1
Phật
sống Tây Tạng
Pico
Iyer (ghi chép)
Đêm
Hy Mã Lạp Sơn vang lên tiếng chó sủa. Ánh sáng lập lòe bên
kia sườn đồi. Dưới vòm trời sao, trên lối mòn tăm tối
giữa những hàng thông, một nhóm người hành hương trong y
phục tả tơi đang bước đi, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Ngay
trước lúc rạng đông, khi những đỉnh núi tuyết ở phía
sau nhuộm màu hồng đậm, đám đông ở bên ngoài ngôi chùa
Namgyal ba tầng ở Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, trở nên yên
lặng. Một người có tướng mạo mạnh mẽ, lưng hơi khòm
bước vào đưa đôi mắt sáng nhìn khắp mọi người, khuôn
mặt hoan hỷ với nụ cười rộng không tắt trên môi. Tháp
tùng theo sau ngài là các tăng sĩ mặc áo đỏ thẫm và đầu
đội mão màu vàng. Vị mới đến đi thẳng lên điện Phật.
Nơi đó, các vị phụ tá ngồi nghiêm trang phía trước ngài.
Khi mặt trời ló dạng, tiếng tù và vang vọng cả một vùng
thung lũng ở bên dưới, Đức Đạt Lai Lạt Ma chủ trì một
nghi lễ đón mừng năm mới, năm con Rồng Đất.
Vào
ngày mùng hai Tết Losar, hội mừng xuân mới của Tây Tạng,
vị Phật sống của khoảng mười bốn triệu người về tiếp
kiến công chúng. Đến tám giờ sáng, đoàn người đến viếng
thăm ngài đứng thành một hàng dài nửa dặm dọc theo con
đường núi quanh co ở bên ngoài ngôi nhà gỗ thoáng khí của
ngài ở vùng núi. Họ là những người sơn cước phong trần
trong những chiếc mũ rộng vành, những người Tây Phương
để tóc dài, những bé gái mặc những bộ áo lụa đẹp nhất,
tất cả sáu ngàn dân làng, và hàng ngàn người khác nữa.
Tiếp đó là ba mươi người khách với y phục bám bụi đường
vừa rời khỏi Tây Tạng đứng chen chúc ở bên trong ngôi
nhà. Khi trông thấy vị lãnh tụ lưu vong của mình lần đầu
tiên sau gần ba mươi năm, họ liền oà lên khóc nức nở,
rồi những tiếng sụt sịt sau đó. Trong suốt những khoảnh
khắc đó, Tenzin Gyatso, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền
của Tây Tạng, hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm qua danh
hiệu Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một dòng truyền thừa không
gián đoạn kể từ 597 năm qua, vẫn trầm tĩnh an nhiên.
Sau
đó ngài giải thích rằng, ở Tây Tạng lễ Losar thường được
cử hành trên sân thượng của cung điện Potala cao mười ba
tầng, với những cái bánh nướng được bày ra cho mọi người.
“Mỗi năm tôi lại thực sự lo ngại khi nhìn người ta cứ
nhào tới lấy bánh. Thứ nhất là toà nhà lâu đời có thể
sụp đổ bất cứ lúc nào và thứ hai, có thể có một người
nào đó rơi từ trên nóc nhà xuống dưới đất. Bây giờ
việc đó diễn ra ở đây lặng lẽ hơn nhiều”. Giọng nói
của ngài trở nên trầm ấm thân tình.
Từ
năm 1959, cuộc nổi dậy của người Tây Tạng chống lại
những lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc đã đưa đến
việc Đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong ở Ấn Độ,
nhưng tinh thần của nền tín ngưỡng cổ truyền, có tính
chất như truyện cổ tích, vẫn còn sống mạnh mẽ ở Dharamsala
này -- nơi trước kia vốn là đồn lính của chính quyền thuộc
địa Anh Quốc, cách thủ đô New Delhi 250 cây số về hướng
Bắc. Ở đây, với một nhà tiên tri quốc gia, một lạt ma
có quyền năng làm mưa, một số y sĩ, mấy nhà chiêm tinh và
một nội các gồm bốn người, Đức Đạt Lai Lạt Ma, là
hóa thân của tất cả những gì mà ngài đã làm kể từ khi
bước lên ngai sư tử ở Lhasa vào năm lên bốn tuổi.
Nhưng
dù “Người bảo hộ xứ tuyết” (Protector of the Land of Snows)
có tất cả những nét huyền bí của vương quốc huyền diệu
mà người Tây Phương tưởng tượng lại và đặt tên là
Shangri-la, ngài vẫn là một nhà lãnh đạo trong cõi giới trần
tục này. Từ năm mười lăm tuổi ngài buộc phải lo toan với
những nhu cầu của nhân dân ngài trước những mưu đồ đối
nghịch của Bắc Kinh, Washington và New Delhi. Tình trạng luôn
luôn nóng bỏng đó đã đi tới cực điểm trong mùa thu vừa
qua khi người Tây Tạng nổi dậy ở Lhasa, chính quyền Trung
Quốc đã giết chết ba mươi hai người, Đức Đạt Lai Lạt
Ma mở cuộc họp báo lớn đầu tiên của ngài ở Dharamsala,
và Quốc Hội Hoa Kỳ nhất trí lên án hành động của Trung
Quốc. Những cuộc nổi dậy đã bộc phát trong mấy tuần
vừa qua, nhưng ngay cả trước đó, vị tu sĩ Phật Giáo khiêm
tốn này đã thấy mình không chỉ là biểu tượng tinh thần
nối kết một trăm ngàn người Tây Tạng lưu vong với sáu
triệu người vẫn sống dưới ách thống trị của Trung Quốc
mà còn là một nhân vật lãnh đạo về chính trị cho xứ
sở nữa. Ngài cười vui vẻ và nói “Đức Đạt Lai Lạt
Ma thứ 14 có lẽ là người nổi tiếng nhất trong tất cả
các vị Đạt Lai lạt Ma. Nếu người Trung Hoa đã đối xử
với ngưòi Tây Tạng giống như người anh em thực sự thì
có lẽ vị Đạt lai Lạt Ma này không nổi tiếng như vậy.
Vì thế, tất cả là nhờ có người Trung Hoa”. Mắt ngài
sáng lên một cách châm biếm.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma được xem là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế
Âm, điều hành một chính phủ lưu vong, là một tiến sĩ siêu
hình học. Nhưng có lẽ điều kỳ diệu duy nhất về ngài
chính là tính nhân bản thành thực và mạnh mẽ nơi ngài.
Với phong thái riêng, vị Phật sống qua hình ảnh quen thuộc
với đôi giầy màu nâu cùng bộ y mầu đỏ thẫm của mình,
và cặp mắt vẫn có nét tinh nghịch mà thuở ấu thời từng
làm cho các lạt ma của mình phải hốt hoảng vì tài chơi
trò trốn tìm nghịch ngợm. Ngài thích chăm sóc vườn hoa,
ngắm bầy chim rừng, sửa chữa những chiếc đồng hồ, máy
thu thanh và nhất là hành thiền tĩnh tọa. Và ngay cả đối
với những kẻ đã giết tới một triệu hai trăm ngàn người
dân của ngài và phá hủy sáu ngàn hai trăm năm mươi bốn
ngôi tự viện của Tây Tạng, ngài vẫn tha thứ cho họ. Ngài
nói: “Là những hành giả tu theo giáo lý Đại Thừa, chúng
ta cầu nguyện mỗi ngày để phát triển một loại tâm từ
bi vô giới hạn. Vì vậy không có lý do gì để nuôi dưỡng
lòng thù hận người Trung Quốc. Chúng ta hãy phát khởi đại
bi tâm đối với họ”.
Vị
Phật vương thứ mười bốn của Tây Tạng ra đời trong một
gia đình nông dân ở ngôi làng nhỏ Takster vào năm 1935. Khi
ngài được hai tuổi, một phái đoàn tăng sĩ tìm đến ngôi
nhà nhỏ của ngài do có sự xuất hiện của những dấu hiệu
như: một xác chết có vẻ như cử động, linh cảm từ hồ
thiêng và những đám mây lành, cho thấy ngài là hóa thân mới
của vị thần chủ của Tây Tạng. Hai năm sau đó, sau khi trải
qua những cuộc trắc nghiệm phức tạp, chú bé đã được
một phái đoàn gồm mấy trăm người cung thỉnh về thủ đô
Lhasa. Ở đó ngài sống xa gia đình cùng với người anh trai
trong cung điện Potala rộng lớn với một ngàn căn phòng và
học một khóa giáo lý kéo dài mười tám năm. Lên bảy tuổi,
ngài tiếp phái đoàn của Tổng Thống Mỹ Franklin Roosevelt
và cầu nguyện trước hai mươi ngàn tăng sĩ. Nhưng lúc đó
ngài vẫn là một lạt ma tí hon bình thường, thích chạy quanh
cung điện trên chiếc xe hơi đạp và đùa nghịch với các
anh em ruột của mình, Tenin Choegyal, em trai của Đức Đạt
Lai Lạt Ma nhớ lại “ Một ngày mùa hè, vào năm tôi được
bảy tuổi, mẹ tôi đưa tôi đến cung điện mùa hè Norbulingka
để thăm Đức Đạt Lai Lạt Ma. Khi chúng tôi tới nơi, ngài
đang tưới nước những cây kiểng của mình, và ngài đã
chỉa ngay vòi nước vào tôi”.
Cũng
trong khoảng thời gian đó, lạt ma tí hon tinh nghịch lần đầu
tiên biểu lộ những năng khiếu về khoa học của mình. Ngài
tự học những nguyên tắc của động cơ nổ và tự sửa
chữa cái máy phát điện của Cung Điện Potala khi nào nó trục
trặc. Ngài chỉ được phép nhìn ra thế giới bên ngoài qua
tấm màn lụa của chiếc kiệu bằng vàng của mình, vì vậy
ngài dùng máy chiếu để xem những cuốn phim mà ngài thích
như loạt phim “Tarzan”, phim “Henry V, vua Anh Quốc”, và
nhất là những cuốn phim thu hình chính thủ đô Lhasa. Ngài
nhớ lại là mình thường trèo lên nóc điện Potala lấy ống
viễn vọng kính và thích thú quan sát những cư dân của thủ
đô Lhasa đang sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của họ.
Năm
1950, sự cô lập của “viên ngọc như ý”(“Wish-Fulfilling
Gem”) và vương quốc miền núi của ngài bị phá hủy khi
quân Trung Quốc tấn công từ tám hướng khác nhau. Bất ngờ
nhà lãnh đạo nhỏ tuổi này phải học một khóa cấp tốc
về chính trị, để rồi đến Bắc Kinh thương thuyết với
Chu Ân Lai (Zhou Enlai) và Mao Trạch Đông (Mao Zedong). Cuối cùng,
vào tháng ba năm 1959, khi một cuộc đụng độ đẫm máu diễn
ra với ba mươi ngàn người Tây Tạng dũng mãnh vùng lên chống
lại sự cai trị hung bạo của Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã quyết định trốn khỏi cung điện mùa hè, hóa trang
thành một người lính thường và leo qua những rặng núi cao
nhất thế giới. Hai tuần sau, bị bệnh tiêu chảy và ngồi
trên lưng một con trâu yak, “Vị thủ lĩnh hoa sen trắng”
(“Holder of the White Lotus) đã đi vào đất Ấn Độ như một
người lưu vong cùng với tám chục ngàn người dân Tây Tạng
khác.
Kể
từ đó ngài đã phải sống với sự cố gắng giữ thăng
bằng trên sợi dây chính trị thế giới. Ngài là một vị
khách của một quốc gia muốn ngài giữ im lặng và là một
kẻ địch của quốc gia mà nhiều nước trên thế giới đang
ve vãn. Không nản chí, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tổ chức
năm mươi hai khu định cư của người Tây Tạng ở Ấn Độ
và Nepal cũng như thiết lập những viện bảo tồn nghệ thuật,
kinh sách và y học truyền thống của Tây Tạng. Trong mấy
năm sau đó, ngài bắt đầu đi vòng quanh thế giới giống
như một vị Giáo Hoàng của Phật Giáo để diễn thuyết ở
Đại học Harvard, Hoa Kỳ, tiếp kiến Đức Giáo Hoàng John
Paul
đệ nhị và gặp các tín đồ PG trên khắp thế giới, dù
họ là nông dân thất học hay là diễn viên (diễn viên điện
ảnh người Mỹ Richard Gere -- người bắt đầu nghiên cứu
PG từ năm 1982). Ngài muốn luôn luôn nhìn thấy những phương
diện tích cực của đời sống, ngài cảm thấy rằng sự
lưu vong cũng có những mặt tốt của nó. “Khi chúng tôi ở
Tây Tạng, có những hoạt động nghi lễ chiếm nhiều thời
giờ mà thực chất không có ý nghĩa gì nhiều. Tất cả những
chuyện đó bây giờ không còn nữa. Tôi nghĩ như vậy là tốt.
Bây giờ thì không cần đến những hình thức bên ngoài nữa”.
Nhiều
người Tây Tạng thuộc thế hệ trẻ muốn vị lãnh đạo
của họ có nhiều tính chiến đấu hơn. Họ ủng hộ đường
lối bạo động, vì họ nhận xét rằng có hơn ba ngàn tù
nhân chính trị chỉ ở riêng miền trung Tây Tạng và chính
quyền Trung Quốc đã đưa ít nhất là ba trăm ngàn binh sĩ
đến để chiếm đóng “nóc nhà của thế giới”. Nhưng
Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn chủ trương đường lối ôn hòa.
Ngài trình bày: “Khi tâm trí bị sự sân hận ngự trị thì
nó có thể trở nên điên loạn. Người ta sẽ không thể quyết
định đúng và không thể trông thấy sự thật. Nhưng nếu
bình tĩnh và an định người ta sẽ trông thấy sự vật đúng
như thật. Tôi nghĩ rằng các nhà chính trị cần phải có
loại kiên nhẫn này. Chẳng hạn, so với các nhà lãnh đạo
trước đây của Liên Xô thì ông Gorbachev là người bình tĩnh
hơn nhiều và do đó hoạt động của ông hữu hiệu hơn”.
Tuy
nhiên, hiếu hòa không có nghĩa là thụ động, ngài nói tiếp
“rốt cuộc người Trung Quốc sẽ phải nhận thức rằng
Tây Tạng là một quốc gia riêng biệt. Nếu Tây Tạng đã
luôn luôn thật sự là một phần của Trung Quốc thì dù muốn
hay không muốn, người Tây Tạng cũng phải sống với sự
kiện này. Nhưng sự thật không phải như vậy, do đó chúng
ta có tất cả những lý do để đòi hỏi quyền lợi của
mình”.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma dành nhiều thời giờ để suy nghĩ về việc
Phật Giáo Tây Tạng có thể dạy như thế nào và có thể
học như thế nào từ những nền giáo thuyết khác. Chẳng
hạn ngài tin rằng Phật Giáo có thể hướng dẫn cho chủ
nghĩa Marx biết cách thiết lập một chủ nghĩa xã hội đích
thực “không bằng võ lực mà bằng lý luận, bằng một sự
luyện tập tâm trí rất nhẹ nhàng, bằng sự phát triển tâm
từ bi”. Ngài nhìn thấy nhiều điểm tương đồng giữa niềm
tin của ngài và tâm lý học, vũ trụ học, thần kinh học,
khoa học, xã hội học và vật lý học. Ngài nói: “Có nhiều
điều mà người đệ tử Phật chúng ta nên học từ những
phát hiện mới nhất của khoa học. Và các nhà khoa học có
thể học từ những giáo lý của Phật Giáo. Chúng ta phải
làm công việc nghiên cứu và rồi tiếp nhận những kết quả.
Nếu không phù hợp với những kết quả trắc nghiệm thì
chính những lời giảng của Phật cũng phải bị loại bỏ”.
Sự
cấp tiến của ngài có khi làm cho người Tây Tạng hoang mang,
dù họ là những người sẵn sàng từ bỏ mạng sống vì vị
lãnh đạo của mình. Trong bản hiến pháp sơ thảo mà ngài
đã soạn vào 1963, vị Phật vương đã cho vào đó một điều
trái ngược với ước muốn của người dân Tây Tạng, có
thể làm cho ngài bị lên án. Đó là việc ngài đang xét lại
cách thức mới để chọn vị Dalai Lama kế tục, có lẽ bằng
một cuộc bầu cử giống như của Tòa Thánh Vatican của Ky
Tô Giáo vậy, hoặc chọn theo tuổi tác, bãi bỏ tất cả những
tập quán tìm kiếm vị hóa thân tái sanh. “Tôi nghĩ rằng
đã đến lúc, dù không nhất thiết phải có quyết định
thật sớm, nhưng cũng phải có sự bắt đầu một cuộc thảo
luận có tính cách chính thức hơn, để người dân có thể
chuẩn bị tư tưởng cho việc này”.
Trong
lúc đó, nhà lãnh đạo lưu vong tiếp tục sống một đời
sống đơn giản, vô vị kỷ, giống như giáo lý Trung Đạo
của Phật Giáo, không tranh chấp với thế gian và cũng không
bị thế gian ảnh hưởng. Ngài vẫn không chịu ngồi hàng
ghế hạng nhất trên các chuyến bay và vẫn luôn tự
xem mình là một “tăng sĩ đơn sơ” (simple Buddhist monk). Dù
là một trong những học giả uyên bác nhất và là một trong
những người trí tuệ nhất của tất cả các nền triết
học trên thế giới, ngài có tài thu tóm giáo thuyết của
mình thành một điều thực dụng trong sáng, như đã kết tinh
trong tựa đề cuốn sách xuất bản năm 1984 của ngài “ Từ
Bi, Quang Minh và Trí Tuệ” (Kindness, Clarity and Insigh) do nhà
xuất bản Snow Lion ấn hành. Ngài nói “Tôn giáo thực sự
của tôi là lòng từ bi” (My true religion is kindness). Đây là
một điều không may mắn cho chính phủ Trung Quốc khi họ đụng
phải một người như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Bắc Kinh đã
phỉ báng ngài khi gọi ngài là “thây ma chính trị, thổ phỉ
và phản bội” (political corpse, bandit and traitor), “tên đồ
tể tay dính máu, sống bằng thịt người (red-handed butcher
who subsisted on people’s flesh). Nhưng bất cứ ai gặp Đức Đạt
Lai Lạt Ma cũng cảm thấy sự nồng ấm, nhân ái và từ bi
của ngài.
Đối
với một người ngoài, đời sống của một vị Phật sống
có vẻ rất cô đơn. Thêm nữa, trong mấy năm qua gần như
tất cả những người thân cận của ngài, nhất là vị giáo
sư của chính ngài, vị giáo sư phụ tá, mẹ và anh của ngài,
là người xưa kia đã chơi đùa với ngài, đều đã lần lượt
qua đời. Nhưng cũng như mọi điều khác, Đức Đạt Lai Lạt
Ma chấp nhận thực tại một cách sâu sắc nhất. Ngài nói:
“Bạn cũ qua đời, bạn mới xuất hiện. Điều này cũng
giống như ngày tháng vậy. Ngày tháng cũ trôi qua, ngày mới
xuất hiện. Điều quan trọng là làm cho nó có ý nghĩa: một
người bạn đầy ý nghĩa hay một ngày đầy ý nghĩa”.
1
TIBET’S
LIVING BUDDHA
By
Pico Iyer
Dogs
bark in the Himalayan night. Lights flicker across the hillside. On a pitch-black
path framed by pines and covered by a bowl of stars, dew ragged pilgrims
shuffle along, muttering ritual chants. Just before dawn, as the snowcaps
behind take on a deep pink glow, the crowd, that has formed outside the
three storey Namgyal Temple, in northern India falls silent. A strong,
slightly stooping figure strides in, bright eyes alertly scanning the crowd,
smooth face breaking into a broad and irrepressible smile. Followed by
a group of other shaven-headed monks, all of them in claret robes and crested
yellow hats, the newcomer clambers up to the temple roof. There, as the
sun begins to rise, his clerics seated before him and the solemn drawn-out
summons of long horns echoing across the valley below, the Dalai Lama leads
a private ceremony to welcome the Year of the Earth Dragon.
On
the second day of Losar, the Tibetan New Year, the man who is a living
Buddha, to roughly fourteen million people, gives a public audience. By
eight A.M. the line of petitioners stretches for half a mile along the
winding mountain road outside his airy bungalow. Leathery mountain men
in gaucho hats, long haired westerners, little girls in their prettiest
silks, all the six thousand residents of the village and the thousands
more. Later, thirty dusty visitors, just out of Tibet, crowd inside and
as they set eyes on their exiled leader for the first time in almost three
decades, fill the small room with racking sobs and sniffles. Through it
all, Tenzin Gyatso, the absolute spiritual and temporal ruler of Tibet,
incarnation of the Tibetan god of compassion and fourteenth Dalai Lama
in a line that stretches back 597 years, remains serene.
In
Tibet, he explains later, Losar used to be conducted on the roof of the
thirteen storey Potala Palace, with cookies laid out for the masses. “Every
year I used to be really worried when the people rushed to grab the cookies.
First, that the old building would collapse, and second, that someone would
fall over the edge. “Now,” (the rich baritone breaks into a hearty
chuckle) “now things are much calmer.”
It
was twenty-nine years ago last week that the Tibetan uprising against China’s
occupying forces propelled the Dalai Lama into Indian exile. Yet the spirit
of his ancient, fairy-tale theocracy is still very much alive in Dharamsala,
a former British hill station 250 miles north of New Delhi. Here, attended
by a State Oracle, a rainmaking lama, various medicine men, astrologers
and a four-man Cabinet, the Dalai Lama, at fifty-two, incarnates all he
has done since first ascending the Lion Throne in Lhasa at age four.
Yet
even as the “Protector of the Land of Snows” sustains all the secret
exoticism of that otherworldly kingdom reimagined in the West as Shangri-La,
he remains very much a leader in the real world. Since the age of fifteen,
he has been forced to deal with his people’s needs against the competing
interests of Beijing, Washington and New Delhi. That always inflammatory
situation reached a kind of climax last autumn, when Tibetans rioted in
Lhasa, their Chinese rulers killed as many as thirty-two people, the Dalai
Lama held his first major press conference in Dharamsala, and the U.S Senate
unanimously condemned the Chinese actions. Riots have erupted in recent
weeks, but even before that, the modest man in monk’s raiment had found
himself not only the spiritual symbol linking 100,000 Tibetans in exile
to the six million still living under Chinese rule, but also, more than
ever, a political rallying point. “The Fourteenth Dalai Lama may be the
most popular Dalai Lama of all,” he says smiling merrily. “If the Chinese
had treated the Tibetans like real brothers, then the Dalai Lama might
not be so popular. So….,” (he twinkles impishly) “all the credit
goes to the Chinese!”
On
paper, then, the Dalai Lama is a living incarnation of a Buddha, the hierarch
of a government-in-exile and a doctor of metaphysics. Yet the single most
extraordinary thing about him may simply be his sturdy, unassuming humanity.
The Living God is, in his way, as down to earth as the hardy brown oxfords
he wears under his monastic robes, and in his eyes is still the mischief
of the little boy who used to give his lamas fits with his invincible skills
at hide-and-seek. He delights in tending his flower gardens, looking after
wild birds, repairing watches and transistors and, mostly, just meditating.
And even toward those who have killed up to 1.2 million of his people and
destroyed 6,254 of his monasteries, he remains remarkably forbearing. “As
people who practice the Mahayana Buddhist teaching, we pray every day to
develop some kind of unlimited altruism,” he says. “So there is no
point in developing hatred for the Chinese. Rather, we should develop respect
for them and love and compassion.”
The
Fourteenth God-King of Tibet was born in a cow shed in the tiny farming
village of Takster in 1935. When he was two, a search party of monks, led
to his small home by a corpse that seemed to move, a lakeside vision and
the appearance of auspicious cloud formations, identified him as the new
incarnation of Tibet’s patron god. Two years later, after passing an
elaborate battery of tests, the little boy was taken amid a caravan of
hundred into the capital of Lhasa, “Home of the Gods.” There he had
to live alone with his immediate elder brother in the cavernous thousand-chamber
Potala Palace and undertook an eighteen-year course in Metaphysics. By
the age of seven, he was receiving envoys from the President Franklin Roosevelt
and leading prayers before twenty thousand watchful monks; yet he remained
a thoroughly normal little boy who loved to whiz around the hold compound
in a pedal car and instigate fights with his siblings. “I recall one
summer day, I must have been about seven, when my mother took me to the
Norbulingka Summer Palace to see His Holiness,” recalls the Dalai Lama’s
youngest brother Tenzin Choegyal. “When we got there, His Holiness was
watering his plants. The next think I knew, he was turning the hose at
me!”
It
was at this time too, that the precocious boy first developed his prodigious
gift for things scientific, teaching himself the principles of the combustion
engine and fixing the palace’s generator whenever it went on the blink.
To satisfy his insatiable curiosity about a world he was permitted to glimpse
only through the silk-fringed curtains of his golden palanquin, the young
ruler set up a projector by which he eagerly devoured Tarzan movies, Henry
V and, best of all, home movies of his own capital. Often, he recalls,
he would take a telescope onto the palace roof and wistfully gaze at the
boys and girls of Lhasa carelessly going about their lives.
In
1950 the isolation of the “Wish-Fulfilling Gem” and his mountain kingdom
was shattered as the Chinese attacked from eight different directions.
Suddenly the teenage ruler was obliged to take a crash course in statesmanship,
traveling to Beijing to negotiate with Zhou Enlai and Mao Zedong. Finally,
in March 1959, when a bloody confrontation seemed imminent as thirty thousand
steadfast Tibetans rose up against Chinese rule, the Dalai Lama slipped
out of his summer palace, dressed as a humble soldier and set off across
the highest mountains on earth. Two weeks later, suffering from dysentery
and on the back of a dzo, (a hybrid yak) the “Holder of the White Lotus”
rode into exile in India.
Since
then, his has been a singularly delicate balancing act, the guest of a
nation that would prefer him to remain silent and the enemy of a nation
that much of the world is trying to court. Undeterred, the Dalai Lama has
organized fifty-three Tibetan settlements in India and Nepal and set up
institutes to preserve his country’s arts, its scriptures and its medical
traditions. In recent years he has begun to race around the world like
a Buddhist John Paul II; lecturing at Harvard, meeting the Pope and attending
to his flock, be they unlettered peasants or the American actor Richard
Gere (a student of Buddhism since 1982). Always inclined to see the good
in everything, he feels that exile has in some respects been a blessing.
“When we were in Tibet, there were certain ceremonial activities that
took up a lot of time, but the substance was not much. All those exist
no longer. That’s good, I think. Also, because we are refugees, we have
become much more realistic. There’s no point now in pretending.”
Many
young Tibetans would like their leader to be more militant. Angrily noting
that there are more than three thousand political prisoners in central
Tibet alone and the Beijing has at least three hundred thousand troops
on the “Rooftop of the World,” they advocate violence. But the Dalai
Lama refuses to be intemperate. “Once your mind is dominated by anger,”
he notes thoughtfully, “it becomes almost mad. You cannot take right
decisions, and you cannot see reality. But if your mind is calm and stable,
you will see everything exactly as it is. I think all politicians need
this kind of patience. Compared with the previous Soviet leaders I think
for example, that Gorbachev is much calmer, therefore more effective.”
Pacifism
however, does not mean passivity. “Ultimately …,” he continues, “…
the Chinese have to realize that Tibet is a separate country. If Tibet
was always truly a part of China then, whether Tibetans liked it or not,
they would have to live with it. But that’s not the case. So we have
every right to demand our rights.”
The
Dalai Lama spends much of his time reflecting on how Tibetan Buddhism can
teach and learn from other disciplines. He believes for example, that Buddhism
can show Marxism how to develop a genuine socialist ideal “Not through
force but through reason and through a gently training of the mind, through
the development of altruism.” He sees many points of contact between
his faith and psychology, cosmology, neurobiology, the social sciences
and physics. “There are many things we Buddhists should learn from the
latest scientific findings and that scientists can learn from Buddhist
explanations. We must conduct research and then accept the results. If
they don’t stand up to experimentation,” he says, beaming subversively,
“Buddha’s own words must be rejected.”
Such
quiet radicalism has at times unsettled followers so devout that they would
readily give up their lives for their leader. In the draft constitution
he drew up in 1963, the God-King included, against his people’s wishes,
a clause that would allow for his impeachment. Now he is considering new
methods for choosing the next Dalai Lama; adopting an electoral system
similar to the Vatican’s perhaps, or selecting on the basis of seniority,
or even dispensing with the entire institution. “I think the time has
come, not necessarily to take a decision very soon, but to start a more
formal discussion, so that people can prepare their minds for it.”
In
the meantime, the exiled leader will continue to pursue a simple, selfless
life that is close to the Buddhist ideal of the Middle Way. Neither hostile
to the world, nor hostage to it. Buddhism’s supreme living deity still
refuses to fly first class and thinks himself always, as he told the press
last autumn, as a “simple Buddhist monk.” Though he is one of the most
erudite scholars of one of the most cerebral of all the world’s philosophies,
he has a gift for reducing his doctrine to a core of lucid practicality,
crystallized in the title of his 1984 book, Kindness, Clarity and Insight
(Snow Lion Publications). “My true religion,” he has said, “is kindness.”
It
is in fact, the peculiar misfortune of the Chinese to be up against one
of those rare souls it is all but impossible to dislike. Beijing has felt
it necessary to call him a “political corpse, bandit and traitor,”
a “red-handed butcher who subsisted on people’s flesh.” Yet everyone
who meets the Dalai Lama is thoroughly disarmed by his good-natured warmth
and by a charisma all the stronger for being so gentle.
To
an outsider, the life of a living Buddha can seem a profoundly lonely one.
In recent years, moreover, nearly all the people closest to the Tibetan
ruler; his senior tutor, his junior tutor, his mother and the elder brother,
who in youth was his only playmate, have died. Yet this, like everything
else, the Dalai Lama takes in the deepest sense, philosophically. “Old
friends pass away, new friends appear,” he says with cheerful matter-of-factness.
“It’s just like the days. An old day passes, a new day arrives. The
important thing is to make it meaningful; a meaningful friend or a meaningful
day.”
Source:
Sidney Piburn (1993), The Dalai Lama, A Policy of Kindness, Snow Lion Publications,
Ithaca, New York, USA