CHƯƠNG
IX: PHẦN KẾT CÁC KINH
Cuối
mỗi bài kinh trong bản C hay P thường thường có một phần
kết để chứng tỏ bản kinh đã chấm dứt và để diễn
tả sự vui mừng của những người lắng nghe bài kinh do Phật
nói hay do một trong những đệ tử của Ngài nói. Một nghiên
cứu tỷ giảo về phần kết trong 98 kinh cho thấy những điểm
sau đây:
1)
36 kinh có phần kết giống nhau;
2) 26
kinh có phần kết hơi khác, trong đó bản C có thêm các Tỳ-kheo
hoặc vài đệ tử hoặc vài nhân vật;
3)
13 kinh có phần kết không giống nhau;
4)
23 kinh trong bản P không có phần kết.
1.
36 kinh có phần kết giống nhau:
Những
nghiên cứu tỷ giảo sau đây cho thấy các bản kinh có phần
kết giống nhau:
NC
2, 5, 8, 9, 10, 12, 13, 14, từ 16-19, 21, 24, 26-29, 32-34, 44, 47, 49,
58, 65, 70, 71, 73-75, 84, 91-93, 95.
Trong
NC2, phần kết như sau:
C10:
Đức Phật nói như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe lời đức
Phật dạy đều hoan hỷ phụng hành.
P2:
Đức Thế Tôn nói như vậy, các Tỳ-kheo hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Trong
NC12, chính Tôn giả Mục-liền-liên giảng pháp và các Tỳ-kheo
hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mục-liền-liên.
Trong
NC21, chính Tôn giả Xá-lợi-tử nói và các Tỳ-kheo hoan hỷ,
tín thọ lời Tôn giả Xá-lợi-tử.
2. 26
kinh có phần kết hơi khác:
Những
NC sau đây có phần kết hơi khác:
7,
11, 15, 22, 25, 40, 42, 43, 45, 50, 53, 55, 57, 60, 66, 67, 72, 76, 77,
80, 81, 83, 86, 87, 88 và 90.
Trong
những kinh này, trong số những người vui mừng về lời dạy
của Phật hay của một đệ tử Ngài, bản C thêm "những Tỳ-kheo
ấy" hoặc một vài nhân vật. Như trong NC67, bản P chỉ nói
Mahàcundo
vui mừng về lời dạy của Phật, nhưng trong bản C tương
đương, ngoài Tôn giả Đại Chu Na còn có các Tỳ-kheo khác
nữa. Trong NC25, bản P chỉ nói Dìgho parajano yakkho vui mừng
về lời dạy của đức Thế Tôn, bản C ngoài Trường Khổ
Hạnh còn thêm "ba thiện gia nam tử". Trong NC57, bản P chỉ
nói những Tỳ-kheo ấy, nhưng bản C thêm tên Tôn giả A Nan.
Trong NC60, bản P chỉ nói những Tỳ-kheo ấy, bản C thêm Phạm
Ma. Điều này hơi lạ, vì Phạm Ma đã được nói đã chết
trong đoạn trước. Trong NC83, P nói chỉ có mình Tôn giả A
Na Luật Đà hoan hỷ lời Thế Tôn, nhưng bản C thêm các Trưởng
lão Nan Đề và Kim Tỳ La.
3. 13
kinh không có phần kết giống nhau:
Các
NC sau đây: 1, 3, 4, 20, 30, 31, 41, 78, 85, 94, 96, 97, 98.
Trong
NC1, Phần kết như sau:
C106:
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe lời Phật
dạy, hoan hỷ phụng hành.
P1:
Đức Thế Tôn dạy như vậy; các Tỳ-kheo hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn (theo bản in Roman script).
Nhận
xét: Theo truyền thống Tích Lan, và bản kinh Tích Lan,
các Tỳ-kheo không hoan hỷ với bản kinh này, Na te
bhikkhù Bhagavato bhàsitam abhinandunti. Bản kinh Miến Điện
ấn hành trong kỳ kết tập thứ sáu cũng theo truyền thống
Tích Lan. Kinh sớ (M.A.ii, 46 ff) nói 500 Tỳ-kheo không hoan hỷ
khi nghe kinh này. Khi nhận thấy điều này, Phật đã giảng
cho họ truyện tiền thân Mùlapariyàya jàtaka (Căn bản
pháp môn). Nhờ vậy sự kiêu mạn của họ tiêu tan, và họ
xin đức Thế Tôn một đề tài thiền quán. Về sau khi Phật
ở Gotamacetiya tại Tỳ Xá Ly, Ngài giảng cho họ kinh Gotamakasuttam
và họ đắc quả A-la-hán (D.P.P.N. ii, p.649).
Nhưng
bản in của hội Văn bản Pàli và bản Hoa ngữ thì theo phần
kết thông thường, đều nói các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế
Tôn dạy. Từ phần kết bất thường của bài kinh này, sự
phân biệt giữa Như lai và A-la-hán, và tư tưởng không nên
thủ trước cả đến Niết-bàn, phải chăng ta có thể xem
kinh này, một bản kinh mang ít nhiều tinh thần đại thừa,
là một trong những bản kinh hiếm hoi đã thoát khỏi sự xoi
mói của các nhà biên tập thuộc truyền thống Thượng tọa
bộ, và đã được đặt vào tạng Pàli có lẽ chỉ do sơ
ý. Có thể đã có thêm chữ Na để đánh dấu loại
bỏ kinh ấy ra khỏi tạng Pàli, nhưng những nhà biên tập
kinh Pàli về sau đã quên làm việc này.
Trong
NC3, bản C nói Tôn giả Xá-lợi-tử hoan hỷ chấp nhận lời
dạy của Thế Tôn, nhưng trong bản P nói những Tỳ-kheo hoan
hỷ chấp nhận lời dạy của Tôn giả Xá Lợi Phất. Sự
khác biệt này là do bản C có thêm một đoạn trong đó đức
Phật khen Tôn giả Xá-lợi-tử và kết thúc bài kinh, trong
khi ở bản P, chính Tôn giả Xá Lợi Phất kết thúc bản kinh.
Trong
NC4, hai đoạn kết như sau:
C87:
Hai vị Tôn giả ấy sau khi luận thuyết và ca tụng nhau, đã
từ chỗ ngồi đứng dậy. Tôn giả Xá-lợi-tử đã nói như
vậy, Tôn giả Đại Mục-liền-liên cùng các Tỳ-kheo hoan hỷ
tín thọ những lời Tôn giả Xá-lợi-tử đã nói.
P5:
Như vậy hai vị đại long tượng ấy cùng nhau vui mừng về
sự biện thuyết của họ.
Trong
NC20, những đoạn kết như sau:
C9:
Như vậy hai Tôn giả cùng nhau thảo luận, và sau khi ca tụng
lẫn nhau, họ hoan hỷ tín thọ. Rồi họ đứng lên khỏi chỗ
ngồi và trở về chỗ trú.
P24:
Như vậy hai vị đại long tượng cùng nhau hoan hỷ về bài
pháp.
Trong
NC30, sự khác nhau giữa hai đoạn kết như sau:
C211:
Như vậy hai vị Tôn giả ca tụng lẫn nhau, nói: "lành thay,
lành thay", họ cùng nhau hoan hỷ tín thọ. Rồi họ từ chỗ
ngồi đứng dậy và ra đi.
P43:
Tôn giả Xá Lợi Phất đã nói như vậy. Tôn giả Ma Ha Câu
Thi La hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Xá Lợi Phất nói.
Trong
NC31, bản C nói đến Tỳ-kheo ni Pháp Lạc và các Tỳ-kheo hoan
hỷ lời Thế Tôn dạy; còn bản P lại nói cư sĩ Visàkha
hoan hỷ lời Thế Tôn dạy. Sự khác nhau này là do trong bản
C, Tỳ-kheo ni Pháp Lạc thuật lại với đức Phật cuộc đàm
thoại, còn trong bản P, nam cư sĩ Visàkha đi đến đức Thế
Tôn.
Trong
NC41, trong bản C, những Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn dạy,
còn trong P, Tôn giả Man Đồng Tử hoan hỷ lời Thế Tôn dạy.
Trong
NC78, Tôn giả A Nan và các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn dạy,
còn trong P, phần cuối của bài kinh là do Tôn giả A Nan thuyết
nên các Tỳ-kheo hoan hỷ lời của Tôn giả A Nan.
Trong
NC85, trong bản C, các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn, trong khi
ở bản C, bài kinh được chấm dứt bằng một bài kệ do
đức đạo sư đọc lên, không có phần kết như thường lệ.
Trong
NC94, trong bản C, Tôn giả Fu-chia-lo-so-li hoan hỷ lời Thế
Tôn dạy, còn trong bản P, các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn
dạy.
Trong
NC96, bản C nói Tôn giả A Nan và các Tỳ-kheo hoan hỷ lời
Thế Tôn dạy; trong bản P, đức Thế Tôn tụng lên một bài
kệ để kết thúc kinh.
Trong
NC97, theo bản C, các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, theo
bản P, chính là Tôn giả A Nan.
Trong
NC98, bản C nói Tôn giả A Nan và các Tỳ-kheo trẻ hoan hỷ
lời Thế Tôn dạy, trong khi bản P chỉ nói các Tỳ-kheo. Bản
P thêm rằng trong khi kinh này được giảng, có 60 Tỳ-kheo đạt
đến sự giải thoát lậu hoặc, không còn chấp thủ.
4. 23
kinh bản P thiếu phần kết:
Đó
là các kinh số 6,23,35,36,37,38,39,46,48,51,52,54,56,59, từ 61-64,68,69,79,82,89.
Như
trong NC6, bản C nói Bà-la-môn Hảo Thủ Thủy Tịnh và các
Tỳ-kheo hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, nhưng bản P chấm dứt
ngang, với việc Bà-la-môn đắc quả A-la-hán.
Trong
NC23, bản C nói, Bà-la-môn Sheng-wen và người thuộc ngoại
đạo tên Pilu hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, còn bản P bỏ phần
kết sau khi Bà-la-môn Jànussonì xin quy y Tam bảo, làm
một cư sĩ.
Trong
NC35, Bà-la-môn và tùy tùng hoan hỷ lời Thế Tôn dạy.
Trong
NC36, bản C nói ác ma hoan hỷ lời Tôn giả Mục-liền-liên.
Điều này khá lạ lùng, khi ma mà lại hoan hỷ bài pháp của
Đại Mục-liền-liên, vì bài giảng của Tôn giả cốt để
hàng phục ma. Lại nữa trong bài kinh này, trước đấy đã
nói là ác ma đã biến mất. Sự im lặng trong bản P về vấn
đề này có lý, và cho thấy sự kết tập bản kinh P có nhiều
chính xác hơn.
Trong
NC39, theo bản C, Ưu Ba Ly hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, còn trong
bản P, chỉ nói Ni Kiền Tử bị thổ huyết.
Trong
NC59, trong bản C, vua Ba Tư Nặc, Tôn giả A Nan và hội chúng
hoan hỷ lời Thế Tôn dạy; nhưng trong bản P, vua Ba Tư Nặc
hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, đứng lên khỏi chỗ, đảnh lễ
đức Thế Tôn, nhiễu quanh Ngài rồi ra đi.
Trong
NC63, bản C nói Tôn giả Xá-lợi-tử và vô số trăm ngàn người
trong chúng hội hoan hỷ lời Thế Tôn dạy. Nhưng bản P chỉ
nói đức Thế Tôn bảo Xá Lợi Phất rằng Bà-la-môn Đà Nhiên
đã chết và được sinh lên Phạm thiên giới.
Trong
NC79, bản C nói ngoại đạo và các Tỳ-kheo hoan hỷ lời Tôn
giả Bạc Câu La. Nhưng không có phần kết trong bản kinh P,
nói rằng Tôn giả Bạc Câu La trong khi ngồi giữa chúng hội
đã nhập Niết-bàn.
Trong
NC89, bản C nói thanh niên Anh Vũ, con trai của Đô Đề và vô
số người trong chúng hội hoan hỷ lời Thế Tôn dạy; nhưng
bản P bỏ qua phần kết và chỉ nói Todeyyaputta xin đức Thế
Tôn nhận ông làm một đệ tử cư sĩ.
Nhận
xét: Như vậy một cuộc nghiên cứu tỷ giảo về phần
kết của 98 kinh tương đương cho thấy rằng những nhà biên
tập kinh C hơi quá theo hệ thống khi biên tập kinh, vì trong
222 kinh không có một kinh nào là không có phần kết; trong
khi bản P có 23 kinh không có phần kết; 36 kinh có kết luận
gần giống nhau; 26 kinh có kết luận hơi khác, đã cho thấy
có một nguồn gốc chung, từ đó các nhà biên tập hai tạng
kinh thu thập tài liệu. Nhưng sự bỏ bớt phần kết trong
một số kinh P chứng tỏ bản P có độ đáng tin cậy khá
cao. Như vậy, thật khá lạ lùng khi ác ma hoan hỷ lời Tôn
giả Mục-liền-liên như được thấy trong NC36; và chúng ta
cũng không kém ngạc nhiên khi bản C thêm Phạm Ma hoan hỷ lời
Thế Tôn dạy, khi ông ta được báo cáo là đã chết trong
đoạn trước như đã thấy trong NC60. Chúng ta cũng thấy bản
C đã nói trong NC63 rằng có đến vô số trăm ngàn người
trong chúng hội hoan hỷ lời Thế Tôn dạy. Điều này dường
như mang màu sắc tư tưởng Đại thừa, và chứng tỏ đây
là một sự biên tập khá muộn. Nhưng chúng ta phải nhận
rằng, có thể những nhà biên tập về sau đã thêm phần kết
để đem lại tính đồng nhất cho toàn thể tạng kinh A-hàm,
do đó khiến cho một vài bất ổn len lỏi vào.