội trở vào phòng, và lúc này ở lại với nó trong bóng
tối. Rồi bà nhận ra rằng những hình ảnh nhảy múa quanh
tường ; chúng là những cái bóng của ngọn đèn đường hắt
qua các chòm cây đu đưa theo gió. Bà mẹ đỡ nó dậy, bật
đèn lên và chỉ cho nó rằng sự sợ hãi của nó là không
có căn cứ nào cả. Đèn lại được tắt đi, đứa bé hoàn
toàn hiểu, và nhanh chóng đi vào giấc ngủ, miệng thì thầm
“Mẹ, Mẹ.” Ở hạt nhân kinh nghiệm của niệm Phật là
yếu tố tinh thần cho phép chúng ta thấy những sự vật như
chúng là, và chúng ta không ngu si hay dao động nữa vì những
ảo tưởng.
Tác
dụng của Danh Hiệu là như vậy. Đó là sự tự phát âm của
thực tại đi đến và hiện thân trong một con người. Thực
tại tối hậu trong Phật giáo được gọi là Pháp thân ; nó
vượt khỏi diễn tả, tưởng tượng và ý niệm. Vì nó siêu
việt khỏi chân trời của hiểu biết của chúng ta, nó tự
hiển lộ trong thế giới của chúng ta như là Danh Hiệu, nam
mô A Di Đà Phật, làm cho bất cứ ai, trong bất kỳ thời gian
nào cũng có thể thâm nhập được. Thực sự nghe Danh Hiệu-kêu
gọi là được dẫn ra khỏi bóng tối để vào trong ánh sáng
ban ngày.
Khi
chúng ta chứng thực thực tại như vậy, nó còn căn bản hơn
chỉ là “có tôn giáo” hay “tốt”. Vì lý do đó Thân Loan
khẳng định :
Xướng
danh hiệu Phật không phải là một thực hành tôn giáo cũng
không phải là hành vi tốt. Bởi vì nó được thực hành mà
không có tính toán nào, nó là “không thực hành”. Bởi vì
nó không phải là một cái tốt do ý thức tính toán tạo ra,
nó là “không tốt”. Bởi vì không gì khác hơn là Tha Lực,
hoàn toàn tách lìa với tự lực, nó không phải là một thực
hành tôn giáo cũng không phải là một hành vi tốt về phần
người thực hành. (Tannisho VIII)
Làm
sao người bình thường hiểu công việc này của Danh Hiệu
? Như thế nào người ta trả lời cho Danh Hiệu-kêu gọi ?
Trong nhiều câu trả lời, đây là một câu thường được
trích dẫn với những biến thể nhỏ :
Dù
tiếng nói kêu gọi
Nam
mô A Di Đà Phật là của tôi,
Nó
là tiếng gọi thân yêu của cha mẹ tôi
Nói
rằng, “Hãy đến như con đang là như vậy !”
“Cha
mẹ thân yêu” gốc tiếng Nhật là oya-sama. Từ ngữ này không
phân biệt cha hay mẹ, cho một cảm giác thân mật ấm áp hơn
trong tiếng Anh. Cha mẹ thân yêu cuả chúng ta luôn luôn chào
đón chúng ta không có điều kiện gì, “Hãy đến như con
đang là như vậy !” Không khác biệt gì, dù chúng ta đang
buồn đau, một mình tức giận, cảm thấy bị khước từ,
khao khát tình thương hay đang sợ hãi vì cái gì chưa biết.
Đại bi chào đón chúng ta với cánh tay rộng mở. Nam mô A
Di Đà Phật là tiếng kêu vẫy gọi, “Hãy đến như con đang
là như vậy !”
Sự
chào đón rộng lòng này được lột tả bởi Koshin Ogui trong
một bài báo đăng trên Cleveland Buddhist Temple News-letter. Ông
kể lại một kinh nghiệm một lần trở về nhà sau một chuyến
đi. Trong lúc ông vắng mặt, điện thoại đã ghi lại bốn
cuộc gọi từ cùng một người. Thông điệp là, “Jesus là
người cứu độ độc nhất. Hãy tin ngài và bạn sẽ được
cứu thoát. Hãy yêu ngài và bạn sẽ được yêu. Ai không tin
ngài sẽ đi vào địa ngục.” Ogui bình luận :
Bạn
nói gì về thông điệp này. Tôi không biết làm sao, nhưng
rồi tôi nhớ lại buổi gặp gỡ với mẹ tôi trong chuyến
đi Nhật mới đây. Năm năm nay tôi không gặp bà. Tôi vừa
mới mở cửa căn nhà nơi tôi đã sanh ra, bà đang đứng đó
trước mặt tôi. Bà không nói gì nhiều, mà nắm tay tôi và
chảy nước mắt, bà nói, “Con đã về nhà.” Thế có đáng
yêu không, khi được chào đón không có lời bào chữa, biện
minh, dù tôi có tin bà hay không, có yêu bà hay không. Tôi chứng
thực rằng tôi luôn luôn sống trong tình thương yêu của bà.
Tôi biết ơn. Nam mô A Di Đà Phật.
Trong
ngôn ngữ bình thường, nam mô A Di Đà Phật là nói, “Tôi
đã đến, tôi đã về nhà.” Như thế, những người Phật
giáo Chân tông gọi nó là trạng thái ổn định thật sự.
THA
LỰC
Công
việc, sự vận hành của Bổn Nguyện Nguyên Sơ, lòng bi của
Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ được gọi là Tha
Lực. Nhưng cái “tha” này không đối nghịch với cái “tự”
trong nghĩa nhị nguyên. Điều này trở nên rõ ràng khi chúng
ta hiểu rằng điểm bắt đầu của Phật giáo Tịnh Độ không
phải là Phật A Di Đà mà là Bồ tát Pháp Tạng. Là một Bồ
tát, Pháp Tạng thấy sâu xa những khổ đau vô biên của tất
cả chúng sanh, gắn bó với chúng sanh một cách trọn vẹn,
hiểu biết nguyên nhân của những khổ đau, tìm ra một cách
để diệt trừ chúng và chuẩn bị sự thực hành cho mỗi
chúng sanh đạt đến giải thoát. Khi Bổn Nguyện đã viên
mãn, Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ trở thành một
thực tại.
Bồ
tát Pháp Tạng ở ngay đây với mỗi chúng ta trong những chiến
đấu của chúng ta, chia xẻ những đớn đau và hy vọng của
chúng ta, ở bên cạnh chúng ta và giúp đỡ chúng ta trong hành
trình tâm linh của chúng ta. Pháp Tạng sẽ không nghỉ ngơi
cho đến bao giờ cho cuộc đời của chúng ta đạt đến sự
toàn thiện trọn vẹn với giải thoát và tự do. Khi chúng
ta đạt đến giải thoát và tự do như vậy, bấy giờ Phật
A Di Đà trở thành một thực tại sống. Tiến trình này gói
gọn trong sự sống của niệm Phật, “nam mô A Di Đà Phật”.
Nam mô là cái tự ngã lang thang, lạc lõng, tìm một cách thực
hiện tiềm năng trọn vẹn nhất của nó. A Di Đà Phật là
lòng đại bi kêu gọi tất cả chúng sanh mê mờ lạc lõng
đến với chính nó. Khi hoàn toàn thả neo vào một lòng bi
như vậy, người ta nở hoa thành một con người chân thật,
thật sự và thành thật, điều đó xảy ra tự nhiên và tự
phát.
Tha
Lực, bấy giờ là công việc của đại bi tự hiến dâng trọn
vẹn cho mỗi hình thức đời sống. Nó vượt khỏi sự hiểu
biết bình thường của tâm hồn nhỏ hẹp, vướng mắc với
đủ loại phân biệt hư vọng, giả dối. Như thế, Tha Lực
không thể xem là một đối tượng trong khuôn khổ quy ước
chủ thể-khách thể. Nó tác động, vận hành ở tận nền
tảng của đời sống, phá hủy tất cả mọi tính toán phân
biệt nhị nguyên của chúng ta (hakarai).
Sự
cảm kích “cái kia” (tha) như là bất nhị được Saichi (1850-1933),
một myokonin, một người nguồn gốc tầm thường nhưng cái
nhìn thì quán triệt, diễn tả đầy kinh nghiệm :
Trong
Tha Lực
Không
có tự lực
Không
có tha lực
Tất
cả là Tha Lực.
Đối
với Saichi, tự lực và Tha Lực là những phân biệt tùy tiện
do con người tạo ra. Bởi vì lòng bi của A Di Đà là vô biên,
vượt khỏi nắm bắt theo ý niệm, nó được gọi là đại
bi (karuna). Lòng bi này không phân biệt với trí huệ (prajna).
Tĩnh từ “đại” nói lên tâm thức và tấm lòng của Phật
bao trùm, tiêu dung mọi loại nhị nguyên – ta và người, tốt
và xấu, đời sống và cái chết v.v... – chuyển hóa chúng
thành những cội nguồn của đời sống năng động và sáng
tạo. Làm thế nào người ta có thể cảm thông sự vận hành
của Tha Lực ?
Trong
cuốn sách đáng chú ý của mình, Những Tư Tưởng Không Có
Người Tư Tưởng, trộn lẫn trị liệu pháp thần kinh với
nền tảng Phật giáo, Mark Epstein viết :
Thay
vì trốn chạy khỏi những xúc cảm khó khăn (hay bám vào những
xúc cảm thích thú), người thực hành sự chú tâm trần trụi
trở nên có thể chứa đựng bất kỳ phản ứng nào : để
mở không gian cho nó, nhưng không hoàn toàn gắn bó với nó
nhờ sự hiện diện đồng thời của tỉnh giác không phê
phán.
Đây
là một miêu tả tuyệt hảo về điều xảy ra trong thực hành
thiền định. Người ta kinh nghiệm một không gian rộng mở,
thoát khỏi mọi loại phán định giá trị để hóa giải những
xúc cảm khó khăn. Một sự tự do và rỗng rang tương tự
cũng được tìm thấy trong Phật giáo Chân tông nhưng với
những khác biệt căn bản.
Không
gian vô biên được ban cho chúng ta bởi lòng đại bi của Phật
Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Lòng bi này không chỉ không
phán định mà còn thấu hiểu trọn vẹn tất cả mọi đam
mê nhiễm ô của chúng ta : “Đức Phật đã hiểu tất cả
điều đó và kêu gọi chúng ta, những chúng sanh ngu dại của
đam mê mù quáng. Như thế, khi chúng ta nhận ra rằng bi nguyện
của Tha Lực là để dành cho những chúng sanh như chúng ta,
lời nguyện trở nên xác thực hơn và có thể nương dựa
hơn.” (Tannisho IX) Điểm này được David Ignatow làm cho sáng
tỏ và đơn giản :
Tôi
hiện hữu, và như thế Phật và tôi không là một, nhưng cái
ấy là dành cho tự ngã làm người của tôi để biết rằng
ngài hiện hữu và tôi hiện hữu trong đôi mắt ngài, và tôi
được thấu hiểu.
Lòng
bi và trí huệ của A Di Đà ban thần lực cho chúng ta, quán
đảnh cho chúng ta, khiến chúng ta có thể đương đầu với
mọi loại thách thức khó khăn trong cuộc đời.
Sự
ban thần lực giải phóng chúng ta để chúng ta thừa nhận
một cách công khai những giới hạn và bất toàn của chúng
ta, thậm chí những nghiện ngập và loạn thần của chúng
ta. Qua công việc của Tha Lực, chúng ta đích thực trở nên
chính mình, để chấp nhận những cảm xúc của chúng ta mà
không tiếc nuối, hối hận hay cảm thấy phạm tội. Bởi
vì không gian này và sự hiểu biết được cung cấp cho chúng
ta, những tác phẩm của người Phật giáo Chân tông đầy
những tình cảm trong sạch được phơi bày trọn vẹn – vui,
buồn, khôi hài, tức giận, ngu dại, hối hận, biết ơn. Giải
thoát khỏi những hậu quả vướng bám của quá khứ nghiệp,
chúng ta tiến về phía trước một cách tích cực và sáng
tạo.
Những
điều này được minh họa trong cuộc đời của một người
phụ nữ Phật giáo Chân tông tên Haru Matsuda, bà đã để lại
nhiều bài thơ tôn giáo để bày tỏ những soi thấy sâu xa
nhất của bà vào đời sống. Bà Matsuda là một người Nhật
di cư và định cư ở Kona, Hawaii, vào đầu thế kỷ. Những
người Nhật ấy tạo thành một cộng đồng quanh một ngôi
chùa Chân tông, Kona Hongwanji. Đầy tràn niềm tin, bà diễn
tả sự cảm kích của mình trong những bài thơ ngắn theo như
phong tục Nhật. Trong vô số bài thơ, có bài như vầy :
Được
ôm ấp bởi lòng bi chân thật,
Tôi
nguyện không bao giờ than vãn ;
Đang
nghĩ như thế,
Tôi
lại than vãn.
Sáng
nay dụi mắt,
Tôi
bắt đầu than vãn ;
Nam
mô A Di Đà Phật vọt ra,
Và
tôi thật sự tỉnh dậy.
Sống
dưới những khó khăn kinh tế gay gắt trong một thế giới
nước ngoài đối nghịch, bà Matsuda và gia đình bà làm việc
quần quật trong những đồn điền cà phê ở Kona. Bà làm
việc từ sáng tới tối, chăm lo nhu cầu cho một gia đình
đông người. Đời bà đầy những khó nhọc, thất vọng và
than trách, tuy nhiên bà chịu đựng và sung mãn, yêu đời,
do lòng bi của A Di Đà thấm nhuần. Công việc của lòng bi
mở mắt cho bà trước sự hữu hạn của con người – giới
hạn, bất toàn và phải chết – nhưng cái con người hữu
hạn đó được chứa đựng trong thần lực nâng đỡ hộ
trì tất cả của A Di Đà. Đã được chỉ cho tự ngã chân
thật của mình và biết ơn cái thấy thấu suốt này, bà nguyện
không bao giờ than vãn. Nhưng ngay lúc đó, bà lại thấy mình
đang than vãn. Bà lại được chỉ cho bản tánh chân thật
của bà, nhưng cùng lúc bà nhận ra rằng bà đã được chấp
nhận bởi lòng đại bi. Nói theo lời của Thân Loan, “Phật
đã hiểu tất cả điều đó và kêu gọi chúng ta, những chúng
sanh ngu dại của đam mê mù quáng.”
Bài
thơ thứ hai còn nói rõ hơn. Trở dậy buổi sáng, bà Matsuda
phải cảm thấy bao nhiêu công việc đáng sợ trước mặt,
và bà bắt đầu than vãn. Ngay lúc đó, “Nam mô A Di Đà Phật
vọt ra.” Qua nhiều năm huân tập sự lắng nghe sâu xa, niệm
Phật đã trở nên phần của tiềm thức bà. Giờ đây nó
trồi lên để phát lộ thực tại chân thật của bà. Nam mô
a Di Đà Phật xác định mỗi nam mô – lạc lõng, mờ rối
và than vãn – ở trong đại bi của A Di Đà Phật, Ánh Sáng
Vô Lượng và Đời Sống Vô Lượng. Mỗi xướng lên niệm
Phật là một lần giải thoát chúng ta vào trong một vũ trụ
vô biên và vô hạn.
Khi
nam mô A Di Đà Phật chạm vào bà, bà thực sự tỉnh dậy,
không chỉ để sửa soạn công việc trong ngày, mà là thức
tỉnh với thực tại của thân phận con người. Bây giờ bà
xác định những giới hạn của mình, không phải như một
trói buộc mà là một khoảnh khắc giải thoát để đi sâu
hơn vào đời sống chân thật và thực sự. Với trí huệ
và thần lực được ban cho, bà Matsuda vượt qua mọi trở
ngại để nuôi nấng năm đứa con, bày tỏ lòng bi với người
kém may mắn, và đóng góp vào việc nâng cấp đời sống cộng
đồng.
Với
một cuộc đời lắng nghe sâu xa, bà Matsuda trở nên một người
thực sự thức tỉnh. Nó cho phép bà sống chân chính, đến
chỗ thấu triệt bản thân mình, thay vì duy trì một đời
sống bề mặt chứa đầy những hy vọng giả tạo. Bà hoàn
toàn thức giác sự tự-lừa dối của bà, không phải vì đã
đặc biệt thông tuệ hay giác ngộ, mà bởi vì bản tánh chân
thật của bà đã được soi sáng bởi Ánh Sáng Vô Lượng
và Đời Sống Vô Lượng. Điều này biến cho bà thành một
người hoàn toàn giải thoát, như Thân Loan diễn tả :
Trong
con người niệm Phật mở ra con đường lớn của tự do không
ngăn ngại. Lý do là chư thiên cúi mình trước người thực
hành lòng tin chân thật, và những chúng sanh quỷ thần không
thể cản ngại con đường. Những hậu quả của nghiệp xấu
không thể biến thành quả, và bất cứ hình thức của cái
tốt nào cũng không bằng. Như thế, đó gọi là con đường
lớn của tự do không ngăn ngại.
Người
giải thoát phải sống với những hậu quả của nghiệp quá
khứ, nhưng chúng không trở thành những gánh nặng nữa và
không có nghiệp tiêu cực nào được tạo ra.
TỰ
LỰC
Từ
ngữ tự lực, ngược với Tha Lực, không nên được cho là
một tự lực phủ định trong đời sống hàng ngày. Để trở
thành một người lớn trưởng thành, độc lập, chúng ta phải
nương dựa vào những năng lực được phát triển trong chính
mình – lý trí, tâm lý và trực giác. Chính trong lĩnh vực
tìm kiếm có tính tôn giáo mà tự lực thành một vấn đề
thật sự.
Theo
Thân Loan, tự lực trở nên biểu lộ trong một số đường
lối. Trước hết, bất cứ khi nào người ta, “ý thức làm
việc tốt” trong bất kỳ hình thức nào gồm cả thực hành
tôn giáo, thậm chí khi xướng danh hiệu Phật, tự lực bèn
vận hành. Không ý thức được trò chơi quy ngã ẩn núp phía
sau, người ta tự cho mình là đúng và tự phụ, có những
phê phán đúng sai đối với những người khác.
Thứ
hai, bất cứ khi nào người ta tin vào khả năng của mình để
“thêm rối rắm trong thân, ngữ, ý” qua một số phương
tiện, như thực hành thiền định, tự lực bèn tác động.
Bấy giờ người ta quay qua những đức Phật và bổn tôn khác
để cầu xin, và đi vào những thực hành khác với niệm Phật.
Người ta chỉ dựa vào những ý thích thất thường của mình
để khơi dẫn cho đời sống tôn giáo.
Thứ
ba, bất cứ khi nào người ta kiêu căng tin vào khả năng tự
biết mình, đó là sự vận hành của tự lực. Điều này
bao gồm việc tự cho mình là nhận biết trọn vẹn sự giới
hạn, bất toàn và sai lầm của mình nhờ năng lực của chỉ
sự suy nghĩ lý trí tự mình.
Cuối
cùng, khi sự thực hành tôn giáo của người ta, bất kể cam
kết và hướng nguyện bao nhiêu, cũng không có hiệu quả,
không sanh sôi nảy nở, tự lực đã đạt đến điểm chết.
Đó là thời điểm cái ta mở ra với công việc của Tha Lực,
nó là thấm nhuần khắp và hộ trì tất cả.
Trong
đời sống hàng ngày, tự lực biểu lộ thành những thôi
thúc vô thức, ích kỷ ăn sâu. Chúng ta hiếm khi nhận ra điều
này, bởi vì mắt chúng ta luôn luôn phóng ra ngoài và chúng
ta không thể thấy chính mình. Chúng ta thường trực phê phán
và chỉ trích những người khác, hoàn toàn không biết gì
về sự tự tri cạn cợt, bề ngoài của mình. Sự vô minh
này dẫn đến mọi loại hỗn loạn không cần thiết trong
đời sống cá nhân và trong thế giới. Như Carl Jung có lần
viết, “Làm sao có thể nhìn thẳng trực tiếp khi thậm chí
nó không nhìn chính nó và nhìn vào cái tối tăm đó mà nó
tự mang theo một cách vô thức vào trong mọi xử sự của
nó.”
Một
ví dụ đơn giản minh họa cái ngã tính toán phân biệt như
thế nào khi nó nghĩ nó đang làm việc tốt. Bệnh viện địa
phương ở thị xã tôi có một quỹ nộp vào cuối mỗi năm.
Tôi là một người nhiều khi đã hưởng những phục vụ tuyệt
hảo của nó, đó là một nơi tôi đóng góp hàng năm. Vào
cuối năm báo cáo tài chính của quỹ được thông báo với
danh sách tên những nhà tài trợ theo các mục hiến tặng khác
nhau. Dù tôi đã cho với động cơ biết ơn, điều đầu tiên
tôi làm khi nhận báo cáo này là xem tên tôi có trong đó không,
viết có đúng không và đặt có đúng chỗ không.
Một
năm nọ, văn phòng bệnh viện loan báo sẽ tặng những đồng
hồ số bằng plastic như một vật cám ơn cho những người
hiến tặng. Tôi đã gởi tiền, tôi chờ món quà đến. Tôi
chờ mãi. Tôi chờ trong sáu tuần, nhưng nó không đến. Thế
nên, một hôm tôi không chờ nữa và quyết định gọi văn
phòng. Với một giọng lịch sự, tôi nói, “Dù bản thân
tôi không quan tâm tôi có được cái đồng hồ số hay không,
tôi nghĩ rằng bạn cần biết có một số người đã chưa
nhận được. Nếu chúng tôi không có, bạn có thể không có
phần hiến tặng vào năm tới !” Điều tôi thật sự muốn
nói thì thẳng thừng hơn – “Hừ, tôi chưa nhận được
đồng hồ của tôi. Nếu bạn không gởi cho tôi một cái,
năm tới chẳng có món cho nào đâu !” Hai ngày sau cái đồng
hồ plastic rẻ tiền mà đáng yêu đến bằng đường bưu điện.
Nó đã ngưng hoạt động sau vài tháng. Dù sao, việc đó cũng
không gây thích thú gì ghê gớm.
Khi
tôi suy nghĩ về sự việc này, tôi tự hỏi, tôi đã hiến
tặng cho ai ? Rõ ràng, không phải cho bệnh viện hay những
sự phục vụ của nó – chỉ thuần cho riêng tôi. Mối quan
tâm tối hậu của tôi không phải là bệnh viện mà là tham
muốn không vơi được biết đến, dù chỉ trong hình thức
một món quà rẻ tiền. Ý định tốt của tôi bị che ám bởi
vì tôi luôn luôn “ý thức làm việc tốt”.
Myokonin
Kichibei (1803-81) là một người bán rong có đức tin sâu thẳm.
Người ta hướng về ông khi họ có những câu hỏi về đức
tin Chân tông. Ông nói bằng những thí dụ đơn giản, ngày
thường. Một lần ông minh họa bản chất ương ngạnh của
tự lực bằng câu chuyện sau.
Dù
cá sống trong đại dương, trong nước muối, muối không bao
giờ thấm vào thân nó. Nếu tôi giải thích lý do, đấy bởi
cá đang sống. Nhưng nếu bạn ướp muối cá chết đã được
lưới lên, muối vào thẳng trong thân để duy trì cá. Và bất
kể bạn cố gắng théá nào để trục muối ra, cá vẫn mặn.
Đúng thế, chúng ta giống như con cá, sống mỗi ngày ngập
trong Phật Pháp, tuy nhiên Pháp không hề thấm vào cuộc sống
chúng ta. Tại sao thế ? Bởi vì bản ngã chúng ta còn sống,
còn vẫy vùng bằng tự lực.
Tự
lực từ chối lời dạy của Phật như là không liên quan và
vô nghĩa cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Bao giờ tự
lực còn sống và khỏe mạnh, bản ngã còn cưỡng chống lại
Phật Pháp, dựng lên mọi loại phòng thủ, che chắn. Nhưng
sớm hay muộn, có lúc chúng ta nhận ra sự phá sản của tự
lực. Khi ấy, pháp sẽ thấm vào thân tâm chúng ta để truyền
thấm vào một ý nghĩa mới mẻ và đầy sức sống của cuộc
đời.
SỰ
TRUY TÌM
Tự
lực không phủ định nỗ lực cần thiết để tiến bộ trên
con đường thức tỉnh. Tiềm ẩn trong cái gọi là con đường
dễ dàng của Phật giáo Tịnh Độ là truyền thống lớn “tu
thân” trong truyền thống Á châu. Tu thân điều phục thân
và tâm, xây dựng tính cách và sức mạnh bên trong, kiềm chế
dục vọng, và làm hiển lộ tiềm năng trọn vẹn nhất của
một con người. Nó là cốt lõi cho tiến trình giáo dục Khổng
giáo, sự tu hành thân tâm của Lão giáo, sự thực hành thực
tiễn của Phật giáo đặt nền trên giới, định, huệ, và
những nghệ thuật như thư pháp, bắn cung, hội họa, lễ trà,
cắm hoa hay những thành tựu văn hóa khác.
Tu
thân là sức mạnh hướng dẫn trong cố gắng của một con
người tìm cách sống một đời sống cao nhất về đạo đức,
không phải bằng lời nói mà bằng hành vi. Nó là cốt lõi
của sự truy tìm sự đích thật là một con người trong những
con đường khác biệt của tâm linh. Trong mọi cố gắng như
vậy, người ta không tránh khỏi ý thức được sự hữu hạn
của con người, thực thể của mình như một chúng sanh do
nghiệp – giới hạn, bất toàn, phải chết. Tiến trình trải
nghiệm này nằm trong trái tim của Phật giáo Chân tông, và
nếu chúng ta không trải nghiệm được, kết quả là một
cái nhìn méo mó về con đường Tịnh Độ. Trong Phật giáo
Chân tông, tu thân là một vấn đề kỷ luật bên trong và
không phải là một hình thức bên ngoài rõ ràng cho người
ngoại cuộc, như ngồi thiền chẳng hạn. Bởi thế, nó không
hề nổi bật nhưng là một phần chính yếu của “tìm Đạo”.
Chúng
ta được đưa tới những cánh cổng của Phật giáo Chân tông
bằng nhiều đường khác nhau. Với một số người chúng ta
đó là những duyên nghiệp may mắn từ quá khứ, thường ngoài
sự lựa chọn của chúng ta ; và những người khác có thể
nhờ gặp những vị thầy tốt gây cảm hứng cho chúng ta trên
đường tìm kiếm. Một số người sẽ hướng về con đường
Chân tông bởi vì những thảm cảnh bất ngờ hay những giây
phút thình lình tỏ ngộ. Bấy giờ chúng ta sẽ bắt đầu
hỏi về Phật A Di Đà, Tịnh Độ, Bổn Nguyện, cái ngã ngu
si, niềm tin chân thật. Giai đoạn ban đầu “nghe” Phật
Pháp này dẫn chúng ta đến những câu hỏi xa hơn, khi người
ta cố gắng liên hệ chúng với đời sống hàng ngày. Bấy
giờ chúng ta không thỏa mãn với những câu hỏi thuần túy
khách quan và những câu trả lời từ bên ngoài. Như vậy,
giai đoạn kế tiếp là tương ưng với “lắng nghe sâu xa”
bắt đầu.
Những
câu hỏi trở nên cá nhân và hiện sinh một cách sâu xa. Tôi
là ai ? Cuộc đời của tôi có từ đâu ? Nó đang đi về đâu
? Cái gì là mục đích của cuộc đời tôi ? Làm thế nào
giáp mặt với cái chết ? Khi cố gắng đào sâu những câu
trả lời chúng ta đấu tranh với chính mình, với bóng tối
vô minh của chính mình, với vọng tưởng mê lầm của chính
mình. Kiên trì và nỗ lực là cần thiết trong cuộc tranh đấu
để thông hiểu. Không phân biệt trường phái, Phật giáo
xem nỗ lực, tinh tấn là cốt yếu cho đời sống tôn giáo.
Nó là căn bản trong Tám Thánh Đạo của Phật giáo Theravada
: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Trong Sáu Hoàn
Thiện (Ba la mật) của Phật giáo Đại thừa, nó còn chiếm
một chỗ quan trọng hơn : bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định và trí huệ. Trong Phật giáo Chân tông
tinh tấn được biểu lộ trong sự tận tâm lắng nghe sâu
xa, thậm chí nó có nghĩa là đi xuyên qua “trái cầu lửa
lớn của ba ngàn thế giới”.
Tiến
trình “lắng nghe” giáo lý được truyền dẫn trong khuôn
khổ chủ thể và khách thể : người lắng nghe hiện hữu
tách lìa với giáo lý được dạy. Tuy nhiên sự tích tập
“lắng nghe” cuối cùng gây ra một biến đổi tiệm tiến
trong tiềm thức, nhờ đó nhị nguyên chủ thể-khách thể
trở nên yếu đi. Bấy giờ người ta đi vào lãnh vực của
sự lắng nghe sâu xa Phật Pháp, và người ta bắt đầu khám
phá ra tự ngã chân thật của mình trong giáo lý. Thật vậy,
phạm vi bề rộng của việc lắng nghe sâu xa quyết định
mức độ tự tri từ cạn đến sâu. Nếu một người Phật
giáo Chân tông làm một hình thức thiền định nào, đó chỉ
có mục đích duy nhất là lắng nghe sâu xa.
Cốt
lõi của lắng nghe sâu xa là tính bất nhị, do đó chủ thể
và khách thể thành một. Mọi dấu vết của ý niệm nhị
nguyên biến mất, dù về phía chủ thể hay khách thể. Như
một ví dụ bất nhị về phía chủ thể, chúng ta có một
câu thơ nổi tiếng của T. S. Elliot trong Tứ Cú :
Âm
nhạc nghe thật sâu xa
đến
độ nó không được nghe chút nào,
mà
bạn là âm nhạc
khi
âm nhạc còn đó.
Đây
là sự lắng nghe sâu xa trong đó âm nhạc không còn là một
“khách thể” nữa ; hơn nữa, nó thành nội dung toàn thể
của chủ thể vào lúc đó. Khuôn khổ chủ thể-khách thể
tan biến trong sự lắng nghe sâu xa được trải nghiệm. Dĩ
nhiên, một khi giây phút đó qua đi, chủ thể và khách thể
lại tách lìa.
Một
kinh nghiệm tương tự về bất nhị, lần này về phía khách
thể, được tìm thấy trong một trích dẫn của Cézanne. Tóm
tắt nghệ thuật của mình, ông nói, “Cảnh vật tự vẽ
chính nó qua tôi, và tôi là ý thức của nó.” Ở đây cảnh
vật bao trùm chân trời của kinh nghiệm, đem “chủ thể”
vào trong bản thân nó. Không có sự phân biệt nào giữa cảnh
vật và Cézanne. Nhưng khi ông thôi vẽ, ông trở lại thế
giới của nhị nguyên chủ-khách.
Trái
với những kinh nghiệm tạm thời về bất nhị này, sự lắng
nghe sâu xa trên con đường Chân tông đưa đến một sự biến
đổi và thường hằng trong một con người. Đã trải qua tranh
đấu ghê gớm và sự thức tỉnh cuối cùng, một con người
không bao giờ mất cái đã đạt được. Sự hiện thân, nhập
thân toàn vẹn của Phật Pháp làm sanh ra một ngã tánh mới,
trí huệ và lòng bi trưởng thành tự nhiên. Không có sự trở
lại. Thế nên, điều này được biết như là trạng thái
bất thối chuyển.
Như
chúng ta đã chỉ ra, bởi vì sự chuyển hóa trong lắng nghe
sâu xa là một tiến trình bên trong và không có hình thức
bên ngoài, nó không rõ ràng cho người ngoài thấy. Nhưng nó
đòi hỏi sự hiến mình và nỗ lực cũng như (nếu không nói
là hơn) những hình thức khác của thực hành tôn giáo. Một
trận chiến tâm linh xảy ra trong đời sống bên trong của
người ta, trận chiến là một dạo đầu không thể tránh
cho bất kỳ hình thức giải thoát và tự do đích thực nào.
Nhưng thế chưa phải là tất cả.
Bởi
vì sự thức tỉnh cuối cùng thì vượt ngoài những tính toán
và kiểm soát của con người, có một sự để mặc (nhiệm
vận) trên con đường tôn giáo. Trong ngôn ngữ Chân tông, có
xảy ra một sự thoát khỏi tự lực nhờ công việc của Tha
Lực. Thật vậy, một trong những định nghĩa mà Thân Loan
nói về Tha Lực là “cái trống vắng mọi tính toán” (hakarai),
gợi ra một sự sống tự nhiên, thoát khỏi mọi loại ý muốn.
Trong Thiền Lâm Tế toàn bộ tiến trình này gồm ba giai đoạn
: tích tập, sự tìm kiếm không ngừng để giải quyết một
công án ; và bùng vỡ, sự vỡ tung vào giải thoát và tự
do. Chúng ta tìm thấy một tiến trình tương tự trong hành
động sáng tạo.
Chẳng
hạn trong nghề làm đồ gốm, người thợ gốm phải đầu
tư thì giờ, nghị lực và tập trung để làm một sản phẩm
nghệ thuật. Đã dùng toàn bộ nỗ lực trong việc nặn đất
sét, người ta đặt nó trong một lò nung nơi đó mọi cái
được giao phó cho những năng lực không thể thấy. Người
ngoài chỉ thấy sản phẩm khi đã hoàn thành nhưng không bao
giờ thấy công việc trong toàn thể tiến trình. Trong một
tác phẩm nổi tiếng về nghệ thuật dân gian Nhật Bản, Người
Thợ Thủ Công Vô Danh, người thợ gốm nổi danh thế giới
Shoji Hamada nhận xét :
Nếu
một lò nung nhỏ, tôi có thể kiểm soát nó hoàn toàn, nghĩa
là cái bản ngã của tôi có thể trở nên một người kiểm
soát, một người làm chủ lò nung. Nhưng bản ngã của con
người cũng chỉ là một điều nhỏ. Khi tôi làm việc nơi
một lò nung lớn, năng lực bản ngã của tôi trở nên yếu
đến độ không thể kiểm soát nó đầy đủ. Thế có nghĩa
là đối với lò nung lớn, năng lực vượt khỏi tôi là điều
cần thiết. Không nhờ vào một năng lực vô hình như vậy
tôi không thể có được những sản phẩm tốt. Một trong
những lý do tôi muốn có một lò nung lớn là bởi vì tôi
muốn là một người thợ gốm, nó làm việc trong ân sủng
nhiều hơn là trong năng lực của bản thân nó. Các bạn biết
hầu như tất cả những cái bình tốt nhất đều được làm
trong một lò nung khổng lồ.
Trong
ngôn ngữ Chân tông, tự lực của người thợ gốm được
giao phó hoàn toàn cho công việc của Tha Lực. Nhưng điều
này kh