CHƯƠNG
II : NI ĐÀ NA
A. NHAN
ĐỀ (68)
So
sánh các nhan đề 98 kinh P và những kinh C tương đương, ta
thấy có 45 kinh có cùng nhan đề, 15 kinh có đề gần giống
nhau, và 38 kinh có nhan đề hoàn toàn khác nhau.
1.
Bốn mươi lăm kinh có đề giống nhau :
Các
NC số 5, 8, 9, 10, 11, 13, 14, 19, 23, 24, 28, 29, 32, 33, 35, 36, 37,
38, 39, 43, 46, 49, 51, 52, 54, 56, 57, 58, 60, 62, 68, 69, 71, 72, 74,
76, 77, 78, 79, 80, 81, 84, 85, 90, 91.
2.
Mười lăm kinh có nhan đề gần giống nhau :
NC
số 2, 3, 4, 15, 20, 25, 26, 40, 55, 61, 63, 67, 86, 94, 95.
3.
Ba mươi tám kinh hoàn toàn khác nhan đề nhưng nội dung gần
giống :
Có
38 kinh nhan đề hoàn toàn khác giữa hai bản C và P. Đôi khi
bản C chọn tên của nhân vật chính trong kinh làm nhan đề,
trong khi bản P lại chọn tên của pháp được giảng. Ví dụ
:
NC
7 : C 91,Châu na vấn kiến (Chou-na-wên-chien-ching) = P8,
Kinh Đoạn giảm (Sallekhasutta) .
NC
22: C204,La ma kinh (Lo-mo-ching) = P26, Kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanasutta)
.
Đôi
khi bản P chọn ví dụ để đặt tên, trong khi bản C lấy
tên nhân vật, ví dụ :
NC
6 : C93, Thủy tịnh Phạm chí kinh (Shui-ching-fan-chih-ching)
= P7, Kinh Ví dụ tấm vải (Vatthùpamasutta) .
NC
18: C193, Mâu lê phá quần na kinh (Mou-li-p'o-chun-na-ching)
= P21, Kinh Xà dụ (Kakacùpamasutta) .
Một
đôi khi ta thấy điều ngược lại là kinh P dùng nhân vật
và kinh C dùng ví dụ hay pháp, ví dụ:
NC
41 : C 221, Tiễn dụ kinh (Chien-yu-ching) = P63, Tiểu kinh
Màlunkya
(Cùlamàlunkyasutta).
NC
số 42 : C205,Ngũ hạ phần kết kinh (Wu-hsia-fên-chieh-ching)
= P64 Đại kinh Màlunkya (Mahàmàlunkyasutta) .
NC
số 82 : C79, Hữu thắng thiên kinh (Yu-shêng-t'ien-ching) =
P127,Kinh Anuruddha.
Nhưng
sự chọn tên nhân vật để đặt đề kinh được tìm thấy
khá nhiều trong kết tập S hơn là trong bản P. Như trong NC
số 6, 7, 12, 18, 21, 22, 27, 30, 31, 44, 45, 52, 65, 66, 83 và 96, trong
tất cả 16 kinh ấy, bản C dùng nhân vật trong khi bản P dùng
thí dụ hay pháp để đặt nhan đề. Nhưng chỉ có bảy trường
hợp ngược lại, đó là NC số 41, 42, 64, 82, 87, 88, và 97.
Chúng
ta thấy rằng trong bản P khi hai kinh dài, ngắn có cùng một
nhan đề thì chữ Tiểu (Cùla) và Đại (Mahà) được
thêm vào nhan đề để phân biệt; nhưng bản C bỏ cách phân
biệt ấy và dùng một nhan đề cho cả hai kinh. Ví dụ:
NC
10 , 11 : C99, 100 Khổ uẩn kinh (K'u-yin-ching) = P13, Đại
kinh khổ uẩn (Mahàdukkhakkhandhasutta) và P14, Tiểu kinh
khổ uẩn (Cùladukkhakkhandhasutta).
NC
25, 26 : C184,185, Ngưu giác sa la lâm kinh (Niu-chioh-so-lo-lin-ching)
= P31, Tiểu kinh rừng sừng bò (Cùlagosingasutta) và P32,
Đại kinh rừng sừng bò (Mahàgosingasutta).
NC
28, 29 cũng vậy, hoặc NC 31, 32 và NC 49, 51. Trừ NC 76, 77 trong
đó bản C phân biệt giữa hai kinh bằng cách thêm chữ Tiểu
(Hsiao) và Đại (Ta). Lại có một trường hợp
trong đó bản C có cùng một nhan đề cho hai kinh trong khi bản
P lại có hai nhan đề khác nhau. Như trong
NC
64 : C152, Anh vũ kinh (Ying-wu-ching) = P 99,Kinh Subha (Subhasutta).
NC
89 : C170, Anh vũ = P135, Kinh Tiểu nghiệp phân biệt kinh (Cùlakammavibhangasutta).
Nhìn
chung ta thấy trong 98 kinh có 45 kinh có nhan đề giống nhau,
và 15 kinh có nhan đề gần giống nhau. Điều này có ý giải
thích rằng 45 kinh này rất nổi tiếng vào thời kết tập,
hoặc do tầm quan trọng của những kinh ấy, hoặc do các nhà
kết tập quan tâm và nhớ rõ các kinh ấy. Khối lượng kinh
này cống hiến một nguồn gốc chung từ đó những nhà kết
tập rút tài liệu, và điều này giải thích tỷ số cao những
điểm tương đồng giữa hai bản dịch, về phương diện nhan
đề.
B. ĐỊA
ĐIỂM NÓI KINH :
Trong
số 98 kinh được khảo sát so sánh, có 62 kinh C và P có địa
điểm giống nhau, 15 kinh có địa điểm gần giống, 21 kinh
hoàn toàn khác địa điểm.
1.
Kinh có địa điểm giống nhau:
-
Tại Xá Vệ (C: Shê-wei; P: Sàvatthi), Thắng lâm
(C: Shêng-lin; P: Jetavana); Cấp Cô Độc viên (C:
Kei-ku-tu; P: Anàthapindikàràma) gồm 37 kinh : NC số
5, 10, 13, 14, 16, 17, 18, 19, 23, 24, 27, 32, 33, 35 , 41, 42, 43, 50,
52, 56, 57, 61, 70, 71, 72, 75, 78, 82, 84, 85, 86, 88, 89, 91, 92, 97,
98.
-
Tại Vương Xá (C: Wang-shê; P: Ràjagaha), Trúc Lâm
(Veluvana), vườn Ca Lan Đà (C: Chia-lan-to; P: Kalandakanivàpa)
gồm 7 kinh : NC 46, 51, 63, 79, 80, 81, 90.
-
Giữa dân chúng Kuru (Chu-lou-shou), Kammàsadamma
(Chien-mô-sê-t'an) gồm 3 kinh : NC 8, 48, 67.
-
Tại Thích Sí Sấu (C: Shih-chi-shou; P: Sakka), Ca Tỳ
La Vệ (C: Chia-wei-lo-wei; P: Kapilavatthu), rừng Ni
Câu Luật (C: Ni-chu-lei; P: Nigrodha) gồm 3 kinh : NC
11, 77, 96.
-
Tại Xá Vệ (C: Shê-wei; P: Sàvatthi), Lộc Mẫu (C:
Lu-tzu-mu;
P: Migàramàtu) giảng đường gồm 2 kinh : NC 68, 76.
-
Tại Ma-kiệt-đà (C: Mo-chieh-t'o; P: Magadha), thành
Vương Xá (C: Wang-shê; P: Ràjagaha), một kinh : NC
94.
-
Tại Xá Vệ, An Đà lâm (C: An-t'o-lin; P: Andhavana),
một kinh : NC 20.
-
Giữa dân chúng Bhagga (P'o-ch'i-shou), núi T'o (Sumsumàragiri),
trong rừng Khủng Bố (Bhesakalàvana), vườn Nai, một kinh
: NC 36.
-
Tại Na Lan Đà (C: Na-nan-t'o; P: Nàlandà), trong rừng
Pàvàri-kamba,
một kinh : NC 39.
-
Tại Kosambi (Chu-shê-mi), Ghositaràma (Ch'u-shih-lo),
một kinh : NC 83.
-
Giữa bộ tộc Thích Sí Sấu (C: Shih-chi-shou; P: Sakkas),
tại Devadaha (T'ien-i), một kinh : NC 65.
-
Giữa bộ tộc Thích Sí Sấu, ở Medalumpa (Mi-lou-li),
một kinh : NC 58.
-
Giữa dân chúng Kosala (Chu-so-lo), một kinh : NC 53..
-
Tại Na Đề Ca (C: Na-mo-t'i-shou; P: Nàdikà), tu viện
Chien-ch'i
(Ginjakàvasatha),
một kinh : NC 25.
-
Tại Videha (Pei-t'o-t'i), một kinh : NC 60.
2-
Kinh có địa điểm gần giống nhau :
Hai
bản kinh có địa điểm gần giống nhau gồm 15 kinh như sau,
có khi thêm hoặc bớt hoặc thay đổi một địa điểm :
-
NC 15 : C115, Mật hoàn dụ : Khi ở giữa dân chúng Thích
Ca , tại Ca Tỳ La Vệ, sau khi khất thực và dùng bữa, đức
Phật đi đến một vườn trúc trong môt tu viện của dòng
họ Sakya. Ngài đi vào một khu rừng rậm và ngồi xuống
một gốc cây. P18, kinh Mật hoàn, thêm Ni Câu Luật, bỏ
rừng Trúc, bỏ tu viện Sakya.
-
NC 22 : C204, kinh La ma: Ở Xá Vệ, Lộc Mẫu giảng đường;
P26, Thánh cầu: Trước Phật ở Xá Vệ, vườn Kỳ thọ
Cấp Cô Độc. Rồi Ngài đi đến Đông Viên (Pubbàràma),
Lộc Mẫu giảng đường để nghỉ ban ngày.
-
NC54 : C132, Lại-tra-hòa-la kinh : Giữa dân chúng Câu Lâu
Sấu, trong làng Thâu Lô Tra (Yu-lu-cha) ở phía bắc làng
Thi Nhiếp Hòa (T'i-shê-ho). = P82 Ratthapàla : Ở giữa
dân chúng Kuru, tại Thullakotthita.
-
NC 37 : C217, Bát thành kinh : Tại Tỳ Xá Ly (C:Pei-shê-li;
P: Vesàli) bên bờ sông Di Hầu, trên giảng đường một
ngôi lầu = P52, Bát thành : Tại Vesàli, ở Beluvagàmaka.
-
NC 55 : C 67, Đại thiên nại lâm : Phật đang du hành ở
nước Bệ Đà Đề (Pei-t'o-ti), đi đến Di Tát La (Mi-sa-lo),
trú trong rừng Đại Thiên (Ta-t'ien) = P83, Makhàdeva:
Tại
Mithilà,
rừng Makhà-devamba.
-
NC 26: C: Giữa bộ tộc P'o-ch'i-shou tại rừng Niu-chioh-so-lo.
= P: Tại Gosingasàlavanadàya.
-
NC 28 và 29: C: Giữa dân chúng Ying-ch'i, tại thị trấn
Ma-i, ở tu viện Ma-lin. = P: Giữa dân chúng Angas tại
Assapura.
-
NC 40: C: Đức Phật đang trú ở Vương Xá, trong Rừng Trúc,
tại công viên Chia-lan-to. Ngài đi đến gặp Thượng
tọa Lo-yun đang trú ở Vương Xá tại khu rừng có suối
nước nóng. P: Hầu hết là giống ngoại trừ đề cập đến
trưởng lảo Ràhula không phải đang trú tại khu rừng
có suối nước nóng mà tại Ambalatthikà.
-
NC 49: C: Đức Phật đang trú ở Vương Xá, trong Rừng Trúc,
tại công viên Chia-lan-to. Rồi Ngài đi đến rừng con
Công. P: Tương tự nhưng có thêm: tại Paribbàjakàràma.
-
NC 69: C: Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Tỷ kheo A-nan đang
trú tại thành Vương Xá = P: Giống nhau nhưng có thêm: Veluvana,
Kalandakanivàpa.
-
NC 44: C: Giữa dân chúng Ying-chia, ở A-ho-na, tại
tu viện Chien-jo = P: Hầu hết là giống nhưng không có
thêm Chien-jo.
-
NC 47: C: Tại Chia-shih, Chia-lo-lai, làng phía bắc
rừng T'i-shê-ho = P: Kàsi- Kitàgiri và thị trấn
Kàsi.
-
NC 59: C: Tại Yu-t'ou-sui-jo, ở rừng P'u-chi-tz'u =
P: Ujunnà, Kannakatthala, ở vừơn nai
-
NC 66: C: Giữa dân chúng P'o-ch'i, tại làng Shê-mi =
P: Giữa những ngừơi Sakkas, tại Sàmagàma.
3.
Hai mươi mốt kinh có địa điểm khác nhau :
21
kinh có địa điểm khác nhau là: NC số 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9, 12,
21, 30, 31, 34, 38, 45, 62, 64, 73, 74, 87, 93, và 95.
Trong
số 21 kinh này ta thấy bản P thiên
về các địa điểm Xá Vệ, Kỳ Đà lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Trong số 21 kinh thì 14 kinh Pali chọn các địa điểm này như
kinh số 2, 3, 5, 7, 8, 11, 25, 43, 47, 96, 99, 117, 119, 139, trong khi
bản chử Hán đề cập chỉ 3 kinh là kinh số 106, 210 và 141.
Ngược lại, chúng ta thấy rằng bản chử Hán thiên về các
địa điểm Vương xá thành, Trúc lâm, công viên Chia-lan-to.
Và 6 kinh đề cập những địa điểm này là những kinh số
89, 178, 211, 150, 152, 165, trong khi chỉ một kinh Pali đề cập
những địa điểm này là kinh số 44. Bản chữ Hán cũng thiên
về Chu-lou-shou, Chien-mo-se-t'an như kinh số 10, 103,
186 và 189.
Như
vậy trong số 98 kinh nghiên cứu so sánh, có 21 kinh có địa
điểm khác nhau, trong khi có đến 62 kinh địa điểm giống
nhau, và 15 kinh có địa điểm gần giống; cho thấy gần 80
phần trăm tương đồng giữa hai bản dịch và điều này chứng
tỏ cả hai bản lấy nội dung từ một nguồn duy nhất hoặc
gần giống nhau, có lẽ là tạng kinh xưa đã mất, và cũng
chứng tỏ vào lúc kết tập bằng tiếng Sanskrit và Pàli,
truyền thống khẩu quyết còn sống động trong ký ức những
nhà kết tập. Nhưng chúng ta cũng nên cố giải thích sự khác
nhau về địa điểm trong 21 kinh. Trước hết có thể rằng
cũng kinh ấy được đức Phật giảng tại nhiều nơi khác
nhau. Trong 45 năm thuyết pháp của Ngài, điều chắc chắn là
cùng một kinh ấy được lặp lại tại nhiều nơi. Và điều
này cũng giải thích sự khác nhau về địa điểm của một
số kinh. Như trong NC 95, kinh C 31, Phân biệt Thánh đế,
nói đến địa danh Câu Lâu Sấu (Chu-lou-shou), Chien-mo-sê-t'an
là
địa điểm thuyết kinh, trong khi kinh tương đương, P 141, nói
địa điểm thuyết kinh là vườn Nai (Migadàya), Chư thiên
đọa xứ (Isipatana), Dàrànasì. Lại nữa, chúng
ta nhận thấy những nhà kết tập kinh Pali thích các địa
điểm như Xá Vệ, Kỳ Viên, vườn Cấp Cô Độc trong khi những
nhà kết tập kinh C thích để Vương Xá thành, và Câu Lâu
Sấu, Chien-mo-sê-t'an. Vậy đối với những kinh này,
mà ký ức về chúng đã khá mờ nhạt trong trí nhớ của người
kết tập, thì họ thích để những địa danh đã từng là
căn cứ địa của tông phái họ, hoặc là quê hương của
họ. Một lý do khác giải thích sự khác biệt về địa điểm
của một số kinh có lẽ là do lỗi lầm của những nhà biên
tập. Như chúng ta tìm thấy trong NC 37, C217, Bát thành kinh,
nói đến miền Bắc của thành Thi Nhiếp Hòa (T'i-shê-ho)
thuộc nước Câu Tát La (Chu-so-lo), nhưng trong NC 54, miền
bắc của Thi Nhiếp Hòa được nói là thuộc nước Câu Lâu
Sấu (Chu-lou-shou). Trong nhiều kinh, như NC 2, NC 9, NC 34,...
Chien-mo-sê-t'an
được nói là thuộc nước Câu Lâu Sấu nhưng trong NC 93 thành
ấy được nói là thuộc nước Bà Kỳ Sấu (P'o-ch'i-shou).
Trong NC 40, C14 nói Tôn giả La Vân (Lo-yun) trú tại rừng
Suối Nóng, nhưng P61 nói ở Ambalatthikà. Vậy một trong
hai nhà kết tập đã nhầm. Trong NC 66, C196 nói thôn Xá Di (Shê-mi)
thuộc xứ Bạt Kỳ (P'o-chi), nhưng P104 nói thôn này,
Sàmagàma,
tức Xá Di, thuộc về dân chúng Kuru. Trong số những
kinh có địa điểm khác nhau, có hai kinh đáng chú ý. Trong
NC 6, C93 nói kinh này được giảng khi đức Phật vừa thành
đạo không lâu, và địa điểm là Yu-pei-lo trên bờ
sông Ni Liên (Mi-lien-jan) dưới cây Ni Câu Luật (A-yeh-ho-lo-ni-chu-lei).
Theo truyền thống, đức Phật đến thành Ba La Nại (Bàrànasì)
để chuyển bánh xe pháp và độ năm Tỳ-kheo làm những đệ
tử đầu tiên của Ngài. Rồi Ngài trở về Uruvelà để
hóa độ ba anh em Ca Diếp (Kassapa). Vậy nếu kinh này
được giảng trước khi đức Phật đi đến thành Ba La Nại,
thì sẽ khó giải thích được sự hiện hữu của các Tỳ-kheo
nói trong kinh. Bởi thế sự bất đồng này có lẽ là do sự
nhầm lẫn của những nhà kết tập, hoặc do sự khác nhau
giữa các tông phái Phật giáo khi nói về những nơi Phật
đi đến sau khi vừa giác ngộ. Trong NC 95, bản P nói đến
Ba La Nại, Chư thiên đọa xứ, vườn Nai là địa điểm thuyết
kinh P141, Đế phân biệt (Saccavibhangasutta). Trong kinh này
Tôn giả Xá Lợi Phất giải thích bốn chân lý cao cả theo
cách tương tự như kinh Chuyển Pháp luân (Dhammacakkapavattanasutta);
bởi thế những nhà kết tập P để địa điểm giống nhau,
nghĩa là Ba La Nại, Chư thiên đọa xứ và vườn Nai. Sự chọn
lựa địa điểm
Chien-mo-sê-t'an trong Chu-lou-shou trong
kinh C ở đây rất có ý nghĩa. Một nét đặc sắc đáng chú
ý trong NC 31: kinh C nói về Tỳ Xá Khư (Pi-shê-ch'u), một
nữ cư sĩ nổi danh đặt những câu hỏi về pháp với Tỳ-kheo
ni (bhiksunì) Phác Lạc (Fa-lo), bởi thế địa điểm
của kinh này là Xá Vệ (Shê-wei) nơi Tỳ Xá Khư ở.
Nhưng bản P nói Tỳ Xá Khư (Visàkha) là chồng trước
kia của Tỳ-kheo ni Pháp lạc (Dhammadinnà), người xuất
gia và cư trú tại Vương Xá (Ràjagaha). Bởi thế bản
P nói kinh này thuyết tại Vương Xá. Nhưng cả hai bản kinh
đều có nội dung giống nhau. Sự bất đồng này chứng tỏ
những nhà kết tập không chú ý lắm đến địa điểm thuyết
kinh.