4
SỨC
MẠNH CỦA LÒNG TỪ
Bài
do Michael Toms phỏng vấn Đức Đức Đạt Lai Lạt Ma
Lời
dẫn: Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Tenzin Gytso, một dòng
các vị quốc trưởng Phật Giáo hóa thân của Tây Tạng, có
từ thế kỷ thứ 14, là một nhà lãnh đạo tinh thần hiện
đại, người đã biểu lộ ý thức và sự quan tâm sâu xa
đến những vấn đề xã hội ngày nay. Sinh ra trong một gia
đình nông dân, vào năm lên hai tuổi, ngài được công nhận
là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, vốn là vị
tiền nhiệm của ngài, theo truyền thống Tây Tạng. Đức Đạt
Lai Lạt Ma được xem là nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo
và tâm linh của nhân dân Tây Tạng.(Hình
bên: Michael Toms, người thực hiện cuộc phỏng vấn này)
Không
giống các vị tiền nhiệm của mình, ngài đã đi nhiều nơi
ở thế giới Tây Phương, gặp các nhà lãnh đạo tôn giáo
cũng như thế tục ở Tây Úc, Bắc Mỹ, Liên Xô và Á Châu.
Trong những chuyến du hành ở các nước, ngài đã mạnh mẽ
vận động sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các
tôn giáo. Ngài đã tham dự vô số lần những buổi hội nghị
liên tôn, chia sẻ thông điệp về bổn phận toàn cầu, tình
yêu và lòng từ bi. Từ chuyến viếng thăm Tây Phương lần
đầu tiên, tiếng tăm của ngài như một học giả và một
sứ giả của hòa bình đã gia tăng đều đặn. Các đại học
và học viện Tây Phương đã trao tặng ngài nhiều giải thưởng
hòa bình và bằng tiến sĩ danh dự khi công nhận những cuốn
sách xuất sắc và triết lý Phật Giáo của ngài, cũng như
sự lãnh đạo của ngài trong việc phụng sự cho lý tưởng
tự do và hòa bình.
Vào
ngày 5 tháng mười năm 1989, ngài được trao giải Nobel về
hòa bình. Ủy ban Nobel tuyên bố “Đức Đạt Lai Lạt Ma đã
kiên định chống lại việc dùng võ lực. Ngài ủng hộ giải
pháp không bạo động trên sự khoan dung và tôn trọng lẫn
nhau”. Đối với người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma
là hiện thân tín ngưỡng của họ, là biểu tượng có tính
cách quốc gia của họ, và là niềm hy vọng dành lại nền
độc lập tự do của họ. Đối với thế giới, ngài là người
được ủng hộ và kính trọng một cách thành tâm vì lòng
từ bi, công lý và hòa bình thế giới của ngài.
Trước
khi nhận giải Nobel hòa bình ít lâu, ngài đến thăm Trung Mỹ
và Costa Rica lần đầu tiên và tham dự cuộc hội nghị liên
tôn quan trọng lần đầu tiên được tổ chức ở Trung Mỹ.
Tại hội nghị “Tìm ý nghĩa đích thực của hòa bình”,
Ngài là một diễn giả chính cùng với Tổng Thống Oscar Aricas
của Costa Rica, người cũng được tặng giải thưởng Nobel
hòa bình. Trong hội nghị này Michael Toms (Sáng lập viên và
giám đốc New Dimension Radio ở California, USA) đã phỏng vấn
ngài tại một nữ tu viện Ky Tô Giáo, nơi ngài lưu trú, ngoại
ô thủ đô San Jose, Costa Rica.
Michael
Toms: Ngài có cảm tưởng gì về Costa Rica?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Tôi thấy đất nước này rất đẹp.
Người dân ở đây có vẻ không vội vã như ở New York và
những nơi khác. Quốc gia này không có lực lượng quân sự,
không sản xuất vũ khí. Tôi nghĩ rằng những điều này rất
quan trọng, vì mọi người ở đây có đủ tư cách để nói
về hòa bình, giải trừ quân bị, cố gắng giảm sản xuất
vũ khí và ngừng thi đua võ trang. Tôi thực sự cảm phục
vì họ đã có đường lối này từ thập niên bốn mươi.
Lúc đó tôi không thấy ai thực hiện loại ý tưởng này.
Như ông cũng biết, sự việc rất phức tạp vào lúc đó trong
thập niên bốn mươi và thập niên năm mươi, trong thế chiến
thứ hai. Vì vậy điều này gây nhiều ấn tượng cho tôi.
Tôi cảm thấy chúng ta có thể học nhiều điều từ kinh nghiệm
của quốc gia này.
Michael
Toms: Ngài nghĩ gì về việc Phật Giáo cống hiến cho đời
sống con người trong thời đại này? Phật Giáo mang lại những
gì cho chúng ta ngày nay?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Tôi nghĩ rằng Phật Giáo cũng như
bất cứ tôn giáo nào khác, có những tiềm năng để đóng
góp, chính yếu là qua an lạc nội tâm và bằng việc thay đổi
quan niệm sống của chúng ta đối với người khác và đối
với môi trường. Tôi nghĩ đó là những gì mà Phật Giáo
có thể đóng góp. Một điều đặc biệt quan trọng của Phật
Giáo là lý thuyết giải thích về sự sống. Mọi sự vật
có tính cách tương đối. Mọi sự vật đều tùy thuộc lẫn
nhau. Đó là cách nhìn thế giới rất lợi ích cho chúng ta.
Nền kinh tế hiện đại là một thí dụ rất điển hình về
sự tùy thuộc vào nhau. Hôm nọ tôi ăn trưa với Đức Tổng
Giám Mục của quốc gia này. Ngài nói rằng ở đây người
ta trồng chuối để bán sang Hoa Kỳ, còn Hoa Kỳ thì xuất
cảng lúa mì sang quốc gia này. Đó là một sự trao đổi với
nhau và mọi thứ khác trên đời này cũng luôn tùy thuộc vào
nhau như vậy đó.
Một
phương diện khác của triết lý Phật Giáo mà tôi nghĩ có
sự quan trọng đặc biệt là ý tưởng sự vật có tính chất
tương đối. Thượng Đế luôn luôn được tìm thấy ở khoảng
giữa trắng và đen hay ở giữa tốt và xấu. Người ta không
thể nói: “Đây là kẻ thù của mình” và thấy kẻ thù
đó xấu một trăm phần trăm. Người ta cũng không thể nói:
“đây là bạn của mình” và thấy người bạn đó tốt
một trăm phần trăm. Không thể có như vậy được. Về căn
bản thì hai trường hợp này chỉ là một. Cách quán xét sự
việc như vậy giúp rất nhiều cho người ta giảm bớt sân
hận. Tôi luôn luôn nói “hãy nói chuyện với mọi người”.
Các nhà tôn giáo không nên chỉ nghĩ đến việc truyền bá
tôn giáo của mình mà nên nghĩ đến việc họ có thể đóng
góp bao nhiêu cho loài người.
Michael
Toms: Ngài thấy thế nào về việc giao tiếp và mối liên hệ
giữa Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo ở xứ này và thế giới
Tây Phương nói chung?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Có thể nói mối liên hệ giữa các
tôn giáo trong mấy năm qua đã được cải thiện nhiều, đặc
biệt là giữa Phật Giáo Tây Tạng và Thiên Chúa Giáo. Hai
bên có mối liên hệ thân mật hơn nhiều. Hai bên đã có sự
hiểu biết sâu xa hơn nhiều. Đức Giáo Hoàng John Paul đệ
nhị và tôi đã có dịp thảo luận với nhau về điều này.
Tôi cũng đã thảo luận vấn đề này với nhiều nhân vật
quan trọng khác trong cộng đồng Thiên Chúa và Tin Lành Giáo.
Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã gây dựng những mối liên hệ
rất tốt và thân mật. Và như vậy rất hữu ích cho việc
học hỏi lẫn nhau. Chúng tôi đã học được nhiều điều
từ truyền thống Thiên Chúa Giáo, vốn rất có lợi ích và
thực tế. Đồng thời, các huynh đệ bên Thiên Chúa Giáo cũng
học được một vài pháp tu của Phật Giáo để sử dụng
trong đời sống, như pháp từ bi và tha thứ, liên quan đến
sự chú tâm và luyện tâm. Đó là Samatha hay thiền định,
pháp trụ tâm. Pháp tu này trong Phật Giáo, trong triết lý Đông
Phương, vẫn còn là một truyền thống sống động và hiệu
quả. Tôi nghĩ rằng điều này có ích lợi cho một số hành
giả Thiên Chúa Giáo của chúng ta.
Michael
Toms: Vào năm 1968, Thomas Merton đến thăm Á Châu, đó là chuyến
viếng thăm đầu tiên của ông ở ngoài Hoa Kỳ. Ông ấy là
một tu sĩ Thiên Chúa Giáo rất chú ý đến Phật Giáo Tây
Tạng. Ngài nhớ điều gì về cuộc gặp gỡ của với Thomas
Merton?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Đó là một cuộc gặp gỡ rất thú
vị. Và cũng do gặp được ông ấy mà sự hiểu biết của
tôi về Thiên Chúa Giáo đã mở rộng, tôi thực tâm kính trọng
hơn nữa đối với các hành giả Thiên Chúa Giáo và sự đóng
góp của họ cho nhân loại. Tôi xem Thomas Merton là chiếc cầu
vững chắc nối liền Đông và Tây. Từ khi ông qua đời đột
ngột, tôi cảm thấy mình phải chịu một sự mất mát lớn
lao. Tôi nghĩ ông ta đã đóng góp nhiều cho sự hiểu biết
và liên hệ thân mật giữa Phật Giáo Tây Tạng và Thiên Chúa
Giáo.
Michael
Toms: Ngài đã nói về lòng từ bi sản sinh ra sự can đảm
nội tâm và an lạc nội tâm. Ngài có thể giải thích thêm
về điều này không?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Từ bi là quan tâm đến người khác,
đến toàn thể chúng sanh. Và từ bi không phải chỉ là đồng
cảm hay thương hại, mà là ý muốn làm một việc gì đó
để giúp đỡ. Từ bi mở rộng tâm trí của chính bản thân
và của người khác. Từ bi tự động phát sinh cảm giác thấy
rằng người khác là một phần của chính mình. Tôi nghĩ rằng
những điều này rất ích lợi cho chúng ta. Với lòng từ bi
thì không có rào cản; sự lo sợ và nghi ngờ được giảm
thiểu, chính vì thế mà bạn có thêm can đảm và ý chí.
Michael
Toms: Nhiều người cảm thấy hoang mang và như bị dồn ép
khi họ nhìn ra thế giới bên ngoài với bao nhiêu vấn đề
rắc rối. Họ cảm thấy rằng mình không thể làm gì được.
Làm sao một cá nhân nhỏ bé có thể tạo một sự thay đổi
trong một thế giới với quá nhiều rắc rối? Ngài có gì
để nói về điều này chăng?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Những vấn đề của thế giới ngày
nay không phải đột ngột phát sinh. Chúng có thể đã xuất
hiện từ hai năm trước cho đến hai thế kỷ trước, và rồi
ngày hôm nay nó đưa đến chỗ chúng ta. Vậy điều cần phải
làm bây giờ là giảm thiểu hay giải trừ những vấn đề
của chúng ta, và việc này có thể cũng mất khoảng một trăm
năm. Cần phải có thời gian, vì tính chất của sự thay đổi
là trải qua thời gian. Về căn bản thì nhiều chuyện xấu
này chính yếu là do con người tạo ra. Nếu không muốn những
vấn đề này tồn đọng, chúng ta phải cố gắng thay đổi
chúng. Không có người nào khác ở đây để lo cho chúng, mà
chính mỗi người chúng ta phải đối diện với vấn nạn
ấy. Không có cách nào khác. Mỗi cá nhân phải khởi sự.
Trước hết là một người, rồi những người khác tham dự,
cho đến khi có hàng trăm, hàng ngàn người. Sau cùng là xã
hội loài người, cộng đồng nhân loại. Một sự thay đổi
lớn sẽ không diễn ra vì nỗ lực của một cá nhân, mà chỉ
có thể có được bằng nỗ lực phối hợp của nhiều cá
nhân.
Michael
Toms: Ngài thấy sao về những gì xảy ra ở Trung Quốc vào
tháng sáu năm 1989 có liên quan đến những gì xảy ra ở Tây
Tạng? Ngài thấy sao về tương lai của Tây Tạng liên quan
đến biến động đó.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Trong lúc này chính phủ Trung Quốc
có chính sách cứng rắn nên chính sách của Tây Tạng cũng
vậy. Nhưng có một cái gì khác so với những gì diễn ra ở
Trung Quốc. Tôi nghĩ đó là một sự kiện quan trọng trong
lịch sử của chúng tôi. Một điều gây ấn tượng cho tôi
là mặc dù nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là các sinh viên,
đã được nuôi dưỡng và được giáo dục trong xã hội cộng
sản, vốn có tính bạo động, nhưng họ đã thành tâm và
nghiêm chỉnh làm theo chủ trương bất bạo động của Mahatma
Gandhi. Đó là một điều rất đáng chú ý. Đối với tôi
điều này đã chứng minh rằng bất bạo động gần với bản
tính của con người, hay tinh thần con người hơn là những
gì mà người ta thường nghĩ.
Sinh
viên Trung Quốc hoàn toàn bất bạo động trong khi đòi hỏi
có thêm tự do dân chủ và bớt tham nhũng. Tôi thấy điều
này quá đẹp. Và dù trong lúc này họ thua, nhưng tôi nghĩ
rằng họ đã gây chấn động lớn lao trong lòng người dân
Trung Quốc. Với tinh thần mạnh mẽ và động lực thành tâm
của họ, tôi nghĩ đây chỉ là vấn đề thời gian trước
khi ý nguyện của họ thành tựu. Và tôi cầu nguyện cho mục
tiêu của họ. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới.
Là tu sĩ Phật Giáo, khi tôi cầu nguyện cho chúng sinh, như
vậy, một phần lớn sự cầu nguyện của tôi bao gồm cả
Trung Quốc, và vì nước này có dân số lớn nhất. Ngay cả
những chuyện nhỏ cũng có thể có hiệu ứng trong xứ đó,
vì nó ảnh hưởng đến nhiều người như vậy – hơn một
tỷ sinh linh.
Michael
Toms: Trên đây là cuộc phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma được
thực hiện ở Costa Rica vào tháng sáu năm 1989. Rồi đến tháng
mười năm 1989 ngài đã dẫn đầu đoàn tụng niệm trong lễ
Lhasang truyền thống của Tây Tạng có mục đích cầu phước
cho địa phương. Lễ được cử hành trên núi Tamalpais, thị
trấn Marin, thuộc miền bắc San Francisco, tiểu bang California,
Hoa Kỳ. Có nhiều người nói rằng thiệt hại do động đất
gây ra ở vùng vịnh San Francisco ít hơn đáng kể so với khả
năng tàn phá của nó là vì có cuộc viếng thăm của ngài
ngay trước khi vụ động đất xảy ra.
Tôi
đã có cơ hội hỏi ngài một câu hỏi trong một cuộc họp
báo được tổ chức ngay sau buổi lễ Lhasang. Tôi hỏi ngài
về sự đến với nhau giữa Đông và Tây, và điều này thực
sự có ý nghĩa gì?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma: Như tôi đã nói trước đây, những
việc này là một sự thay đổi rất tốt, một sự phát triển
tích cực. Ở một giai đoạn nào đó trong sự phát triển
của một xã hội, một chế độ độc đoán, cứng rắn, có
thể hoạt động tốt. Một thí dụ về điều này là cuộc
cách mạng Nga diễn ra và một cuộc cách mạng cộng sản Trung
Hoa. Trong một thời gian nào đó nó vận hành tốt. Nhưng tôi
nghĩ rằng dù chế độ hay lý tưởng này có tiềm năng xuyên
phá chế độ trước nó, nhưng nó có rất ít để cống hiến
như một lối sống mới có ý nghĩa. Đối với tôi, lý do
rất rõ ràng. Những phong trào cách mạng này phát xuất chính
yếu từ sự thù ghét chứ không phải từ tình yêu.
Cố
nhiên, loài người ngày nay có những tiến bộ về tình thương
đồng loại và quan tâm lẫn nhau. Đối với những người
lao động và những người ít quyền lợi, những tiến bộ
này có thể có vẻ rất tốt. Nhưng hãy so sánh sự thù ghét
và quyền lực với tình thương yêu, so sánh lực thù ghét
với sức mạnh của lòng từ bi. Tôi nghĩ rằng lực thù ghét
có thể là sáu mươi, bảy mươi hay tám mươi phần trăm, còn
lòng từ bi chỉ là hai mươi hoặc ba mươi phần trăm. Vì vậy
sự việc không thể hoạt động bình thường được. Và bây
giờ chúng ta thấy có những người đang nhận thức được
tình trạng này. Người ta bắt buộc phải thay đổi hoặc
bắt buộc phải chấp nhận thực tại theo tính chất như thật
của nó. Đó là lịch sử loài người.
Tôi
xem thế kỷ 20 là một trong những thế kỷ quan trọng nhất
trong lịch sử loài người. Trong thế kỷ này chúng ta thu được
nhiều kinh nghiệm, tốt cũng như xấu. Rốt cuộc, tôi nghĩ
rằng loài người đã có nhiều đầu óc phân biệt hơn, biết
nhận xét sự việc đúng hơn. Khi sự việc trở nên quá nguy
hiểm, rắc rối và đáng sợ, điều này làm cho con người
phát triển ý thức của mình, Vụ thả bom nguyên tử đã đánh
thức ước vọng hòa bình thế giới của loài người. Sau
thế chiến thứ hai nhiều người nghĩ rằng một thế chiến
thứ ba sẽ xảy ra, không thể tránh được. Nhưng vì mối
đe dọa của vũ khí hạt nhân nên người ta có ý thức nhiều
hơn. Và đó là hy vọng của chúng ta.
Về
môi trường thì cũng giống như vậy. Chúng ta thấy môi trường
đang bị phá hủy. Dấu hiệu của sự phá hủy này đã xuất
hiện. Điều này cũng giúp loài người phát triển ý thức.
Đối với lãnh vực tôn giáo, tôi cũng cảm thấy ý thức
con người đang gia tăng. Nhân danh những tôn giáo khác nhau,
con người đã chịu đau khổ và gây nhiều đau khổ cho nhau.
Bằng việc gây dựng ý thức về các tôn giáo khác, chúng
ta có thể mở mắt và mở tâm của mình ra để khoan dung nhìn
vào thông điệp của các tôn giáo khác nhau.
Lời
kết: Đức Đạt Lai Lạt Ma là khuôn mẫu từ bi cho mỗi
người chúng ta. Đây là một người đã mất gia đình, bạn
bè và tổ quốc của mình – hơn một triệu người Tây Tạng
đã mất mạng từ khi người Trung Quốc chiếm đóng vào năm
1959 – và điều này đã xảy ra với một quốc gia chỉ có
dưới năm triệu dân, nhưng ngài vẫn nêu gương những điều
lý tưởng mà ngài vẫn nói với chúng ta.
Với
một xã hội toàn cầu như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma
cũng nói về sự quan trọng của việc nhận ra tính đồng
nhất ở bên trong tất cả mọi người, không phân biệt tôn
giáo, chủng tộc hay địa vị xã hội của họ. Rõ ràng là
nhận thức này bắt đầu trở nên quen thuộc với mỗi chúng
ta. Khi chúng ta biết thực hành tâm từ bi nhiều hơn trong đời
sống hằng ngày của mình thì thế giới cũng sẽ đổi thay.
Source:
Michael Toms (1998) Buddhism in the West, New Dimensions, Hay House, California,
USA
4
THE
POWER OF COMPASSION
The
Dalai Lama and Michael Toms
PROLOGUE
His
Holiness Tenzin Gyasto, 14th Dalai Lama in a line of incarnate Buddhist
monarchs dating back to the 14th century, is a modern spiritual leader
who manifests an acute awareness and concern for contemporary social issues.
Born to a peasant family, his Holiness was recognized at the age of two,
in accordance with Tibetan tradition, as the reincarnation of his predecessor,
the 13th Dalai Lama. The Dalai Lama is the political, religious, and spiritual
leader of the Tibetan people.
Unlike
his predecessors, his Holiness has traveled extensively in the Western
world, meeting with major religious and secular leaders in Western Europe,
North America, the Soviet Union, and Asia. During his travel abroad, his
Holiness has spoken strongly for better understanding and respect among
different faiths. He has made numerous appearances at interfaith services,
imparting the message of universal responsibility, love, compassion, and
kindness. Since his first visit to the West, his Holiness’ reputation
as a scholar and a man of peace has grown steadily. Western universities
and institutions have conferred peace awards and honorary doctoral degrees
upon him in recognition of his distinguished writing and Buddhist philosophy,
and for his leadership in the service of freedom and peace.
On
October 5, 1989, his Holiness was awarded the Nobel Peace Prize. The Nobel
committee states that “the Dalai Lama…consistently has opposed the
use of violence. He has instead advocated peaceful solutions based upon
tolerance and mutual respect.” To Tibetans, the Dalai Lama is the embodiment
of their faith, the symbol of their national identity, and their hope for
freedom. To the rest of the world, his Holiness is a devoted and highly
respected advocate of universal compassion, justice, and peace.
Shortly
before receiving the Nobel Peace Prize, his Holiness visited Central America
and Costa Rica for the first time and participated in the first major interfaith
gathering ever to be held in Central America. He was a keynote speaker
along with President Oscar Arias of Costa Rica, also a Nobel Peace Prize
laureate, at the “Seeking the True Meaning of Peace” conference. It
was during this conference that I had the rare opportunity to have a private
interview with his Holiness, at a convent of Catholic nuns where he was
staying outside of San Jose, Costa Rica.
MICHAEL
TOMS: What are your impressions of Costa Rica?
THE
DALAI LAMA: What I have seen of the country itself is very beautiful.
Its people, it seems, are not rushing as in New York and other places.
This country has no military forces, no production of military equipment.
These things, I think, are very important, as everyone talks about peace
and disarmament, trying to reduce arms production, and arms competition.
I really was impressed when they instituted this practice in the ‘40s.
At that time, I saw no one else practicing this kind of idea. And also,
you see, things were very complicated at that time, in the 1940s and 1950s,
during World War II. So I am very impressed. And I feel that we could learn
many things from this country’s experience.
What
do you think Buddhism offers people that live in these times? What do you
think that Buddhism brings to us today?
I believe
that Buddhism, as with any other religion, has some potential to contribute,
mainly through mental peace and by changing our outlook on life in terms
of our neighbors and our environment. So that, I think, is what Buddhism
can contribute. One special significance of Buddhism is the theoretical
explanation of existence. Things are relative. Things are interdependent.
That is a very helpful way to look at the world. For example, the modern
economic structure itself is a very good example of interdependency, isn’t
it? It is heavily interdependent. I was at lunch the other day with the
Archbishop of this country, and he mentioned that they produce bananas
here and sell them to the United States. And this country buys U.S wheat.
It is an exchange; things are dependent on one another.
Another
aspect of Buddhist philosophy that I think has some special significance
is the idea of things being relative. God is always found somewhere between
black and white or between negative and positive. You cannot say, “This
is my enemy,” and see that enemy as 100 percent negative. Nor can you
say, “This is my friend,” and see the friend as 100 percent positive.
That is impossible. Basically, this is the same situation. It is that kind
of attitude that is very helpful in reducing hatred. I always say, “Talk
to people.” Religious people should not think only of how to propagate
their religion, but also of how much they can contribute to humanity.
How
do you see the connection and the relationship between Buddhism and Christianity
here and in the rest of the Western world?
Generally,
the relationship among various religions during the last few years is much
improved- particularly between Tibetan Buddhism and Christianity. They
have a much closer relationship: a much deep understanding has developed.
The present Pope and I have had several occasions to discuss this. And
I’ve also discussed this with many other important figures in the Catholic
and Protestant communities. I think we’ve developed very positive, close
relationships. And that is very helpful to mutual learning. We have learned
many things from Christian brothers and sisters and they have also learned
some new techniques from us. For example, there is the practice of love
and compassion and forgiveness. There is also a certain Buddhist technique
adopted or utilized that involves concentration, or discipline. It is the
Shamata, the one-pointedness of mind. That practice in Buddhism, in Eastern
philosophy, is still a living tradition. It is something that I think is
useful for some of our Christian practitioners.
In
1968, Thomas Merton came to Asia on his first visit out of the States.
You had a chance to meet with him. He was a Catholic Trappist monk who
was very interested in Tibetan Buddhism. What do you remember of your meeting
with Thomas Merton?
That
was a very pleasant meeting. And also, due to meeting with him, my understanding
of Christianity was expanded, adding to my genuine respect for Christian
practitioners and their contribution to humanity. I consider Thomas Merton
a very strong, solid bridge between East and West. Since his sudden death,
I’ve felt a great loss. I think he made one big contribution regarding
a closer understanding and relation between Christians in general, and
Catholics in particular, and Tibetan Buddhists.
You
have spoken about compassion and love producing an inner courage and inner
peace. Could you explain?
Compassion
is a concern for people, for other sentient beings. And it is not merely
a feeling of sympathy and pity, but a desire to do something to help. That
is the kind of compassion that opens one’s mind and one’s self to others.
It automatically develops a feeling that the other is part of you. And
I think that helps. You see, there is no barrier; fear and suspicion are
reduced. That in turn, gives you courage and will.
Many
people feel overwhelmed and oppressed when they look at the external world
and its many problems. They feel unable to do anything. How can one small
individual make a difference in a world with so many problems? What do
you have to say to that?
Today’s
problems did not spring up overnight. It could be anywhere from two years
to two centuries that brought these problems where they are today. So now,
the issue is to reduce or eliminate our problems, which may also take 100
years. It takes time; that’s the nature of change. Basically, many of
these negative things are essentially man-made. If we do not want these
things to exist, we have to make an effort to change them. No one else
is here to take care of them. We have to face them ourselves. There is
no other choice. But the initiative must come from the individual. First
there is one individual, then another joins, then a third person joins,
until there are 100, then 1,000. After all, human society, human community,
means a group of individuals. A big change will not take place because
of one individual effort, but by the combined efforts of individuals.
How
do you see what went on in China in June 1989 in relation to what has been
going on in Tibet? How do you see the future of Tibet relative to that
unrest?
For
the time being, because the Chinese government practices hard-line policy,
it is Tibetan policy, too. But there is something else going on in China.
Something really great, I think, of historical importance. One thing that
impresses me is that although the Chinese people, particularly the students,
are brought up and educated in the communist society, which is of a violent
nature, the people sincerely and strictly follow Mahatma Gandhi’s teachings
of non-violence. That is something really remarkable. This is a kind of
confirmation for me, that non-violence is much closer to basic human nature,
or human spirit, than is generally credited.
They
were completely nonviolent in their demands for more freedom, more democracy,
and less corruption. That, also, I think, is very beautiful. And although
for the time being they lost, I think they made a great impact in the Chinese
people’s mind and on the world outside, too. Because of their strong
human spirit and sincere motivation, it is only a question of time, I think,
until their wish will be fulfilled. And I pray for their goal. China is
the most populated nation in the world. As a Buddhist monk, when I pray
for all sentient beings, that means a greater part of my prayer includes
China because it has the largest population. Even small things can have
a big effect in that country, because it affects so many people- more than
a billion human souls.
MICHAEL
TOMS: That interview took place with the Dalai Lama in Costa Rica in June
1989. In October 1989, his Holiness led the chanting during the performance
of a traditional Tibetan Lhasang ceremony designed to heal the environment.
This ceremony was performed atop Mt. Tamalpais in Marin County just north
of San Francisco. There are those who claim that the earthquake damage
to the Bay area was considerably less that it might have been because of
his Holiness’ visit just prior to its occurrence.
I
had the opportunity to ask his Holiness a question at a press conference
held immediately following the Lhasang ceremony. I asked him about the
coming together of East and West and what that really means.
THE
DALAI LAMA: As I mentioned earlier, these things are a very positive
change, a positive development. At a certain stage in a society’s development,
an authoritarian, very rigid system may work. An example of that might
be when the Russian Revolution took place and the Chinese Communist Revolution
took place. For a certain period of time, it worked. But I believe that
even though this system or ideology had the potential to break through
the existing system, it has very little to offer as a new, meaningful way
of life. The reason, to me, is quite clear. These revolutionary movements
mainly come from hatred, not from love.
Of
course, there are advances and a certain kind of love and concern involved.
As far as working-class people and less-privileged people are concerned,
the advances can seem very good. But compare the hate and energy of power
with the energy of love. Compare the force of hatred with the force of
compassion. I think the hatred force may be 60, 70, or perhaps 80 percent
and only 20 to 30 percent compassion. Therefore, things cannot work properly
and now we are seeing people who are realizing this situation. People are
either compelled to change or compelled to accept things as they are. That’s
human history, right?
I consider
the 20th century one of the most important in human history. Within this
century, we’ve gained many experiences, positive as well as negative.
As a result, I think humanity has become more discerning. When things become
so dangerous and delicate and fearful, that helps develop human awareness.
It took the nuclear attack, so awful, so powerful, to wake up the desire
for world peace. After World War II, many people thought a third world
war would inevitably. But because of the nuclear threat, people developed
their awareness. So that is hopeful.
The
same is true with the environment. We see that it is damaged. The signs
of damage are already there. Again, that helped develop human awareness.
In the religious field also, I feel that human awareness is being developed.
In the name of different religions, human have suffered and inflicted great
misery. By developing an awareness of other religions, we can open our
eyes, our minds, and look with tolerance at the message of different religions.
EPILOGUE
The
Dalai Lama serves as a model of kindness and compassion for each of us.
Here is a man who has lost friends, family and his nation (more than one
million Tibetans have lost their lives since the Chinese takeover in 1959,
and this from a nation with less than a population of five million), yet
he still exemplifies the ideals he speaks about.
In
an emerging global society, the Dalai Lama also addresses the importance
of recognizing the sameness inherent in all human beings, whatever their
religion, race, or status in society. It’s clear that this realization
begins at home for each of us. As we are able to practice more kindness
and compassion in our daily life, so too will the world change.
Source:
Michael Toms (1998) Buddhism in the West, New Dimensions, Hay House, California,
USA