NC31
C210:
Pháp Lạc Tỳ-kheo ni kinh
P44:
Tiểu kinh Phương Quảng
A.
Toát yếu kinh C
C:
Cư sĩ Tỳ Xá Khư đi đến Tỳ-kheo ni Pháp Lạc mà hỏi một
loạt những câu hỏi về các đề tài khác nhau, và Tỳ-kheo
ni Pháp Lạc trả lời. Những câu trả lời của bà được
cư sĩ Tỳ Xá Khư khen ngợi. Rồi Tỳ-kheo ni Pháp Lạc đi đến
đức Thế Tôn thuật lại cuộc đàm thoại với cư sĩ Tỳ
Xá Khư. Đức Phật đồng ý tất cả những câu trả lời
của bà và khen ngợi Tỳ-kheo ni.
P:
Gần giống; nhưng bản P đề cập cư sĩ Visàkha là một nam
cư sĩ, trước kia là chồng của Dhammadinnà, và chính Visàkha
đã thuật lại cuộc đàm thoại với đức Phật chứ không
phải Tỳ-kheo ni.
B.
Nhan đề kinh
C:
Pháp
lạc Tỳ-kheo ni kinh, bản kinh nói về Tỳ-kheo ni danh hiệu
là Pháp Lạc, người mà nam cư sĩ Tỳ Xá Khư đặt nhiều
câu hỏi.
P:
Tiểu kinh Phương quảng, bản kinh về Vedalla, đề cập
nhiều đề tài khác nhau, được Visàkha nêu lên. Nó mang cùng
tên với bản kinh P trước đấy, nhưng thay chữ đại
bằng tiểu.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Xá Vệ, Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
P:
Vương Xá thành, vườn trúc Ca Lan Đà.
D.
Nội dung kinh
I.
Hoàn cảnh đưa đến sự thuyết kinh:
C:
"Lúc bấy giờ nam cư sĩ Tỳ Xá Khư đi đến chỗ Tỳ-kheo
ni Pháp Lạc, đảnh lễ dưới chân, ngồi qua một bên và hỏi:
'Thưa Tôn giả, tôi xin phép hỏi một số vấn đề.' Tỳ-kheo
ni Pháp Lạc trả lời: 'Cư sĩ cứ hỏi nếu muốn. Sau khi nghe
xong tôi sẽ suy nghĩ.' "
P:
Nói Visàkha là một nam cư sĩ chứ không phải là nữ cư sĩ
như trong kinh C. Ông ta đặt câu hỏi cho Tỳ-kheo ni Pháp Lạc
ngay, không xin phép trước.
II.
Những loạt câu hỏi:
Hai
bản kinh có nhiều điểm khác nhau về những câu hỏi được
nêu lên. Trong bản C, có 30 câu hỏi, bản P có 34 câu. Những
câu hỏi tương đương trong cả hai bản lên đến 22 câu. Trong
bản C, có tám câu hỏi không có trong P; và bản P có chín
câu không có trong C. Trong số tám câu hỏi không có trong P,
có sáu câu đã có trong kinh C 211. Trong số chín câu hỏi có
trong P mà C không có, có ba câu đã có trong kinh C 211.
1/-
22 câu hỏi tương đương trong cả hai bản là: C1 = P1,C2 = P6,
C3 = P7, C4 = P3, C5 = P5, C6 = P8, C7 = P9, C9 = P10, C12 = P11, C17 =
P15, C18 = P17, C19 = P20, C20 = P21, C21 = P22, C22 = P23 và 24, C23
= P25,26,27; C24 = P28 (C25 = P28), C25 = P29, C27 = P30, C28 = P31, C29
= P32, C30 = P34.
2/-
8 câu hỏi có trong C, không có trong P: C8, C10, C11, C13, C14, C15,
C16, C26. Sáu câu hỏi sau đây đã có trong các kinh C và P trước:
C10 = C15, C11 = P18, C13 = C20, C14 = C21,
C15 = C22, C16 = C23.
3/-
9 câu hỏi trong P không có trong C: P2,4,12,13, 14,16,18,19,33. Trong
số chín câu hỏi này có ba câu đã tìm thấy trong kinh trước:
P16 = C24, P18 = C25, P19 = C26.
Những
chỗ gạch dưới chỉ cho các bản kinh C và P trước đấy.
a)
Những câu hỏi về tự thân và các uẩn:
C1
= P1:
C:
Tỳ Xá Khư hỏi: "Thưa Tôn giả, tự thân được gọi là tự
thân. Thế nào gọi là tự thân?" Tỳ-kheo ni Pháp Lạc trả
lời: "Đức Thế Tôn nói về năm uẩn tăng trưởng là tự
thân, sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn
tăng trưởng (năm thạnh uẩn). Đấy là những gì đức
Thế Tôn nói về năm thạnh uẩn." Tín nữ Tỳ Xá Khư nghe
xong khen ngợi nói: "Lành thay thưa Tôn giả." Khen xong tín nữ
hoan hỷ lãnh thọ.
P:
Gần giống. Câu hỏi giống nhưng trả lời hơi khác. C: 5 thạnh
uẩn = P: 5 thủ uẩn. C: Đây là những gì đức Thế Tôn nói
về năm thạnh uẩn = P: Năm thủ uẩn này được đức Như
lai gọi là tự thân hay thân kiến.
C2
= P6:
C:
(Cách đặt câu hỏi và trả lời cũng giống như các câu hỏi
còn lại).
Hỏi:
Làm thế nào thân kiến sinh khởi? Đáp: Kẻ vô văn phàm phu
không yết kiến các bậc đa văn, không biết pháp các bậc
thánh, không thuần thục pháp các bậc thánh. Kẻ ấy thấy
sắc pháp là linh hồn, thấy linh hồn có sắc, thấy sắc ở
trong linh hồn, thấy linh hồn ở trong sắc. (Cũng vậy với
bốn uẩn còn lại). Đây gọi là thân kiến.
P:
Gần giống. C: kẻ vô văn phàm phu... pháp các bậc thánh =
P: kẻ phàm phu không học, không yết kến các bậc thánh, không
am tường thánh pháp, không thuần thục về thánh pháp; không
yết kiến bậc chân nhân, không am tường pháp của bậc chân
nhân, không thuần thục pháp của bậc chân nhân. C: linh hồn
= P: tự ngã.
C3
= P7:
C:
Hỏi: Làm thế nào thân kiến không sinh khởi? Đáp: (Ngược
lại với câu trả lời trên).
P:
Cũng nhận xét như trong câu hỏi trước .
C4
= P3:
C:
Làm thế nào thân đi đến hủy diệt? Đáp: Sắc thạnh uẩn
được tận diệt không dư tàn, được từ bỏ, vứt đi, được
dập tắt, không làm ô nhiễm kẻ khác, chấm dứt, dừng lại,
biến mất. Các thạnh uẩn thọ, tưởng, hành thức được
tận diệt không dư tàn,.... biến mất. Đây gọi là sự chấm
dứt của tự thân.
P:
Gần giống. Hỏi: Tự thân diệt được gọi là tự thân diệt.
Thế nào đức Thế Tôn gọi là tự thân diệt? Đáp: Sự chấm
dứt không còn ái luyến, sự từ bỏ, tẩy trừ, giải thoát,
đây gọi là tự thân diệt, được đức Thế Tôn nói đến.
C5
= P5:
C:
Hỏi: Uẩn được gọi là uẩn. Thạnh uẩn được gọi là
thạnh uẩn. Uẩn và thạnh uẩn là một hay là khác? Đáp:
Có khi uẩn và thạnh uẩn là một, có khi là khác. Thế nào
uẩn và thạnh uẩn là một? Khi sắc pháp có ô nhiễm, có
chấp thủ; khi thọ, tưởng, hành, thức có ô nhiễm, có chấp
thủ, khi ấy uẩn được gọi là thạnh uẩn. Thế nào là
uẩn không phải là thạnh uẩn? Khi sắc pháp không có ô nhiễm,
không có chấp thủ; khi thọ, tưởng, hành. thức không có
ô nhiễm, không có chấp thủ, khi ấy uẩn không phải là thạnh
uẩn.
P:
Không giống hẳn. Hỏi: Có phải thủ đồng nghĩa với năm
thủ uẩn hay thủ khác với năm thủ uẩn? Đáp: Thủ không
là một với năm thủ uẩn, nhưng cũng không khác với năm
thủ uẩn. Khi có tham ái và chấp thủ trong năm thủ uẩn,
khi ấy có thủ. C: thạnh uẩn = P: thủ uẩn.
Trong
loạt câu hỏi này, có hai câu trong P không có trong C:
P2:
Hỏi: Tập khởi của thân gọi là tập khởi của thân. Gì
là tập khởi của tự thân được đức Thế Tôn nói đến?
Đáp: Bất cứ gì có khát ái đưa đến tái sinh, liên hệ
đến hỷ và tham, tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, như dục
ái, hữu ái và phi hữu ái. Đây gọi là tập khởi của tự
thân, được đức Thế Tôn nói đến.
P4:
Hỏi: Con đường đưa đến chấm dứt tự thân được gọi
là con đường đưa đến chấm dứt tự thân. Thế nào được
gọi là con đường đưa đến chấm dứt tự thân do đức
Thế Tôn dạy? Đáp: Thánh đạo tám ngành này được gọi
là con đường đưa đến chấm dứt tự thân do đức Thế
Tôn dạy, đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
b)
Những câu hỏi về thánh đạo tám ngành:
C6
= P8:
C:
Hỏi: Gì là thánh đạo tám ngành? Đáp: Thánh đạo tám ngành
là chánh kiến cho đến chánh định, đây gọi là thánh đạo
tám ngành.
P:
Gần giống. Bản P kể cả tám pháp.
C7
= P9:
C:
Hỏi: Thánh đạo tám ngành có phải là một pháp hữu vi không?
Đáp: Thánh đạo tám ngành là một pháp hữu vi.
P:
Gần giống.
C8
= P không có:
C:
Có bao nhiêu nhóm? Đáp có ba nhóm: nhóm giới, định và tuệ.
C9
= P10:
C:
Thánh đạo tám ngành bao gồm ba nhóm, hay là ba nhóm bao gồm
tám thánh đạo? Đáp: Thánh đạo tám ngành không bao gồm ba
nhóm, mà ba nhóm bao gồm tám thánh đạo. Chánh ngữ, chánh
nghiệp và chánh mạng, ba yếu tố này được bao gồm trong
nhóm thánh giới; chánh niệm, chánh định, hai pháp này
bao gồm trong nhóm thánh định; chánh kiến, chánh tư
duy, chánh phương tiện, ba pháp này bao gồm trong nhóm thánh
tuệ. Bởi vậy thánh đạo tám ngành không bao gồm ba nhóm,
mà ba nhóm bao gồm thánh đạo tám ngành.
P
: Gần giống, nhưng hình thức câu hỏi đặt ra hơi khác. Hỏi:
Ba nhóm được bao gồm trong thánh đạo tám ngành, hay thánh
đạo tám ngành được bao gồm trong ba nhóm? Một dị biệt
quan trọng ở đây là bản P bao gồm chánh tinh tiến vào trong
nhóm định, còn bản C bao gồm chánh phương tiện vào trong
nhóm tuệ.
c)
Những câu hỏi về diệt (Niết-bàn), sơ thiền và định:
C10
= P không có:
C:
Hỏi: Diệt có đối hay không? Đáp: Diệt không có đối.
C11
= P không có:
C:
Hỏi: Sơ thiền có bao nhiêu thiền chi? Đáp: Sơ thiền có năm
thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, và nhất tâm. Đây gọi là
năm thiền chi.
P:
Không có ở đây, nhưng đã có trong kinh trước số 43, P18.
C12
= P11:
C:
Hỏi: Định là gì? Gì là định tướng? Gì là sức mạnh
của định? Gì là hiệu lực của định? Gì là sự tu tập
định? Đáp: Khi thiện tâm trở nên chuyên nhất thì gọi là
định. Định tướng là bốn chánh niệm. Sức mạnh của định
là bốn chánh đoạn. Hiệu lực của định là bốn thần thông.
Khi người ta tu tập các thiện pháp này, dấn mình vào việc
tu tập, với sự tinh cần nỗ lực, đây gọi là tu tập định.
P:
Gần giống. Hỏi: Gì là định? Gì là định tướng? Gì là
định tư cụ? (điều kiện của định). Gì là sự tu tập
định? Đáp: Nhất tâm gọi là định; bốn niệm xứ gọi
là định tướng; bốn chánh cần là tư cụ của định; sự
tu tập, huấn luyện, thực hành liên tục các pháp này gọi
là tu tập định.
d)
Những câu hỏi về chết, diệt định, định vô tưởng:
(Xin
xem đoạn trước nói về định trong C211).
e)
Những câu hỏi về cảm thọ:
C20
= P21:
C:
Hỏi: Có bao nhiêu cảm thọ? Đáp: Có ba loại thọ: lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Chúng khởi lên do duyên
gì? Do duyên hưởng thụ mạnh mẽ, chúng khởi lên.
P:
Gần giống; nhưng bỏ phần cuối "do duyên gì chúng khởi lên".
C:
hưởng thụ mạnh mẽ = P: xúc.
C21
= P22:
C:
Hỏi: Gì là lạc thọ? Gì là khổ thọ? Gì là bất khổ bất
lạc thọ? Đáp: Khi lạc thọ khởi lên do hưởng thụ mạnh
mẽ thì thân và tâm hưởng một cảm giác khả ái, dễ chịu,
đây gọi là lạc thọ. Khi khổ thọ khởi lên do hưởng thụ
mạnh mẽ, thì thân và tâm trải qua một cảm giác khó chịu,
bất lạc, đây gọi là khổ thọ. Khi cảm thọ bất khổ bất
lạc khởi lên do hưởng thụ mạnh mẽ, thì thân và tâm kinh
nghiệm một cảm giác không vui không khổ, không đáng ưa cũng
không đáng ghét, đây gọi là bất khổ bất lạc thọ.
P:
Gần giống. Định nghĩa ở đây giản dị hơn: bất cứ cảm
thọ thân và tâm nào dễ chịu, khả ái, thì gọi là lạc
thọ....
C22
= P23,24:
C:
Hỏi: Lạc thọ, gì là lạc? Gì là sự bất lạc của nó?
Gì là sự vô thường của nó? Gì là sự nguy hiểm của nó?
Gì là khuynh hướng tiềm ẩn trong nó (tùy miên)? (cũng câu
hỏi tương tự đối với khổ thọ và bất khổ bất lạc
thọ). Đáp: Lạc thọ khi sinh khởi, khi đang trú, đó là khía
cạnh lạc của nó; khi nó biến hoại, đấy là khía cạnh
khổ của nó; tính vô thường là nguy hiểm của nó; tham ái
là khuynh hướng tiềm tàng trong nó. Đối với khổ thọ, khi
nó khởi lên, khi đang trú, đó là khía cạnh khó chịu của
nó; khi nó thay đổi thì đó là khía cạnh dễ chịu của nó;
vô thường là sự nguy hiểm của nó, sân hận là khuynh hướng
tiềm ẩn trong nó; đối với bất khổ bất lạc thọ, khi
nó không được biết đến, đấy là sự khó chịu của nó,
khi nó được biết đến, đấy là khía cạnh dễ chịu của
nó, vô thường là sự biến hoại của nó, vô minh là khuynh
hướng tiềm tàng trong nó.
P23:
Không giống hẳn, ở đây nói đơn giản hơn. Hỏi: Đối với
lạc thọ, cái gì lạc, cái gì khổ? Đối với khổ thọ,
cái gì khổ, cái gì lạc? Đối với bất khổ bất lạc thọ,
cái gì khổ, cái gì lạc? Đáp: Đối với lạc thọ, trú là
lạc, biến hoại khổ. Đối với khổ thọ, trú khổ, biến
hoại lạc. Đối với bất khổ bất lạc thọ, biết là lạc,
không biết là khổ. Ở đây cách giải thích trong hai bản
không giống nhau về cảm thọ bất khổ bất lạc.
P24:
Về khuynh hướng tiềm ẩn (anusaya, tùy miên) trong ba
cảm thọ, câu trả lời giống với bản C.
C23
= P25,26,27:
C:
Hỏi: Có phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm ẩn? Có
phải tất cả khổ thọ đều có sân tiềm ẩn? Có phải tất
cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm ẩn? Đáp:
Không phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm ẩn. Không
phải tất cả khổ thọ đều có sân tiềm ẩn. Không phải
tất cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm ẩn.
Thế nào không phải tất cả lạc thọ đều có tham tiềm
ẩn? Khi một Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và
trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do viễn ly sanh,
đây gọi là lạc thọ không có tham tiềm ẩn. Vì sao? Vì thiền
này phá hủy tham. Thế nào không phải tất cả khổ thọ đều
có sân tiềm ẩn? Khi một người theo đuổi phúc lạc của
giải thoát cao cả, trong sự nỗ lực của vị ấy có khởi
lên một khổ thọ, đây gọi là khổ thọ không có sân tiềm
ẩn. Tại sao? Vì thiền này phá hủy sân. Thế nào là không
phải tất cả bất khổ bất lạc thọ đều có vô minh tiềm
ẩn? Với sự chấm dứt lạc, chấm dứt khổ, chấm dứt hỷ
và ưu đã cảm thọ trước kia, vị ấy chứng trú thiền thứ
tư được thuần tịnh nhờ chánh niệm, bất khổ bất lạc.
Đây gọi là cảm thọ bất khổ bất lạc nhưng không có vô
minh tiềm ẩn. Vì sao? Vì thiền này phá hủy vô minh.
P25,26,267:
Đoạn kinh C bao gồm cả ba câu hỏi trong bản P. Câu hỏi số
25 trong bản P giống với câu hỏi số 23 trong C, nhưng nó chỉ
trả lời không. Trong P26, câu hỏi là: Cái gì cần từ bỏ
trong lạc thọ, trong khổ thọ và trong bất khổ bất lạc
thọ? Và câu trả lời là: Trong lạc thọ cần từ bỏ tham,
trong khổ thọ cần từ bỏ sân, trong bất khổ bất lạc thọ
cần từ bỏ si. Trong P27, câu hỏi là: Có phải tham sân si
cần được từ bỏ trong tất cả lạc thọ, khổ thọ, và
bất khổ bất lạc thọ không? Câu trả lời gần giống như
trong C. C: Tại sao thế? Vì thiền này phá hủy tham = P: Do thiền
này tham ái được phá hủy nên không có tham tùy miên ở đây.
C: Khi một người theo đuổi hạnh phúc giải thoát cao cả,
trong sự nỗ lực của họ có khởi lên một khổ thọ, đây
gọi là khổ thọ không có sân tiềm ẩn = P : Vị Tỳ-kheo
nghĩ : "Sau khi đạt đến cảnh giới này, ta sẽ trú trong cảnh
giới mà các bậc thánh đã chứng và trú." Đối với Tỳ-kheo
đã lập một lời nguyện như vậy, khi bất lạc khởi lên
do lời thệ nguyện này mà sân được phá hủy, không có sân
tùy miên ở đây. Về câu trả lời đối với cảm thọ bất
khổ bất lạc cũng giống như trong C. Nó chỉ thêm rằng "không
có vô minh tùy miên ở đây."
f)
Những câu hỏi về đối (patibhàga đối xứng và đối nghịch):
C24
= P28:
C:
Hỏi: Lạc thọ đối với cái gì? Đáp: Khổ thọ là đối
với lạc thọ.
P:
Giống nhau.
C25
= P29:
C:
Hỏi: Gì là đối nghịch của khổ thọ? Đáp: Lạc thọ là
đối nghịch với khổ thọ.
P:
Giống nhau.
C26
= P không có:
C:
Hỏi: Gì là đối nghịch với lạc thọ, với khổ thọ? Đáp:
Bất khổ bất lạc thọ là đối nghịch với lạc thọ và
khổ thọ.
C27
= P30:
C:
Hỏi: Cái gì là đối nghịch với bất khổ bất lạc thọ?
Đáp: Vô minh là đối nghịch với bất khổ bất lạc thọ.
P:
Giống nhau.
C29
= P32:
C:
Hỏi: Gì là đối xứng với minh trí? Đáp: Niết-bàn là đối
với minh trí.
P:
Câu hỏi giống nhau nhưng trả lời khác. Bản P trả lời:
giải thoát là đối với vô minh. Ở đây bản P thêm một
câu hỏi nữa: "Giải thoát lấy gì đối?" Đáp: "Giải thoát
lấy Niết-bàn làm đối".
C30
= P34:
C:
Hỏi: Niết-bàn lấy gì làm đối? Đáp: Ngươi muốn hỏi một
câu hỏi vô giới hạn. Nhưng điều ngươi hỏi không vượt
ngoài hiểu biết của ta. Niết-bàn không có đối, Niết-bàn
không có khuyết điểm của sự rối ren, tất cả mọi rối
ren đều đã được trừ khử. Chính do ý nghĩa (mục đích)
này mà người ta sống đời phạm hạnh dưới đức Thế Tôn.
P:
Câu hỏi giống nhưng trả lời khác. Trả lời: Câu hỏi của
ngươi vượt ngoài giới hạn. Không thể nào nắm được phạm
vi của câu hỏi. Đời sống phạm hạnh là để hòa nhập
vào Niết-bàn, nhắm vào Niết-bàn, chấm dứt trong Niết-bàn.
Nếu muốn, ngươi có thể đến đức Thế Tôn mà hỏi ý nghĩa
này. Những gì đức Thế Tôn giải đáp, hãy như vậy mà thọ
trì.
Trong
bản P có ba câu hỏi không có trong C. Đó là câu 12, 13,14
P12:
Hỏi: Có bao nhiêu loại hành? Đáp: Có ba loại hành: thân hành,
ngữ hành, ý hành.
P13:
Hỏi: Gì là thân hành, gì là ngữ hành, gì là ý hành? Đáp:
Thở vô thở ra là thân hành; tầm tứ là ngữ hành;
tưởng
và thọ là ý hành.
P14:
Hỏi: Thế nào thở vô thở ra là thân hành? Thế nào tầm
tứ là ngữ hành? Thế nào tưởng và thọ là ý hành? Đáp:
Thở vô thở ra thuộc về thân, liên hệ đến thân, nên gọi
là thân hành. Trước hết phải suy nghĩ, tức là tầm
và tứ, rồi người ta mới nói thành lời, cho nên tầm tứ
thuộc về ngữ hành. Thọ và tưởng là những yếu tố
tâm lý, là những pháp liên hệ đến tâm nên gọi là ý
hành.
III.
Cuộc đàm thoại được thuật lại với đức Phật:
C:
"Rồi tín nữ Tỳ Xá Khư sau khi nghe Tỳ-kheo ni Pháp Lạc nói
pháp, sau khi khéo thọ trì, nắm vững, tụng thuộc và khéo
tu tập, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ dưới chân
Tỳ-kheo ni Pháp Lạc, nhiễu quanh bà ba vòng rồi ra đi. Tỳ-kheo
ni Pháp Lạc, sau khi tín nữ Tỳ Xá Khư đi không bao lâu, liền
đến đức Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân đức Phật, ngồi
xuống một bên và tường thuật với Ngài toàn thể cuộc
đàm thoại với tín nữ Tỳ Xá Khư. Bà chắp tay hướng về
đức Phật mà nói, bạch đức Thế Tôn con đã nói như vậy,
đã trả lời như vậy. Con có xuyên tạc lời của đức Thế
Tôn không? Con có nói đúng pháp không, con có nói phù hợp
với pháp không? Y cứ vào pháp, có điểm nào trong lời nói
của con trái ngược với pháp, có gì đáng chất vấn, có
gì lỗi lầm không? Đức Thế Tôn trả lời: 'Này Tỳ-kheo,
những gì ngươi đã nói, những gì ngươi trả lời, không
phỉ báng ta. Ngươi đã nói đúng pháp, phù hợp với pháp,
không có gì trái ngược, không có gì đáng chất vấn, không
có gì lầm lỗi. Nếu tín nữ Tỳ Xá Khư dùng câu như vậy,
lời như vậy đến hỏi ta, ta cũng sẽ dùng nghĩa như vậy,
câu như vậy, lời như vậy để giải đáp cho tín nữ Tỳ
Xá Khư. Ý nghĩa này là những gì ngươi đã nói. Ngươi nên
thọ trì trong tâm. Vì sao? Vì lời này phù hợp với ý nghĩa.'
"
P:
Không giống hẳn. Ở đây bản P chỉ nói Visàkha hoan hỷ tín
thọ lời Tỳ-kheo ni Dhammadinnà và cám ơn bà. Trong bản P,
chính nam cư sĩ Visàkha đi đến Phật thuật lại cuộc đàm
thoại với ngài. Bản P chỉ nói rằng Phật khen Tỳ-kheo ni
Pháp Lạc là đa văn, có đại trí tuệ, và Ngài nói rằng
nếu nam cư sĩ đi đến Ngài mà hỏi những câu ấy, Ngài cũng
sẽ trả lời y như Tỳ-kheo ni Dhammadinnà đã trả lời. Rồi
Ngài khuyên Visàkha thọ trì ý nghĩa ấy.
E.
Phần kết
C:
Đức Phật nói như vậy. Tỳ-kheo ni Pháp lạc và các Tỳ-kheo,
sau khi nghe lời đức Phật, hoan hỷ phụng hành.
P:
Nam cư sĩ Visàkha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
NC39
C133:
Ưu
bà lợi kinh
P56:
Kinh
Upàli
A.
Toát yếu kinh C
C:
Trường Khổ Hạnh đàm luận với đức Phật, trong đó ông
trình bày lý thuyết của Kiền Tử về hình phạt và vai trò
nổi bật của thân phạt trong bất cứ hành vi quấy nào. Ngược
lại đức Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp
và vai trò nổi bật của ý nghiệp trong bất cứ hành vi quấy
nào. Trường Khổ Hạnh thuật lại cuộc đàm thoại với Kiền
Tử khi có mặt gia chủ Upàli. Khi ấy Upàli được Kiền Tử
chấp thuận cho đi đến phản bác quan điểm của đức Phật.
Nhưng đức Phật, bằng vài ví dụ, đã cảm hóa được Upàli
theo lý thuyết của Ngài, và ông trở thành đệ tử Ngài.
Sau đó Upàli trở về công bố đức tin mới của ông, từ
bỏ niềm tin cũ đối với Ni Kiền. Kiền Tử, sau khi nghe tin
này, đã đích thân đến nhà Upàli, và khi được ông ta cho
biết ông đã cải đạo, Kiền Tử đã hộc máu nóng và chết
tại Pàvà sau đó.
P
: Gần giống nhưng bỏ cái chết của Kiền Tử.
B.
Nhan đề kinh
C:
Ưu
bà lợi kinh, bản kinh nói về Ưu Ba Ly, một người trước
đây là đệ tử của Ni Kiền, sau trở thành đệ tử đức
Phật.
P:
Kinh
Upàli, giống như C.
C.
Nơi thuyết kinh
C:
Na Lan Đà, trong rừng Pàvàrikamba.
P:
Nàlandà, Pàvàrikambavana.
D.
Nội dung kinh
I.
Cuộc đàm thoại giữa Trường Khổ Hạnh và đức Phật:
C:
Trường Khổ Hạnh đi đến nơi đức Phật, trao đổi với
Ngài và ngồi qua một phía. Đức Phật hỏi ông: "Có bao nhiêu
hành vi Ni Kiền Tử chủ trương để diệt trừ ác nghiệp?"
Trường Khổ Hạnh trả lời rằng Kiền Tử không nói hành
vi để diệt trừ ác hành mà nói phạt. Rồi ông tiếp tục
giải thích có ba loại hình phạt, thân phạt, ngữ phạt và
ý phạt, ba loại không giống nhau, và thân phạt có vai trò
quan trọng nhất trong sự diệt trừ tội ác. Khi ấy đức
Phật trình bày lý thuyết của Ngài về nghiệp để diệt
trừ tội ác, về ba loại nghiệp là thân nghiệp, khẩu nghiệp,
ý nghiệp; mà ý nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự diệt
trừ tội ác. Đức Phật và Trường Khổ Hạnh đều nhắc
lại ba lần chủ trương của mình; rồi Trường Khổ Hạnh
bỏ đi.
P:
Gần giống; thêm: Phật nói với Trường Khổ Hạnh: "Có chỗ
ngồi; nếu muốn, mời ông hãy ngồi." Rồi Trường Khổ Hạnh
lấy một ghế thấp và ngồi xuống. Câu hỏi của đức Phật
ở đây hơi khác: "Có bao nhiêu nghiệp Ni Kiền Tử chủ trương,
trong sự diễn tiến ác hành, trong sự thực thi tội ác?" C:
phạt = P: danda (roi). C: thân phạt đóng vai trò quan trọng
nhất trong sự diệt trừ ác hành = P: thân phạt sản sanh nhiều
phi công đức hơn. C: ý phạt đóng vai trò quan trọng trong
việc diệt trừ ác nghiệp = P: ý phạt đóng vai trò quan trọng
trong việc diễn tiến ác nghiệp. Giải thích của C gần với
quan điểm Kỳ na giáo hơn.
II.
Trường Khổ Hạnh thuật lại với Kiền Tử, và Ưu Ba Ly xin
đi luận chiến với đức Phật:
C:
Trường Khổ Hạnh thuật lại toàn bộ cuộc đàm thoại với
Kiền Tử, ông này khen như sau: "Tốt lắm, tốt lắm, ông đã
làm tròn phận sự đệ tử đối với bậc đạo sư. Ông là
người có hành động thông minh, khôn ngoan, có quyết định
chắc chắn, bảo đảm, vô úy, đã đạt đến tự chủ, một
người biện luận đại tài, người đã có được cây cờ
vinh quang, đã đạt đến cảnh giới bất tử và trú trong
đó. Vì sao? Vì ông đã trình bày cho Sa-môn Cồø Đàm thấy
rằng, thân phạt đóng vai trò quan trọng nhất trong sự diệt
trừ ác hành, trong sự không làm ác hành. Ngữ phạt không
như vậy. Ý phạt là phần yếu kém nhất. Ngữ phạt và ý
phạt không thể so sánh với thân phạt, cái mạnh nhất."
Khi
ấy Upàli đang ở trong chúng hội cùng với 500 gia chủ. Ông
chắp tay hướng về Kiền Tử và hỏi Trường Khổ Hạnh,
có phải ông ta thực đã ba lần làm cho Sa-môn Cồ Đàm xác
định vấn đề ấy. Khi Trường Khổ Hạnh trả lời phải,
Upàli nói rằng ông ta có thể đè bẹp Sa-môn Cồø Đàm trong
vấn đề này, lôi đi xềnh xệch. Rồi Upàli đưa ra bốn (?)
ví dụ chỉ rõ ông sẽ lôi kéo Sa-môn Cồ Đàm trong cuộc
tranh luận như thế nào: như một người mạnh nắm lấy bờm
một con cừu đực mà lôi kéo thỏa thích; như một người
mạnh nắm một tấm áo lông cừu, đập nó để giũ bụi;
như một con voi chúa 60 tuổi, có ngà lớn, chân và thân khỏe
mạnh, được một người đem đi tắm, rửa mông, lưng, bụng,
vòi, đầu, và cho nó chơi trong nước. Kiền Tử tin tưởng
Upàli sẽ thành công trong cuộc bài bác Sa-môn Cồ Đàm và
giục ông ta ra đi. Nhưng Trường Khổ Hạnh lo sợ hậu quả
của cuộc đàm thoại này và nói: "Sa-môn Cồø Đàm biết
một chú thuật để dụ dẫn người ta trở thành Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo ni, tín đồ nam nữ cư sĩ. Tôi sợ rằng gia chủ Upàli
sẽ bị Sa-môn Cồ đàm dụ dỗ và trở thành đệ tử của
ông ta." Ba lần Trường Khổ Hạnh bày tỏ nỗi lo sợ của
ông, cả ba lần Kiền Tử trấn an bảo rằng, có thể có chuyện
Sa-môn Cồø Đàm trở thành đệ tử của Upàli, nhưng không
thể có chuyện Upàli thành đệ tử Cồ Đàm. Cuối cùng ông
ta để cho Upàli đến thách đấu với đức Phật. Gia chủ
Upàli đảnh lễ dưới chân Kiền Tử, đi quanh ông ta ba vòng,
rồi ra đi.
P:
Gần giống. Ni Kiền Tử khen ngợi Trường Khổ Hạnh như sau:
"Lành thay, lành thay, Trường Khổ Hạnh đã trả lời Sa-môn
Cồø Đàm. Đấy là một đệ tử đa văn, đã khéo hiểu giáo
lý của bậc thầy mình. Làm sao một ý phạt nhỏ nhoi có thể
bì kịp thân phạt to lớn? Quả thế, thân phạt đáng trách
hơn, trong việc diễn tiến, thi hành việc ác. Ý phạt và ngữ
phạt không bằng." Trong bản P, Upàli lập lại lời khen của
Kiền Tử đối với Trường Khổ Hạnh và bày tỏ ý muốn
đi thách đấu với đức Phật. Bốn ví dụ không giống nhau
hẳn. Ví dụ thứ nhất cũng như trong bản C. Ví dụ thứ hai
khác: "Như một người làm việc trong quán rượu nhúng một
chiếc chiếu lớn trong một cái hồ sâu, cầm lấy bốn góc
mà kéo." Ví dụ thứ ba cũng không giống: "Như một người
chủ quán rượu mạnh mẽ, nắm lấy một góc của đồ lọc
mà lắc qua lắc lại." Ví dụ thứ tư nói đến một con voi
60 tuổi, nhào vào trong một ao sâu và chơi trò phun nước.
Sự lo sợ của Trường Khổ Hạnh giống nhau trong hai bản.
III.
Sự đàm thoại giữa Upàli và đức Phật:
1)
Sự gặp gỡ giữa Upàli và đức Phật:
C:
Rồi Upàli đi đến nơi đức Phật, trao đổi lời chào hỏi
với Ngài, ngồi qua một bên và khởi sự hỏi về câu chuyện
giữa Trường Khổ Hạnh và đức Phật. Khi biết được đề
tài cuộc đàm thoại, Upàli lập lại lời ca tụng mà ông
đã thốt lên để ca tung Trường Khổ Hạnh trước đấy.
Khi ấy đức Phật hỏi Upàli, nếu ông sẵn sàng muốn thảo
luận để tìm hiểu chân lý, thì đức Phật cũng sẽ sẵn
sàng để nói chuyện với ông. Upàli chấp thuận và cuộc
đàm thoại bắt đầu.
P:
Gần giống. C: trao đổi sự chào hỏi = P: bhagavantam abhivàdetvà.
2)
Luận cứ của đức Phật:
Ví
dụ 1: C1 = P2:
C:
Giả sử có một người theo phái Ni Kiền đến, người ấy
thích bố thí, hoan hỷ trong hạnh bố thí, không ham chơi đùa
giải trí, tuyệt đối trong sạch và luôn luôn hành trì chú
thuật. Nếu trong khi đi qua đi lại, người ấy giết rất
nhiều sinh vật lớn nhỏ, sự sát sinh này có đem lại quả
báo cho người ấy không? Upàli đáp: "Nếu người ấy cố
ý giết, thì là một trọng tội; nhưng nếu người ấy làm
một cách vô ý thức thì không phải là trọng tội." Khi ấy
đức Phật bảo Upàli hãy suy nghĩ cẩn thận trước khi trả
lời, vì những gì ông vừa nói trái ngược với những gì
ông nói trước, những gì ông nói trước trái ngược với
những gì ông vừa nói, trong khi Upàli đã hứa giữa chúng
hội là sẽ thảo luận y cứ trên sự thật.
P:
Bản P cũng nói một Ni Kiền Tử được chế ngự trong bốn
cách chế ngự, nghĩa là, từ bỏ tất cả các loại nước
chưa đun sôi, chỉ sử dụng nước đã đun sôi (hoặc đã
từ bỏ tất cả ác hành), đã tránh tất cả ác hành, đã
thực hiện tất cả sự chế ngự. Ni kiền tử ấy trong lúc
đi lui đi tới, giết nhiều sinh vật nhỏ. Phần còn lại giống
nhau. Ở đây bản P thêm : "Ý hành này thuộc về hình phạt
nào?", và khi Upàli trả lời nó thuộc về ý phạt, đức Phật
bảo ông phải suy nghĩ cẩn thận trước khi trả lời. Bản
P thêm Upàli bảo, mặc dù đức Thế Tôn có nói gì, đối
với ông ta thân phạt vẫn đáng trách hơn, trong sự diễn
tiến và thực thi các việc ác.
Ví
dụ 2: C2 = P1:
C:
Nếu có một Ni Kiền đi đến, chỉ uống nước sôi, kiêng
cử nước lạnh. Trong khi cần uống nước lạnh vì không có
nước sôi, ông đã chết vì kiêng nước lạnh. Nơi tái sinh
của ông ta sẽ là chỗ nào? Upàli trả lời, có một cõi trời
gọi là "Ý trước". Nếu Ni Kiền ấy chết vì tâm ý còn ràng
buộc, ông ấy sẽ được tái sinh trong cõi trời ấy. (Phần
còn lại về lời cảnh cáo của Phật cũng như trong ví dụ
thứ nhất).
P:
Gần giống. Bản P thêm rằng Ni Kiền Tử ấy bị đau nặng.
C: Ý trước = P: Manosattà. Phần còn lại cũng như trước.
Ví
dụ 3: C3 = P3:
C:
Giả sử có một người cầm một con dao. Người ấy nói ông
muốn giết trong một ngày tất cả dân chúng thành Na Lan Đà,
làm chúng biến thành một khối thịt, một đống thịt. Phật
hỏi Upàli, người ấy có thể làm được như ý muốn không?
Upàli trả lời không thể, vì Na Lan Đà là một nơi phồn
thịnh đông dân cư, người ấy chỉ có nhọc xác một cách
vô ích, không thể nào giết hết dân chúng của Na Lan Đà,
biến chúng thành một khối thịt. Rồi đức Phật hỏi, nếu
một Sa-môn, Bà-la-môn đến, người này có đại thần lực,
vị ấy có thể do một tâm sân hận, biến toàn tỉnh Na Lan
Đà ra tro hay không? Upàli trả lời, không chỉ một Na Lan Đà
mà đến hai, ba, bốn Na Lan Đà, người ấy cũng có thể làm
ra tro tất cả các xứ sở và dân chúng, với một tâm sân
hận. Ở đây Upàli cũng được đức Phật cảnh cáo như trong
ví dụ trước.
P:
Gần giống, nhưng với nhiều chi tiết hơn. Nó thêm: "Trong
một phút chốc, trong một giây lát. Không những một người
mà 20, 30, 40, 50 người cũng không thể nào giết hết được
dân chúng thành Na Lan Đà, biến chúng thành một đống thịt".
Về trường hợp một Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông lực,
bản P cũng gần giống, nhưng thêm: Sa-môn, Bà-la-môn ấy không
chỉ làm cho một thành Na Lan Đà mà 10, 20, 30, 40, 50 Na Lan Đà
hóa thành tro bụi với một tâm sân hận.
Ví
dụ 4: C4 = P4:
C:
Đức Phật hỏi Upàli, ông có nghe về nơi hoang vu lớn, rừng
con sơn dương lui tới, nơi vắng vẻ của những con nai, nơi
thanh bình, nơi rừng hoang, đã trở thành rừng hoang vắng vẻ?
Khi Upàli trả lời có, đức Phật hỏi Upàli, ai đã làm cho
những nơi vắng vẻ ấy trở thành nơi vắng vẻ? Upàli giữ
im lặng, đức Phật thúc giục ông ta phải trả lời vì không
phải là lúc giữ im lặng, và vì ông ta đã hứa thảo luận
căn cứ trên sự thật. Upàli sau một lúc im lặng đã trả
lời rằng, không phải vì ông ta muốn giữ im lặng, mà vì
ông ta đang nghĩ đến một chuyện. Ông đang nghĩ rằng, Ni
Kiền thật điên rồ và ngu si, không biết gì cả, đã lừa
dối mình một thời gian dài, đã giục mình đi đến Sa-môn
Cồø Đàm để trình bày vai trò ưu thắng của thân phạt
trong sự không làm ác nghiệp. Nhưng nhờ đàm thoại với Sa-môn
Cồ Đàm, ông ta đã vỡ lẽ rằng, do một tâm niệm sân hận
của các vị trời, mà những nơi hoang vu này lại trở thành
hoang vu.
P:
Không giống. Cũng câu hỏi được Phật đặt ra cho Upàli,
nhưng ở đây bốn khu rừng tên là Dandaka, Kàlinga, Mejjha và
Màtanga trở thành khu rừng vì một tâm niệm giận dữ của
các vị có thần thông trong rừng ấy. Phần còn lại cũng
giống như trong ví dụ thứ nhất.
III.
Upàli theo đức Phật:
1)
Upali quy y Tam bảo lần thứ nhất:
C:
Upàli bạch đức Phật rằng, bây giờ ông đã hiểu, đã biết,
và ông công bố xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông
làm một đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến lúc mạng chung.
P:
Ở đây Upàli trả lời rằng, ngay từ ví dụ đầu tiên, ông
đã thỏa mãn với lời giải thích của Phật, nhưng ông giả
vờ đóng vai chống đối Ngài để được nghe thêm nhiều
giải thích khác nhau của Phật. Rồi ông ca tụng sự giải
thích của Phật là kỳ diệu, tuyệt hảo như thường lệ,
và công bố xin quy y Tam bảo, xin đức Phật nhận ông làm
cư sĩ.
2)
Quy y Tam bảo lần thứ hai:
C:
Đức Phật khuyên Upàli hãy giữ im lặng, đừng công bố ồn
ào vì bậc thượng nhân xem sự yên lặng là thù thắng. Upàli
sau khi nghe lời khuyên này lại càng hoan hỷ hơn nữa, càng
hài lòng với đức Thế Tôn, vì nếu ông ta xin làm đệ tử
các Sa-môn, Bà-la-môn khác, họ sẽ trương cờ lọng ra mà
công bố cho toàn thể Na Lan Đà biết là ông đã thành đệ
tử của họ. Nhưng đức Phật lại khuyên ông giữ im lặng,
đừng công bố gì cả. Rồi Upàli lại tuyên bố rằng từ
nay trở đi, ông sẽ không để cho Ni Kiền vào nhà ông, ông
chỉ mời bốn chúng đệ tử của đức Thế Tôn, nhưng đức
Phật bảo Upàli rằng, Ni Kiền từ lâu đã được ông cùng
gia đình tôn trọng, cung kính, nên bây giờ nếu họ đến,
ông phải cho họ chút gì tùy theo khả năng của ông. Sau khi
nghe lời khuyên ấy, Upàli bảo rằng, ông lại càng hoan hỷ
và hài lòng với đức Thế Tôn hơn nữa, vì trước đây ông
đã nghe nói đức Thế Tôn tuyên bố chỉ nên bố thí cho ngài
và các đệ tử của Ngài mới có công đức lớn; bố thí
cho người khác và đệ tử của người khác sẽ không đem
lại công đức lớn. Khi ấy đức Phật dạy Ngài chưa bao
giờ nói vậy, những gì Ngài thật sự nói ra là, nên bố
thí cho tất cả mọi người tùy theo ý thích của mình. Bố
thí cho những người không tinh tấn sẽ không đem lại quả
báo lớn; bố thí cho những người có tinh tấn sẽ mang lại
quả báo lớn. Khi ấy Upàli nói rằng, ông thề không làm gì
cả, ông biết nên cho hay không nên cho các Ni Kiền. Rồi lần
thứ hai ông công bố xin quy y Tam bảo và xin Phật nhận ông
làm cư sĩ.
P:
Không giống, ở đây đức Phật không khuyên Upàli nên giữ
im lặng, mà khuyên ông trước khi làm gì hãy suy nghĩ kỹ.
Khi nghe lời khuyên ấy Upàli tuyên bố ông càng hoan hỷ với
đức Thế Tôn hơn nữa, vì nếu ông trở thành đệ tử người
khác, họ sẽ trương cờ lên mà công bố cho toàn thể Nàlandà
biết Upàli là đệ tử của họ. Ở đây bản P nói ngay rằng,
Upàli xin quy y Tam bảo lần thứ hai, xin được làm đệ tử.
Phần còn lại trong đoạn này ở bản C được để vào đoạn
sau ở bản P.
3)
Quy y Tam bảo lần thứ ba:
C:
Rồi đức Thế Tôn thuyết pháp cho Upàli, khuyên bảo, làm
cho ông phấn chấn, hoan hỷ, dùng nhiều cách để giảng pháp
cho ông. Sau khi khuyên bảo, khích lệ, làm cho ông hoan hỷ,
đức Phật giảng pháp theo cách mà chư Phật lần đầu tiên
thuyết chánh pháp, làm cho người nghe hoan hỷ, như pháp thoại
về bố thí, về giới, về sự sanh lên cõi trời, quở trách
dục vọng đầy nguy hiểm, quở trách sinh tử là bất tịnh,
ca tụng sự ly dục là thù thắng, chánh đáng và trong sạch.
Đức Thế Tôn sau khi thuyết pháp cho ông như vậy, biết rằng
tâm của Upàli được hoan hỷ, thỏa mãn, mềm mại, nhu nhuyến,
được nâng cao, được nhất tâm, hết hoài nghi, hết chướng
ngại, có thể đón nhận diệu pháp một cách mạnh mẽ. Rồi
giống như chư Phật thuyết giảng tinh túy chân chính của
Pháp, đức Thế Tôn giảng cho Upàli về khổ, nguồn gốc khổ,
sự chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ. Như một
tấm lụa trắng (?) có thể ăn màu nhuộm dễ dàng, Upàli ngay
tại chỗ ngồi, đã thấy được bốn chân lý cao cả khổ,
tập, diệt, đạo. Thế là Upàli thấy pháp, được pháp, thực
chứng pháp bạch tịnh, diệt trừ hoài nghi, vượt qua do dự,
không có ai hơn ông, không còn lung lay, đã trú trong sự chứng
quả, trở nên vô úy đối với pháp của đức Thế Tôn. Rồi
Upàli đứng lên khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn
và lần thứ ba ông xin quy y Tam bảo, xin Phật nhận ông làm
đệ tử.
P:
Lý do thúc đẩy Upàli xin quy y lần thứ ba cũng giống như
lý do được đặt ở đoạn trước trong bản C. Bản P bỏ
lời tuyên bố của Upàli rằng, từ nay trở đi không sẽ không
cho Ni Kiền Tử nào vào nhà ông, và chỉ đón tiếp bốn hạng
đệ tử của đức Phật. Ở đây đức Phật khuyên Upàli
nên bố thí cho các Ni Kiền Tử vì từ lâu gia đình ông đã
giúp đỡ cho họ. Lời khuyên này làm cho Upàli càng hài lòng,
hoan hỷ với đức Thế Tôn, vì ông đã nghe nói Sa-môn Cồ
Đàm bảo rằng chỉ nên bố thí cho Ngài và đệ tử của
Ngài, đừng bố thí cho người khác và đệ tử người khác;
sự bố thí cho Ngài và đệ tử của Ngài sẽ có quả báo
lớn; bố thí cho người khác và đệ tử người khác không
đem lại quả báo lớn. Ở đây bản P bỏ lời phủ nhận
của đức Phật. C: Upàli thề không làm gì cả, ông biết
nên bố thí hay không nên bố thí cho các Ni Kiền = P: Upàli
nói ông biết thời để làm việc ấy. Trong bản P, sau khi
Upàli quy y Tam bảo lần thư ba, đức Phật thuyết pháp cho
ông. Bản P bỏ: "Đức Thế Tôn khuyên bảo, làm cho ông phấn
chấn, hoan hỷ....thuyết pháp cho ông." C: Phật giảng pháp
theo cách mà chư Phật lần đầu tiên giảng diệu pháp, làm
hoan hỷ những người nghe = P: Phật thuyết pháp theo thứ tự.
C: như là pháp thoại về bố thí...thù thắng, chánh đánh
và trong sạch = P: như là câu chuyện về bố thí, về giới,
về cõi trời, về nguy hiểm của dục lạc, sự hạ liệt,
ô nhiễm của nó; và về lợi lạc của xuất ly. C: Đức Thế
Tôn sau khi giảng pháp cho ông như vậy, biết tâm Upàli đã
được hoan hỷ, hài lòng, mềm mại, dễ sử dụng, nâng cao,
nhất tâm, hết hoài nghi, hết chướng ngại, có thể mạnh
mẽ tiếp nhận chánh pháp = P: Khi đức Thế Tôn biết tâm
Upàli đã sẵn sàng, nhu nhuyến, hết chướng ngại, sung sướng,
hoan hỷ. C: Như chư Phật đã giảng tinh yếu chân chính của
Pháp, đức Thế Tôn cũng giảng về khổ, tập, diệt, đạo
= P: Rồi Ngài giảng cho Upàli các pháp mà các bậc giác ngộ
đã khám phá: khổ, tập, diệt, đạo. C: Như một tấm lụa
trắng sẽ ăn màu một cách dễ dàng, ngay tại chỗ Upàli thấy
được chân lý khổ, tập, diệt, đạo. Như vậy Upàli thấy
pháp, được pháp, chứng ngộ pháp bạch tịnh, diệt trừ
hoài nghi, vượt qua do dự, không có ai hơn, không còn do dự,
đã an trú trong sự chứng ngộ quả, trở thành vô úy đối
với pháp của đức Thế Tôn = P: Như một tấm vải sạch
không còn vết đen, sẽ ăn màu nhuộm dễ dàng, cũng vậy gia
chủ Upàli ngay tại chỗ ngồi, khởi lên pháp nhãn ly trần
vô cấu : "Cái gì phải bị sinh thì cũng phải bị diệt."
Như vậy gia chủ Upàli đã thấy pháp, đã chứng pháp, đã
biết pháp, đã đi sâu vào pháp, đã vượt qua hoài nghi, đã
tẩy trừ sự do dự, đã đạt đến tịnh trí trong giáo lý
của đấng đạo sư mà không cần người khác dẫn dắt. Ở
bản C, sự chứng đắc của Upàli khiến ông công bố lời
xin quy y Tam bảo lần thứ ba, nhưng ở bản P chỉ nói rằng
Upàli thưa Thế Tôn, ông còn có nhiều việc phải làm.
IV.
Upàli dặn dò người gác cổng - Kiền Tử đến thăm và thái
độ của Upàli:
1)
Upàli dặn dò người gác cổng:
C:
Upàli sau khi đã khéo thọ trì lời dạy của đức Thế Tôn,
cúi đầu dưới chân Phật, nhiễu quanh Ngài ba vòng, rồi về
nhà. Tại đây ông bảo người gác cổng, bây giờ ông đã
thành đệ tử của đức Thế Tôn, và từ nay trở đi, không
được cho phép các Ni Kiền vào nhà ông. Chỉ có bốn hạng
đệ tử của đức Phật được vào nhà, nếu các Ni Kiền
đến, người gác cổng nên bảo họ đứng chờ bên ngoài
cổng và hãy mang đồ ăn ra cho họ.
P:
Gần giống. Trong khi bản C sử dụng một danh từ chung là
Ni Kiền, bản P còn thêm các Ni Kiền nam và nữ.
2.
Sự viếng thăm của Kiền Tử:
C:
Tin tức về thái độ của Upàli đến tai Trường Khổ Hạnh;
ông này đi đến Kiền Tử, thuật lại vấn đề cho ông ta
và phàn nàn rằng, giáo chủ đã không để ý đến lời cảnh
cáo của ông ta, nhưng Kiền Tử vẫn không tin mẩu tin ấy,
vẫn nói rằng không thể nào có chuyện Upàli trở thành đệ
tử Sa-môn Cồ Đàm, mà Sa-môn Cồ Đàm trở thành đệ tử
Upàli thì có. Rồi ông sai Trường Khổ Hạnh đi đến nhà
Upàli để thăm dò sự việc tận mắt. Trường Khổ Hạnh
đi đến nhà Upàli, khám phá tiếng đồn là chân thật và
về thuật lại cho Kiền Tử, nhưng Kiền Tử vẫn không tin.
Ông cùng 500 đồ chúng đi đến nhà Upàli, gặp người gác
cổng và người này đã thuật lại cho ông lời dặn dò của
Upàli. Kiền Tử nói rằng ông không đến xin đồ ăn mà muốn
gặp Upàli. Khi ấy người gác cổng bảo Kiền Tử hãy đợi
ngoài cổng, để ông ta vào báo tin cho Upàli biết có Kiền
Tử đến thăm.
P:
Gần giống, với vài dị biệt nhỏ. Trong khi bản C nói một
đám đông 500 Ni Kiền, bản P chỉ nói một số lớn Ni Kiền
Tử, còn lại cũng giống nhau, với những dị biệt đã thấy
ở trước.
3)
Thái độ của Upàli và phản ứng của Kiền Tử:
a)
Cách đón tiếp của Upàli:
C:
Khi người gác cổng báo tin cho Upàli biết có Kiền Tử đem
500 đồ chúng đến thăm, Upàli ra lệnh cho gác cổng sửa soạn
chỗ ngồi trong đại sảnh ở giữa. Khi chỗ ngồi đã sẵn,
Upàli đi vào tòa đại sảnh chính giữa, ngồi lên chỗ ngồi
đẹp nhất, cao nhất, sạch nhất đã soạn sẵn, và bảo người
gác cổng đi gọi Kiền Tử và đồ đệ vào. Ông nói: Tôn
giả, có chỗ ngồi đó, nếu muốn, xin ngài cứ ngồi." Khi
ấy Kiền Tử bảo Upàli tại sao ông cư xử như vậy, ngồi
kiết già như một Sa-môn, không khác tí nào. Upàli trả lời
rằng, ông có những đồ vật, nếu muốn bố thí ông sẽ
bố thí, nếu không muốn bố thí ông sẽ không bố thí. Những
ghế ngồi này của ông ta, nên ông bảo: "Có chỗ ngồi đấy,
nếu ông muốn ngồi, xin hãy ngồi."
P:
Gần giống, với vài dị biệt nhỏ. Bản P thêm rằng trước
đấy, mỗi khi Nàtaputta đến, Upàli thường đi ra đón ông,
và giành chỗ ngồi cao nhất, tốt nhất cho ông, rồi dùng
thượng y của mình để phủi bụi chỗ ấy. Bản P bỏ lời
khiển trách của Nàtaputta về Upàli cư xử như một Sa-môn
và câu trả lời của Upàli.
b)
Cuộc đàm thoại giữa Kiền Tử và Upàli:
C:
Kiền Tử khiển trách Upàli đã bị Sa-môn Cồ Đàm chinh phục,
mặc dù Upàli đã định chinh phục Cồ Đàm; cũng như một
người đi vào rừng để được mắt mà khi trở về lại
mất cả hai con mắt; hoặc như người khát nước đi đến
hồ rồi lại trở về vẫn còn khát. Upàli dẫn một ví dụ
để trả lời Kiền Tử. Giả sử có một Bà-la-môn có người
vợ trẻ có bầu. Chị ta bảo người ấy ra chợ mua một món
đồ chơi cho đứa con sắp sanh, người Bà-la-môn bảo, nàng
hãy đợi cho đến khi sanh con, nếu nó là con trai, anh ta sẽ
mua đồ chơi cho con trai; nếu nó là con gái, sẽ mua đồ chơi
con gái, nhưng bà vợ trẻ năn nỉ ba lần, và ba lần Bà-la-môn
cố lý luận với nàng. Nhưng vì quá yêu vợ, cuối cùng ông
hỏi bà thích loại đồ chơi gì. Bà bảo ông đi mua một con
khỉ nhỏ. Khi người chồng mua về một con khỉ con, bà không
thích màu lông của nó nên bảo chồng đem nó đến thợ nhuộm
nhuộm thành màu vàng và đập giũ cho bóng. Người thợ nhuộm
nói với ngưòi chồng, con khỉ này có thể nhuộm vàng, nhưng
không thể đập cho bóng láng. Rồi ông đọc một bài kệ:
"Con
khỉ có thể ăn màu nhuộm, nhưng không thể bị đập;
Nếu
bị đập, nó sẽ chết; rốt cuộc không thể nào đập nó.
Cái
túi đựng những đồ bất tịnh này có mùi thối;
Con
khỉ đầy những bất tịnh.
Cũng
thế lý thuyết Ni Kiền không thể chịu đựng nổi sự tra
tầm, không thể được đem ra nghiền ngẫm và quán sát.
Nó
có thể nhuộm kẻ ngu nhưng không bậc trí."
Khi
ấy Upàli ví giáo lý của Phật như một tấm vải hàng Ba
La Nại có thể ăn màu nhuộm đẹp nhất, mà cũng có thể
đập cho bóng láng. Giáo lý của đức Như lai có thể chịu
đựng sự tra tầm, có thể được nghiền ngẫm và quán sát.
Nó có thể nhuộm (ảnh hưởng đến) bậc trí, nhưng không
thể nhuộm người ngu.
P:
Không giống hẳn. Nó thêm Nàtaputta gọi Upàli là đã điên
rồ, ngu si khi bị vướng vào cuộc tranh luận lớn lao ấy.
Ví dụ thứ nhất không giống. Nó nói đến một người làm
nghề đi hoạn súc vật (andàhàrako?) và trở về chính
mình lại bị hoạn. Ví dụ thứ hai giống ví dụ đầu trong
bản C. Ví dụ về Bà-la-môn và cô vợ giống bản C, nhưng
được đặt sau lời cáo buộc của Nàtaputta rằng Upàli đã
bị Sa-môn Cồ Đàm dụ dỗ, trong khi ở bản C thì đặt ở
trước. Bản P thêm rằng, người chồng đã già, cao tuổi,
và tên người thợ nhuộm là Rattapàni. C: đập nó, làm cho
nó láng bóng = P: đập xung quanh và cả hai mặt cho thật láng.
Trong bản P, người thợ nhuộm không dùng bài kệ để trả
lời Bà-la-môn. Ông ta chỉ nói rằng nó có thể ăn màu nhuộm,
nhưng không thể đập và làm cho bóng láng cả hai mặt. C:
Lý thuyết của Ni Kiền không thể chịu đựng sự tra tầm,
không thể được nghiền ngẫm và quán sát; nó có thể nhuộm
kẻ ngu chứ không người trí = P: Lý thuyết của Ni Kiền Tử
ngu si, chỉ có thể nhuộm người ngu chứ không bậc trí, nó
không thể đứng vững trước sự tra tầm, không thể được
làm cho bóng láng. Trong ví dụ hai, bản P nói đến cũng người
Bà-la-môn ấy vào một lúc khác đem một cặp áo quần đến
cho Rattapàni nhờ nhuộm và đập, làm cho láng, trong khi bản
C nói đến một ví dụ riêng.
c)
Một cáo buộc khác từ Kiền Tử:
C:
Kiền Tử cáo buộc Upàli đã bị bùa chú của Sa-môn Cồ Đàm
dụ dỗ. Upàli trả lời rằng thần chú của Cồ Đàm thật
tốt đẹp, vô cùng tốt đẹp, nó sẽ làm cho cha mẹ ông ta,
vợ con, tôi tớ của ông ta, vua của xứ Na Lan Đà và tất
cả chúng sinh trong những thế giới với chư thiên, ma, phạm,
Sa-môn và Bà-la-môn, từ nhân loại cho đến chư thiên sẽ
được thần chú dụ dỗ này làm cho hạnh phúc, an ổn và
lợi lạc lâu dài.
P:
Gần giống. C: bị thần chú dụ dỗ của Sa-môn Cồ Đàm dụ
= P: bị dụ dỗ bởi huyễn thuật của Sa-môn Cồ Đàm. C:
rất tốt, vô cùng tốt đẹp = P: rất lành, rất thiện. Bản
C nói, cha mẹ ông ta, vợ con, tôi tớ của ông ta, vua của
xứ Na Lan Đà và tất cả chúng sanh trong các thế giới với
chư thiên, ma, phạm, Sa-môn và Bà-la-môn, từ nhân loại cho
đến chư thiên = P: những huyết thống thân yêu, tất cả
sát đế lợi và Bà-la-môn, thương gia, thợ thuyền, chúng
sanh trong các cõi trời, cõi ma, cõi phạm, Sa-môn, Bà-la-môn,
trời và người.
Bài
kệ của Upàli: xem ở trước, chương 7 (các bài kệ).
E.
Phần kết
Ở
đây bản C có phần kết thông thường, bản P không có.