7
Hành
Hương Chiêm bái Phật Tích Ấn Độ
Viếng thăm
và đảnh lễ Đức Đạt Lai Lạt Ma
tại Dharamsala,
miền bắc Ấn Độ
Như
chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành
hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức
đã lên đường đúng vào ngày 7-11 và đã về đến Úc an
toàn vào ngày 29-11-06 sau hai mươi hai ngày chiêm bái. Phái đoàn
do Đại Đức Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu
An Hậu Tony Thạch (giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn
cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth
và 5 đến từ Texas, Cali, Mỹ Quốc. Thực ra đã có đến 65
người đăng ký tham dự chuyến đi này, nhưng giờ phút chót
gặp chướng duyên như ngã bệnh, người thân mất, không đủ
tài chánh… nên đã cancel trong sự nuối tiếc, mong rằng trong
tương lai Tu Viện sẽ tổ chức những chuyến đi chiêm bái
khác, để những Phật tử này cùng tham dự. Vì rằng trong
Kinh Đại Niết Bàn, Phật từng dạy:“Sau khi ta diệt độ,
nếu các thiện nam tín nữ có đạo tâm nghĩ tưởng đến
Như Lai, cách hay nhất là đến chiêm bái bốn động tâm quan
trọng nhất, đó là vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật đản sinh;
Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Phật thành đạo; vườn Lộc Uyển,
nơi Phật chuyển pháp luân và Câu Thi Na, nơi Phật nhập niết
bàn. Nếu ai đến bốn nơi này thành tâm chiêm bái và đảnh
lễ sẽ được nhiều phước báu như được gặp lại chính
Như Lai vậy, và cũng nhờ công đức này mà sau khi mạng chung,
người ấy sẽ được tái sanh vào cảnh giới an lành”. Quả
thật vậy, đích thân đến chiêm bái tứ động tâm tại Ấn
Độ là ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật, và
nay ước mơ đó đã biến thành sự thật cho 51 người trong
phái đoàn này. Ngay trong ngày đầu tiên, phái đoàn đã góp
lại một số tiền là $20.000 Úc Kim, $1.200 Mỹ Kim cùng với
$1000 Úc kim do quý Phật tử ở nhà gởi cúng, tất cả số
tiền này được chia đều cúng dường tất cả các nơi mà
phái đoàn đến chiêm bái và đảnh lễ. Phái đoàn đã tuân
thủ đúng theo giờ giấc quy định: 4-5-6, có nghĩa là thức
chúng 4 giờ sáng, 5 giờ điểm tâm và 6 giờ lên xe, dường
như hầu hết thời gian ở Ấn Độ phái đoàn đều áp dụng
đúng thời khóa này, dù khó khăn cho nhiều đệ tử, thức
khuya dậy sớm không nỗi, nhưng rồi mọi thứ đều đi qua
nhẹ nhàng, vì tất cả đều hiểu rằng mình đi chiêm bái
Phật tích chứ không phải đi nghỉ mát, vả lại từ Phật
tích này đến phế tích khác cách nhau quá xa, nếu ngủ quá
ngon giấc, thức dậy quá trưa, khởi hành trễ thì đến nơi
sẽ quá tối, sẽ rất nguy hiểm nếu phái đoàn về đến
nơi trời sụp tối... Phái đoàn phải thành kính trân trọng
biết ơn 4 vị tài xế người Ấn Độ, được xem là những
tài xế giỏi nhất thế giới, họ lái xe bus cũng như lái
xe đạp, quá ư nguy hiểm, nhưng không gây tai nạn, nhiều người
cho rằng vì cuộc sống của họ quá nghèo khổ, họ không
màng nghĩ đến tương lai, chỉ chú ý cao độ để kiếm sống
trong giờ phút hiện tại, chính vì thế mà họ đạt được
mức độ tập trung và tỉnh giác ngay trong giờ phút hiện
tại để không gây ra bất cứ tai họa nào cho mình và cho
người khác.
Sự
thành tựu của chuyến đi hành hương này, phái đoàn phải
cảm niệm tri ơn đến sự cố vấn của TT Tâm Phương, Trụ
Trì Tu Viện Quảng Đức, người đã quan tâm, nhắc nhở để
mọi việc trong chuyến diễn ra thông suốt và nhẹ nhàng. Phái
đoàn cũng cảm ơn Đạo hữu Diệu An, đã làm bảng tên/nametag
và Đạo hữu Thiện Lý đã vẽ tấm băng rôn để phái đoàn
chụp hình lưu niệm, đánh dấu những ngày ngắn ngủi không
bao giờ quên trên xứ Phật.
Phái
đoàn đã viếng thăm và đảnh lễ đầy đủ 4 Phật tích
quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật, đó là Vườn
Lâm Tỳ Ni (Lumbini), nơi Phật đản sanh, nằm gần thị trấn
Siddharth Nagar, tiểu quốc Nepal; Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya),
nơi Phật thành Đạo tại tiểu bang Bihar, Ấn Độ; Vườn
Nai Lộc Uyển (Sarnath), nơi Phật nói bài Pháp đầu tiên, nay
thuộc tiểu bang Uttar Pradesh và đặc biệt là Câu Thi Na (Kushinagar),
nơi Đức Phật nhập Niết bàn. Ngoài bốn thánh tích trên,
phái đoàn đã lần lượt đến tận nơi, thấy tận mắt và
đảnh lễ chiêm bái nhiều thánh tích khác như: Linh Thứu Sơn,
nơi Phật thuyết Bát Nhã Kinh 22 năm, Kỳ Viên Tịnh Xá tại
thành Xá Vệ, Bảo Tháp tưởng niệm nơi trà tỳ kim thân Đức
Phật, Bảo Tháp thờ Xá Lợi Phật (do Vua A Xà Thế xây dựng),
Bảo Tháp thờ Tôn Giả A Nan (thành Tỳ Xá Ly), Bảo Tháp thờ
Tôn Giả Vô Não (Angulimala), Bảo Tháp tưởng niệm Trưởng
giả Cấp Cô Độc, Bảo Tháp tưởng niệm nàng Tu Xà Đa (người
dâng bát sữa cúng Phật), nơi giam giữ Bình Sa Vương, Khổ
Hạnh Lâm, nơi Phật tu tập 6 năm, Vườn Thuốc của danh y
Kỳ Đà; Cô nhi viện Tu Xà Đa (Sujata) tại Khổ Hạnh Lâm,
Phóng Sanh và ngắm mặt trời mọc trên sông Hằng. Phái đoàn
cũng đã viếng thăm và cúng dường 5 ngôi chùa VN trên đất
Phật như: Chùa Việt Nam Phật Quốc ở Lâm Tỳ Ni, Chùa Linh
Sơn – Lumbini; Chùa Linh Sơn – Kusinagar; Chùa Kiều Đàm Di
– Vaishaly và Trung Tâm Tu Học Viên Giác – Bodhgaya.
Ngoài
ra các Thánh Tích đã gây ấn tượng cho phái đoàn trong chuyến
đi này là Câu Thi Na, Tinh Xá Trúc Lâm, Đại Học Na Lan Đà
và Đức Đạt Lai Lạt Ma, xin ghi lại đôi dòng cảm niệm
nơi đây để chia sẻ cùng với đại chúng. Trước hết là
Thành Câu Thi Na, nơi Phật bỏ lại thân tứ đại sau khi giáo
hóa ở cõi giới ta bà này, hiện nay nơi này gọi là Kushinara
hoặc Kasia, cách thành phố Gorakhpur 55 cây số, nằm ở phía
đông tiểu bang Uttar Pradesh, cách Vườn Lâm Tỳ Ni khoảng 175
cây số, cách Bồ Đề Đạo Tràng trên 300 cây số, cách Thành
Xá Vệ 274 cây số và cách Thành Ba La Nại 170 cây số. Phái
đoàn đến đây khoảng 3 giờ chiều ngày 11-11-2006, ngày thứ
5 của chuyến đi chiêm bái. Phái đoàn xuống xe và đi kinh
hành và niệm danh hiệu Đức Bổn Sư từ ngoài cổng chính.
Cảnh trí buổi chiều nơi này rất đẹp và yên tĩnh lạ thường,
cây cối vẫn xanh tươi, nhất là những cây Sa La hiện vẫn
còn ở nơi khu rừng u tịch này. Quần thể kiến trúc khu thánh
tích này rất lạ mắt, chánh điện thờ tôn tượng Niết
Bàn có nét kiến trúc như một lâu đài hình khối ở Âu châu,
chứ không giống như một ngôi chùa có dáng dấp cổ truyền
thường thấy ở Á Đông, phía sau ngôi chánh điện là một
Bảo Tháp to lớn thờ xá lợi của Đức Phật do bộ tộc
Mallas ở nơi này xây dựng để tôn thờ, bảo tháp này được
xây kín xung quanh nên không thể vào bên trong để chiêm bái
xá lợi được. Phái đoàn kinh hành vào bên trong Chùa Đại
Niết Bàn, và vẫn tiếp tục đi nhiễu ba vòng quanh Tôn Tượng
Đại Niết Bàn, Đức Thế Tôn nằm trong tư thế kiết tường,
mặt hướng ra cửa chánh phía Nam, đầu quay về hướng Bắc,
tay phải của Ngài lót xuôi theo gò má phải, còn cánh tay trái
được đặt xuôi trên hông trái, hai chân của Ngài chồng
xếp lên nhau rất ngay thẳng, nghiêm trang. Pho tượng có chiều
dài gần 10 mét, được tôn trí trên một cái bệ hình chữ
nhật cao trên khoảng 6 tấc. Khuôn mặt của Đức Thế Tôn
rất đẹp nhưng sao buồn quá, có lẽ Người buồn cho chúng
sinh vẫn tiền lộ mang mang, vẫn điêu linh trong biển khổ
sinh tử luân hồi mà không biết đường về. Thầy trưởng
phái đoàn đã xúc động khi phủ phục năm vóc sát đất đảnh
lễ trước tôn tượng, dường như 51 đệ tử trong phái đoàn
đã khóc trong giờ phút thiêng liêng này, Thầy trưởng đoàn
đã tác bạch trước Đức Thế Tôn trong nước mắt “Đức
Phật là người đầu tiên trong loài người báo trước ngày
diệt độ 730 ngày. Quả thật vậy, năm 78 tuổi, trong một
thời pháp tại Thành Tỳ Xá Ly, Phật đã báo cho đại chúng
biết Ngài sẽ thuận theo dòng sinh diệt tương tục của thế
gian mà nhập diệt vào năm 80 tuổi. Ngài dạy rằng Phật được
kim cang thân, còn bị vô thường hoại, huống những người
thế gian, các pháp hữu vi là vô thường, các con hãy tinh tấn
tu tập để mau đạt được giải thoát. Đức Phật bắt đầu
khởi hành chuyến đi cuối cùng của đời Ngài từ núi Linh
Thứu ở thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà (nay là Bihar),
Ngài băng qua sông Hằng để đến thành Tỳ Xá Ly, tại đây
Đức Phật tham dự mùa an cư cuối cùng của đời mình cùng
với các đệ tử, sau 3 tháng kiết hạ, Đức Thế Tôn lại
lên đường đi tiếp đến Bhandagrama và Hatthigrama, khi đến
làng Pava, Ngài đã thọ thực bữa cuối, một bát cháo nấm,
do ông Thuần Đà (Cunda) cúng dường. Sau bữa ăn này Đức
Phật đã ngã bệnh, không biết có phải do bát cháo hay do
thân tứ đại của Ngài đã đến hồi phải trả về cho tứ
đại, Đức Thế Tôn đã cảm thấy pháp thể của ngài khiếm
an hơn bao giờ hết, nên Ngài phải nghỉ chân đến hai mươi
lần trước khi về đến khu rừng Sala này. Đến nơi Đức
Phật bảo Tôn giả A Nan trải ngọa cụ giữa hai cây Sala trong
khu rừng thuộc thành Câu Thi Na, đây là một trong tứ động
tâm, nơi đây từng là kinh đô của người Mallas, chính tại
nơi này Đức Phật đã thở hơi cuối cùng và đi vào cõi
giới vô dư Niết Bàn đúng vào ngày trăng tròn tháng Vaishakha
theo lịch Ấn Độ, tức là khoảng tháng tư hoặc tháng năm
theo Tây lịch. Tại nơi đây Đức Phật đã nói Kinh Di Giáo,
để lại lời di chúc cuối cùng của mình, Ngài đã ân cần
nhắc nhở hàng đệ tử rằng: “Sau khi Như Lai diệt
độ, các con phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù
tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc.
Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy.
Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy”…
“Các con phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển
biến vô thường, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn
gì cả. Ngược lại, cuộc đời như thế nên các con phải
nỗ lực tinh tấn để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí
tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mong manh,
không có một thứ chi bền bỉ. Như Lai được diệt độ thì
cũng như trừ được một căn bịnh khủng khiếp”… “các
con hãy thường nhất tâm, nỗ lực cần cầu tuệ giác giải
thoát. Toàn thể vũ trụ, dầu pháp biến động hay pháp bất
động, đều là trạng thái bất an và tan rã. Thôi, các con
hãy yên lặng, không nên nói nữa. Thì giờ sắp hết, Như
Lai muốn diệt độ”.
Sau
đó các đệ tử trong phái đoàn thành kính đồng tụng bài
Kinh Ý Nghĩa Niết Bàn và ngồi tịnh tâm mười phút quanh tôn
tượng Niết Bàn. Hình như ai cũng muốn ngồi lâu thêm một
chút nữa để được ‘nạp’ thêm chút năng lượng
từ Đức Thế Tôn, nhưng tất cả đều phải rời khòi nơi
này trong sự luyến tiếc vì phài nhường chỗ cho phái
đoàn khác vào chiêm bái. Có thể nói đây là pho tượng
Phật Niết Bàn đẹp nhất và linh thiêng nhất trên trần gian,
vì pho tượng này đã được hàng triệu đệ tử Phật khắp
năm châu bốn bể về tận nơi đây, chiêm bái và đảnh lễ,
chắc chắn vì vậy mà pho tượng có một sức mạnh vô hình
toát ra từ bên trong và phủ trùm xuống vạn vật xung quanh,
nghe nói bất cứ ai bước vào nơi chánh điện này đều rơi
nước mắt khi đảnh lễ tôn tượng, và đây là một sự
thật. Thiết nghĩ hàng Phật giáo đồ trên khắp thế giới
nên về đây một lần để đảnh lễ Đức Thế Tôn để
tưởng nhớ đến công hạnh độ sinh của Người. Và nếu
muốn tạc tôn tượng Niết Bàn để chiêm ngưỡng phụng thờ
tại quốc gia của mình, xin quý ngài, quý vị hoan hỷ vẽ
giống y như pho tượng này, vì chỉ có pho tượng tại nơi
đây mới có tư thế nằm nghiêng cát tường như lúc Đức
Thế Tôn nhập diệt cách đây đúng hai ngàn năm trăm năm mươi
năm. Có nhiều pho tượng Niết Bàn ở VN, và nhiều quốc gia
khác trên thế giới, nhất là các quốc gia như Lào, Thái Lan...
tạc tượng Niết Bàn mất vẻ oai nghiêm (với tư thế Phật
nằm nghiêng và chống tay lên gò má, chứ không để bàn tay
xuôi theo gò má như tư thế nguyên thỉ của Đức Thế Tôn
lúc thị hiện Niết Bàn tướng tại Ấn Độ). Được biết
pho tượng này đã được ngài Haribhadra, một tăng sĩ thời
Kumargupta (413-455), tức khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch,
đích thân tạc pho tượng độc đáo tuyệt mỹ này để tưởng
niệm Đức Thế Tôn. Khi nghe kể lại tình trạng bốn bức
tường gạch bên trong ngôi chùa Đại Niết Bàn này đang trong
tình trạng xuống cấp và hư hỏng, TT Thích Tâm Phương, đã
khởi phát thiện tâm muốn trùng tu bằng cách lót gạch men
hoặc tô vẽ sơn phếch lại bốn bức tường này để bảo
tồn cũng như tăng vẽ trang nghiêm cho ngôi điện Phật, chúng
tôi đang liên lạc Ban Quản Lý Phật Tích này để Tu Viện
Quảng Đức thực hiện được công việc này trên xứ Phật.
Phật
tích thứ hai gây ấn tượng là Trúc Lâm Tịnh Xá ở thành
Vương Xá, phái đoàn đến đây sau khi dùng trưa ở Khách sạn
Rajgir, nơi có một phòng phát hành Phật cụ rất đẹp nhưng
hơi đắt tiền. Tinh xá Trúc Lâm vốn là vườn thượng uyển
của Vua Tần Bà Sa La (Bimbisara/Bình Sa Vương), nhưng sau khi
quy y Tam Bảo, ông đã dâng cúng khu vườn trúc này cho Đức
Phật để làm tinh xá. Đây là tinh xá đầu tiên của PG. Đức
Phật cùng các đệ tử của mình đã trải qua ba mùa an cư
kiết hạ (từ hạ thứ nhì đến hạ thứ tư) tại khu vườn
này. Dù đã trôi qua trên hai ngàn năm trăm năm, ngày nay những
bụi trúc ở đây vẫn còn xanh tươi, hồ nước vẫn trong
vắt như ngày nào, phái đoàn đã kinh hành niệm Phật quanh
bờ hồ để tưởng niệm đến hình ảnh xưa kia của Đức
Thế Tôn và tăng đoàn sinh hoạt tại nơi này. Đặc biệt
tại thánh tích này, phái đoàn đã gặp một nhóm Phật tử
người Ấn đến từ tiểu bang Bombay cũng về đây chiêm bái,
nhóm Phật tử này đã cung thỉnh ĐĐ Nguyên Tạng viếng thăm
Bombay và họ cũng phát tâm cúng dường 5 mẫu đất để ĐĐ
Nguyên Tạng xây dựng Phật cảnh tại Bombay, nơi chưa có chùa
PG. Được biết tiểu bang Bombay hiện tại có rất nhiều người
Ấn đã trở về với PG, nhưng không có Tăng sĩ hướng dẫn,
những người con Phật nơi này rất cần được sự quan tâm
dẫn dắt của Tăng Đoàn.
Địa
điểm khác gây xúc động cho phái đoàn là Phế tích Đại
Học Na-Lan-Đà (Ruins of Nalanda University) vốn được xây dựng
vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch trên 1 khu đất
thênh thang rộng 14 mẫu, được xem là trường đại học đầu
tiên và lớn nhất thế giới. Trường đại học khổng lồ
này nằm ngoại ô thành Vương Xá (Rajgir) và nhiều bậc anh
tài Phật giáo đã được đào tạo tại nơi này như Tổ sư
Long Thọ, ngài Mã Minh, ngài Vô Trước, ngài Thế Thân, pháp
sư Huyền Trang... Đặc biệt ngài Long Thọ từng theo học và
sau đó trở thành viện trưởng tại đại học này. Thời
kỳ vàng son của Nalanda là từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ
thứ 8. Rồi thế kỷ 12, quân Hồi Giáo xâm chiếm Ấn Độ
và Đại Học Na Lan Đà không nằm ngoài mục tiêu hủy diệt
của họ, 10.000 tăng sĩ đã ngã xuống một cách bi hùng dưới
chiếc gươm lạnh lùng của họ vì tất cả thà chịu chết
chứ không yếu hèn chấp nhận cuốn kinh Koran của ngoại đạo,
máu của quý ngài đã nhuộm đỏ nền gạch và chảy thành
suối trong khắp Nalanda ngày ấy. Theo truyền thuyết thư viện
của Nalanda và tàng kinh các đã bị phóng hỏa thiêu hủy trong
ba tháng trời. Hình ảnh tang thương đó dường như vẫn còn
hiện hữu đâu đó khi phái đoàn bước chân vào thánh địa
này, có nhiều đệ tử đã bật khóc khi nhớ đến những
cái chết bi tráng bảo vệ Chánh Pháp của quý học tăng năm
xưa. Phái đoàn hành hương của Tu Viện Quảng Đức đã kinh
hành tưởng niệm đến sự hy sinh vì đạo của quý ngài năm
xưa trong niềm xúc động dâng trào. Ước nguyện đại học
Na Lan Đà sẽ có ngày phục hưng trở lại để mang ánh sáng
giác ngộ đến cho muôn loài.
Và
kết thúc chuyến đi chiêm bái ở Ấn Độ, phái đoàn đã
đến tận nơi xa xôi, đó là Dharamsala, quê hương thứ 2 của
Đức Đạt Lai Lạt Ma, đúng 9 giờ sáng ngày 18-11-2006, phái
đoàn đã tề tựu tại Dharamsala để đảnh lễ Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14, phái đoàn đã mất 2 ngày đường bằng
xe bus để đến được nơi này, Dharamsala nằm trên đỉnh
núi thuộc vùng Bắc Ấn, nên đường leo núi quá khó khăn
và nguy hiểm, nhưng nhờ có tu, nên cuối cùng phái đoàn đã
đi đến nơi về chốn an toàn. Đến đây rồi, mới hay sức
chịu đựng của Đức Đạt Lai Lạt Ma và người dân Tây
Tạng không có ngôn ngữ nào có thể diễn tả được, đường
đi đã xa xôi cách trở, chắc chắn đời sống ở đây càng
khó khăn hơn, nhưng kỳ thực Dharamsala ở đây đã trở thành
một “living holy place”, “một thánh địa sống” so với
các phế tích khác tại Ấn Độ như lời tác bạch của Thầy
trưởng Đoàn thưa với Ngài, vì nơi đây có sự hiện diện
của một Living Buddha, một vị Phật sống, nên cả thế giới,
nhất là thế giới phương Tây, đều chú ý và đổ xô về
nơi này, để chiêm ngưỡng, để tu tập, để làm từ thiện,
và cũng để chia sẻ nỗi khổ đau của người dân Tây Tạng
vốn đến tỵ nạn tại đây từ năm 1959. Phái đoàn đã có
phước duyên được vào thăm viếng và đảnh lễ Ngài như
đã book trước đây cả năm, dù vừa từ Nhật Bản về, tuy
bận rộn và mệt mỏi, nhưng Ngài đã hoan hỷ tiếp phái đoàn
đến từ phương xa, Ngài đã yêu cầu phái đoàn tụng bài
Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiếng Việt trước khi Thầy trưởng
đoàn có lời tác bạch và Ngài có lời giáo từ chúc phúc.
Trong dịp này Đại Đức Trưởng phái đoàn đã dâng tặng
đến Ngài tập sách “ Từ Bi & Nhân Cách” cũng như tập
“Kỷ Yếu Tu Viện Quảng Đức”. Phái đoàn đã cúng dường
Ngài $1000 Mỹ Kim và $1500 Úc Kim để gieo một chút phước
điền Tam Bảo với vị Hoạt Phật. Đức Đạt Lai Lạt Ma
đã tặng mỗi người trong phái đoàn một chiếc khăn trắng
Katag và một pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng mạ vàng,
ai nấy đều hoan hỷ vui mừng và được chụp lưu niệm từng
nhóm nhỏ với Ngài. Xin chắp tay nguyện cầu cho Ngài pháp
thể khinh an, mọi Phật sự của Ngài đều được viên thành
và nhất tâm cầu nguyện nền hòa bình cho dân tộc Tây Tạng
sớm thiết lập để Ngài có cơ hội được hồi hương cố
quốc sau nhiều thập niên sống lưu vong trên xứ lạ quê người.
Trên
đường về lại Úc và Mỹ, phái đoàn đã ghé lại Đài Loan
5 ngày và đã viếng thăm và chiêm bái các chùa như sau: Chùa
Huyền Trang, Trung Đài Thiền Tự, Phật Quang Sơn, Đại Phật
tại Đài Trung, Phật Đài Di Lặc Lộ Thiên, Chùa Long
Sơn, một ngôi cổ tự tại Đài Bắc; Tịnh Tông Học Hội
và Nhà Xuất Bản Phật Đà của Hòa Thượng Tịnh Không ở
Đài Bắc.
Phái
đoàn đã về đến Úc & Mỹ bình an sau 22 ngày hành hương
chiêm bái. Cuộc hành hương chiêm bái Phật tích của phái
đoàn Tu Viện Quảng Đức đến nay xem như đã thành công và
mãn nguyện. Món quà từ xứ Phật mang về đến Úc là 1 chiếc
lá Bồ Đề được thỉnh từ cội Bồ Đề và hơn mười
ngàn tấm hình để chia sẻ cho người ở nhà, tất cả đều
đã đi qua, nhưng hương vị của chuyến đi chiêm bái thiêng
liêng và đầy cảm động vẫn còn dư âm phảng phất trong
con tim của mỗi người. Và cố nhiên, dù liễu đạt được
chân lý về vô thường của vạn hữu, nhưng sao trong mỗi
chúng ta vẫn không khỏi rơi lệ và ngậm ngùi tiếc thương
cho một thời kỳ vàng son của Phật Giáo Ấn Độ, những
nơi mà Đức Từ Phụ Thích Ca đã từng đi qua, thuyết giảng
và để lại một kho tàng giáo lý vô tận cho chúng sinh thừa
hưởng lợi lạc an vui, thì lẽ ra ngày nay tại thánh tích
ấy phải được xây dựng một cách tôn nghiêm, hùng vĩ và
hoành tráng mới xứng đáng là quê hương của Phật Giáo,
là nơi phát sinh ra mạch nguồn của Đạo Phật, vậy mà giờ
đây tất cả những thánh tích ấy chỉ còn lại những đống
gạch vụn, điêu tàn xơ xác, tất cả đều phủ trùm một
màu tang tóc buồn tẻ, xa lạ như chưa từng có hình bóng của
Phật giáo xuất hiện. Đành rằng tất cả mọi thứ trên
trần gian này có cái gì tồn tại mãi mãi đâu, tất cả đều
phải chịu sự chi phối của quy luật thành trụ hoại không,
nhưng tại sao Đạo Phật lại phải khuất phục một cách
vô vọng trước làn sóng xâm lăng hung bạo và giết chóc dã
man của đội quân Hồi giáo vào thế kỷ thứ 12 như thế
? Chúng con quá đau lòng và uất nghẹn đến nỗi không thốt
thành lời khi nhìn thấy tận mắt những cảnh vật đổ nát
ở khắp các phế tích. Thật là thảm thương và tội nghiệp
cho PG quá. Chúng con hàng đệ tử Việt Nam xin chắp tay nguyện
cầu cho quê hương của Đức Phật sớm khôi phục trở lại
để mang ánh sáng giác ngộ và từ bi đến cho chúng sinh trong
biển đời khổ lụy này. Nam Mô A Di Đà Phật. (Thích
Nguyên Tạng lược ghi)
7
Visiting
His Holiness the Dalai Lama at Dharamsala
By
Steve Lowe - Nguyen Thien Bao
As
you may already know, in November 2006, Venerable Thich Nguyen Tang was
honoured to lead a pilgrimage of 51 Vietnamese Buddhist followers, a group
consisting of people from Melbourne, Sydney & Perth (Australia) and
Texas & California (USA). Between November 7th to 19th, we visited
many holy sites where the Lord Buddha had significant experiences in his
life. Places such as Lumbini - where Buddha was born; Bodhgaya - the place
Buddha attained enlightenment; Sanarth - where Buddha gave his first sermon;
Kusinagar - where Buddha attended the Mahaparinirvana.
One
highlight, of our pilgrimage in India, was hoped to be an audience with
His Holiness the Dalai Lama, but nothing could guarantee we would be able
to see Him. On November 17th we set out on a 2 day trip to Dharamsala,
north of New Delhi. The first day was easier open roads, but most of the
second day of our trip was spent driving up steep and winding mountain
roads. It was a hard climb, the road often seeming quite dangerous, with
barely enough room for vehicles to pass each other. But, some how, due
to the merit and virtue of practicing Buddhism, our group arrived safely
in Dharmasala at 8pm.
Once
there, it became easier to understand some of the suffering which His Holiness
and his people have been experiencing for so many decades, since 1959.
The path leading here is difficult, so too the life here is hard.
At
9am, the next morning, November 18th, our group came to visit and pay our
respects by prostrating ourselves before His Holiness. Although His Holiness
had just returned from Japan and many television, radio and newspaper reporters
had interviewed him, he was very happy to give us an opportunity to see
him directly. He asked us to recite the Heart Sutra for him in Vietnamese.
He also read of some of our Buddhist publications and saw photographs of
our monastery in Melbourne. Venerable Thich Nguyen Tang was most honored
to be able to present to him a publication of ours, authored by His Holiness,
‘Compassion and the Individual’ which I had translated into Vietnamese
from his original publication’.
“It
is a true ‘holy place’ of India, if we compare with other holy places
in India”. They were a few of the words which Venerable Nguyen Tang said
to His Holiness, when our group met him. Because Dharamsala is the location
in which His Holiness, the living incarnation of the Buddha, is living,
many hundreds of thousands of people around the world visit and practice
Buddhism here every year. They also come here to share the sorrow and suffering
of the Tibetan people.
Our
group donated US$1,000 and AU$1,000 to this Living Buddha. His Holiness
offered every one in our group a white Katag (scarf) and small golden Buddha
statue. He was particularly careful to make sure all members had the opportunity
take a group photo with him. It was a most wonderful experience, that day
we met His Holiness.
We,
the Vietnamese Buddhist members from Quang Duc Monastery, Melbourne, Australia,
wish that His Holiness enjoys good health, longevity, peace and happiness
and that all of His Buddhist works reach completion. We also pray that
his country will soon get back her freedom and independence and that His
Holiness the Dalai Lama may safely return back to his homeland in the near
future.
Nam
Mo Sakya Muni Buddha