2.-
MINH-GIÁO-TUNG
THIỀN-SƯ TÔN TĂNG THIÊN
Giáo
tất tôn Tăng. Hà vị dã? Tăng dã giả, dĩ Phật vi tính, dĩ
Như-lai vi gia, dĩ Pháp vi thân, dĩ tuệ vi mệnh, dĩ Thiền-duyệt
vi thực. Cố, bất thị tục-nhân, bất doanh thế gia, bất
tu hình-hài, bất tham sinh, bất cụ tử, bất nhục ngũ vị.
Kỳ phòng thân hữu giới, nhiếp tâm hữu định, biện minh
hữu tuệ. Ngữ kỳ giới dã, khiết thanh tam hoặc, như tất
thân bất ô. Ngữ kỳ định dã, điềm tư lự chính, thần
minh, nhi chung nhật bất loạn. Ngữ kỳ tuệ dã, sùng đức
biện hoặc nhi tất nhiên. Dĩ thử tu chi chi vị nhân. Dĩ thử
thành chi chi vị quả.
CHƯƠNG:
TÔN TĂNG
Của
thiền-Sư Minh-Giáo-Tung (15)
Phật-Giáo
quyết định phải tôn-kính Tăng. Sao vậy? Vị Tăng, lấy Phật
làm tính, lấy Như-Lai làm nhà, lấy Pháp làm thân, lấy Tuệ
làm mệnh, lấy Thiền-duyệt làm thức ăn. Cho nên, vị Tăng,
không nương nhờ vào người trần-tục, không mưu tính gì
nơi nhà thế-gian, không sửa sang hình-hài, không tham sống,
không sợ chết và không ham đắm năm vị (16) ngon tốt. Vị
Tăng ngăn ngừa thân nhờ có giới, thu nhiếp tâm nhờ có định,
biện tỏ chân-lý nhờ có tuệ. Nói về giới, làm trong sạch
ba hoặc, toàn thân không bị ô nhiễm. Nói về định, suy nghĩ
điềm-chính, thần-khí sáng suốt, trọn ngày tâm không tán
loạn. Nói về tuệ, ưa chuộng đức thực, biện giải mê
lầm, đem lại lẽ tất nhiên của chân-lý. Dùng những pháp
đó để tu là “nhân”. Đạt thành những pháp đó là “quả”.
Kỳ
ư vật dã, hữu từ, hữu bi, hữu đại thệ, hữu đại huệ.
Từ dã giả, đương dục vạn vật. Bi dã giả, thường dục
chửng chúng khổ. Thệ dã giả, thệ dữ thiên hạ kiến chân-đế.
Huệ dã giả, huệ quần sinh dĩ chính pháp. Thần nhi thông
chi, thiên địa bất năng yểm. Mật nhi hành chi, quỷ thần
bất năng trắc.
Vị
Tăng, đối với người và vật, có tâm từ, có tâm bi, có
thệ nguyện rộng lớn, có ân huệ bao la. Tâm từ, muốn vạn
vật thường an lành. Tâm bi, muốn cứu vớt mọi nỗi khổ.
Thệ-nguyện, nguyện cùng mọi người thấy rõ chân-lý cao
siêu. Ân-huệ, đem lại ơn lành cho quần sinh bằng chính-pháp.
Thần-khí thông suốt, sự vật trong trời đất đều thấy
rõ, không thể che dấu được. Làm việc trong vòng ẩn-mật,
quỷ thần không sao lường được.
Kỳ
diễn pháp dã, biện thuyết bất trệ. Kỳ hộ pháp dã, phấn
bất cố thân. Năng nhẫn, nhân chi bất khả nhẫn. Năng hành,
nhân chi bất năng hành. Kỳ chính mệnh dã, cái thực nhi thực
bất vi sỉ. Kỳ quả dục dã, phẩn y chuyết bát nhi bất vi
bần. Kỳ vô tranh dã, khả nhục nhi bất khả khinh. Kỳ vô
oán dã, khả đồng nhi bất khả tổn.
Vị
Tăng, khi diễn giải giáo-pháp, biện thuyết trôi chảy không
chút ngưng trệ. Khi phải hộ vệ đạo-pháp, hăng hái không
nghĩ đến thân. Nhẫn nhịn những điều người ta không thể
nhẫn được. Làm được những việc người ta không thể
làm được. Nuôi sống thân-mệnh mình một cách chân-chính
bằng sự đi xin ăn mà không cho là xấu hổ. Giữ gìn hạnh
ít ham muốn, mặc áo phẩn-tảo, mang bát mẻ vá mà không cho
là nghèo. Không ưa tranh cãi, có thể bị nhục nhưng không
thể để bị khinh. Không oán hận ai, có thể hòa đồng nhưng
không thể để bị tổn đức.
Dĩ
thực tướng đãi vật. Dĩ chí từ tu kỷ. Cố, kỳ ư thiên
hạ dã, năng tất hòa, năng phổ kính. Kỳ ngữ vô vọng, cố,
kỳ vi tín dã chí. Kỳ pháp vô ngã, cố, kỳ vi nhượng dã
thành. Hữu uy khả cảnh, hữu nghi khả tắc. Thiên, nhân vọng
nhi nghiễm nhiên. Năng phúc ư thế, năng đạo ư tục. Kỳ
vong hình dã, ủy cầm thú nhi bất quái. Kỳ độc tụng dã,
mạo hàn thử nhi bất phế.
Vị
Tăng, đem tướng chân thực tiếp đãi người. Lấy hạnh chí-từ
tu sửa mình. Cho nên, đối với xã-hội luôn luôn hòa-ái và
luôn luôn kính cả. Với lời nói không dối trá, nên đặt
sự tin tưởng đến chỗ rất mực. Với sự vật coi vô ngã,
nên đặt sự kính nhường hết sức thành thực. Có uy-đức
đáng răn sợ, có dung-nghi đang bắt chước. Trời và người
chiêm ngưỡng vào, thấy vẻ nghiêm-trang đáng sợ. Luôn luôn
đem lại hạnh phúc cho đời và luôn luôn dắt dẫn cho hàng
thế-tục. Khi bỏ thân hình mình cho loài cầm thú mà không
coi là quái gở. Khi tụng kinh ngồi thiền, gội nắng rét vẫn
không bao giờ biếng bỏ.
Dĩ
pháp nhi xuất dã, du nhân gian, biến tụ lạc. Thị danh nhược
cốc hưởng, thị lợi nhược du trần, thị vật sắc nhược
dương diệm. Hú ẩu bần bệnh, ngõa hợp dư đài nhi bất
vi ty. Dĩ đạo nhi xử dã, tuy thâm sơn cùng cốc, thảo kỳ
y, mộc kỳ thực, yến nhiên tự đắc. Bất khả dĩ lợi dụ,
bất khả dĩ thế khuất. Tạ thiên tử chư hầu nhi bất vi
cao. Kỳ độc lập dã, dĩ đạo tự thắng. Tuy hình ảnh tương
điếu nhi bất vi cô. Kỳ quần cư dã, dĩ pháp vi thuộc. Hội
tứ hải chi nhân nhi bất vi hỗn.
Đem
giáo-pháp ra đời hoằng hóa, trải khắp cả nhân gian và cùng
khắp nơi thôn xóm. Coi danh-vọng như tiếng vang qua cửa hang,
coi lợi lộc như hạt bụi bay lãng-đãng, coi vật sắc như
nắng mùa hè. Ấm áp với sự nghèo, bệnh, chắp vá với những
vật thường, mà không cảm là thấp hèn. Xử sự theo đạo-lý,
dù ở nơi núi sâu hang cùng, mặc áo cỏ, ăn vỏ cây vẫn
an nhiên tự-đắc. Không thể đem lợi lộc dụ dỗ, không
thể dùng quyền-thế khuất phục. Tạ từ sự thỉnh mời
của thiên-tử, chư hầu mà không lấy thế để cao ngạo.
Giữ tinh-thần độc-lập, tự thắng mình bằng đạo. Dù nhìn
hình-ảnh coi như đáng thương, nhưng không cho là cô đơn.
Khi ở chỗ đông người, lấy đạo-pháp làm quyến-thuộc.
Gặp gỡ những người xa lạ từ bốn biển tới vẫn không
bị hỗn-tạp.
Kỳ
khả học dã, tuy tam tạng, thập nhị bộ, bách gia dị đạo
chi thư, vô bất tri dã. Tha phương thù tục chi ngôn, vô bất
thông dã. Tổ thuật kỳ pháp tắc, hữu văn hữu chương dã.
Hành kỳ trung đạo, tắc bất không bất hữu dã. Kỳ tuyệt
học dã, ly niệm thanh-tịnh, thuần chân nhất như, bất phục
hữu sở phân biệt dã.
Tăng
hồ kỳ vi nhân chí, kỳ vi tâm phổ, kỳ vi đức bị, kỳ
vi đại đạo, kỳ vi hiền, phi thế chi sở vị hiền dã, kỳ
vi thánh, phi thế chi sở vị thánh dã. Xuất thế thù thắng
chi hiền thánh dã. Tăng dã, như thử khả bất tôn hồ!
Về
học vấn, vị Tăng, tuy đã lầu thông ba tạng kinh, luật,
luận và mười hai bộ phận giáo (17), nhưng các sách của
bách gia chư tử và của đạo khác cũng đều biết hết. Những
ngôn ngữ, những phong-tục xa lạ của các phương khác cũng
đều thông suốt. Luôn luôn noi theo pháp tắc của các bậc
xa xưa, có văn có chương. Thực hành theo trung-đạo, không
nghiêng về “không” và không nghiêng về “hữu”. Chỗ
học tuyệt vời của vị Tăng là “ly niệm thanh tịnh, thuần
chân nhất như” (18) (lìa bỏ vọng-niệm, đạt tới
chỗ thanh-tịnh, thuần một màu chân-thật và như nhất), không
còn chút phân biệt nào.
Tăng
là con người vượt bậc hơn con người, có tâm rộng rãi,
có đức đầy đủ, có đạo lớn lao. Là bậc hiền, nhưng
không phải bậc hiền của thế-gian. Là bậc thánh, nhưng không
phải là bậc thánh của thế-gian. Là bậc hiền thánh thù-thắng
xuất thế-gian.
Vị
Tăng như thế há không tôn kính sao!
3.-
CÔ-SƠN
VIÊN-PHÁP-SƯ THỊ HỌC-ĐỒ
Ư
hí (ô hô), đại-pháp hạ suy, khứ thánh du viễn. Phi truy tuy
chúng, mưu đạo vi hưu. Cạnh thanh lợi vi kỷ năng, thị lưu
thông vi nhi hí. Toại sử, pháp môn hãn tịch, giáo võng tương
đồi. Thực lại hậu-côn, khắc hạ tư đạo.
LỜI
GỢI BẢO HỌC-ĐỒ
Của
Viên-Pháp-Sư núi Cô-Sơn (19)
Than
ôi, đại-pháp xuống thấp, cách Thánh càng xa. Người mặc
áo hoại sắc tuy đông, nhưng những người lo toan cho đạo
càng ít. Đua tranh thanh-danh lợi-dưỡng là khả năng của mình,
coi việc lưu thông Phật-pháp là trò đùa của con trẻ. Khiến
cho, cửa chính-pháp ít mở ra, lưới giáo-lý hầu mục rách.
Thực sự phải nhờ vào những người sau, gánh vác cho công
việc của đạo!
Nhử
tào, hư tâm thỉnh pháp, khiết kỷ y sư. Cận kỳ ư lập thân
dương danh, viễn ký ư cách phàm thành thánh. Phát huy tượng
pháp, xả tử nhi thùy? Cố tu, tu thân tiễn ngôn, thận chung
như thủy. Cần nhĩ học vấn, cẩn nhĩ hành tàng. Tỵ ác-hữu
như tỵ hổ lang, sự lương bằng như sự phụ-mẫu. Phụng
sự tận lễ, vị pháp vong khu. Hữu thiện vô tự căng, khởi
quá vụ tốc cải. Thủ nhân nghĩa nhi sác hồ bất đạt, xử
bần tiện tắc lạc dĩ vong ưu. Tự nhiên, dữ họa tư vi,
dữ phúc tư hội!
Các
ông, để tâm rỗng lặng mà nghe pháp, giữ mình trong sạch
mà nương thầy. Kỳ vọng gần là xây dựng cho mình được
nổi tiếng, mong mỏi xa là đổi thân phàm thành thân thánh.
Phát huy giáo pháp trong đời tượng này, nếu bỏ các ông
đi thì còn ai! Cho nên, các ông cần phải sửa mình đúng theo
lời nói, phải cẩn-thận, trước sau như một. Siêng năng
học vấn, cẩn thận hành-tàng. Tránh né bạn ác như tránh
né hùm beo, phụng sự bạn lành như phụng sự cha mẹ. Thờ
thầy hết lễ, vì pháp quên mình. Có điều gì tốt không
được tự khoe, gây lỗi lầm gì quyết nhanh hối cải. Giữ
nhân nghĩa bền chắc, không thể nhổ được, ở trong cảnh
nghèo thiếu, vui đạo quên lo. Tự nhiên, họa hoạn lánh đi,
phúc lộc đưa tới!
Khởi
giả tướng hình, vấn mệnh siểm cầu vinh đạt chi kỳ, trạch
nhật tuyển thời, cẩu miễn bĩ truẫn chi vận. Thử khởi
sa-môn chi viễn-thức, thực duy tục-tử chi vọng-tình. Nghi
hồ, kiến hiền tư tề, đương nhân bất nhượng. Mộ Tuyết-
Sơn chi cầu pháp, học Thiện-Tài chi tầm sư. Danh lợi bất
túc động ư hoài, từ sinh bất túc ưu kỳ lự.
Như
thế, há phải nhờ vào việc xem hình tướng, đoán mệnh,
nịnh cầu có thời kỳ vinh-đạt, chọn ngày kén giờ, tạm
mong khỏi vận hội xui xẻo. Việc đó, há là viễn thức của
bậc sa-môn, thực là vọng-tình của người thế-tục. Nên
vậy, thấy người hiền phải nghĩ sao bằng, thấy điều nhân
không nên từ chối. Mến chuộng việc cầu pháp của ngài
Tuyết-Sơn (20), học hỏi việc tìm thầy của ngài Thiện-Tài
(21). Danh-lợi không đủ làm lay động nơi lòng dạ của mình,
sống chết không đủ làm lo buồn sự tư lự của mình.
Thảng
công thành nhi sự toại, tất tự nhĩ nhi thiệp hà. Bất cô
danh nhi danh tự dương, bất triệu chúng nhi chúng tự chí.
Trí túc dĩ chiếu hoặc, từ túc dĩ nhiếp nhân. Cùng tắc
độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm thiện thiên hạ. Sử,
chân- phong tức nhi tái chấn, tuệ-cự diệt nhi phục minh.
Khả vị đại-trượng-phu yên! Khả vị Như-lai-sứ hỹ!
Ví,
công thành việc được, nên từ gần lần xa. Không mua danh
mà danh tự nổi, không mời chúng mà chúng tự tới. Trí-tuệ
đủ, soi tỏ mê lầm, lòng từ đủ, tiếp dắt chúng nhân.
Khi cùng, làm việc tốt cho riêng một mình, khi đạt làm việc
tốt cho cả thiên hạ. Khiến cho, chân-phong bị ngưng nay lại
trỗi dậy, đuốc tuệ đã tắt nay lại sáng lên. Như thế,
đáng là bậc đại-trượng-phu chăng! Như thế, đáng là sứ-giả
Như-lai chăng!
Khởi
đắc thân thê giảng tứ, tích hỗn thường đồ. Tại uế
ác tắc vô sở gián nhiên, ư hành giải tắc bất kiến khả
úy. Dĩ chí, tích tập thành tính, tự diệt kỳ thân. Thủy
giáo, mộ bỉ thượng hiền, chung kiến, luân ư hạ ác. Như
tư chi bối, thành khả bi tai! Thi vân: “Mỵ bất hữu sơ,
tiễn khắc hữu chung”, tư chi vị hỹ!
Trung
nhân dĩ thượng, khả bất giới dư!
Há
được, thân thể ngồi trong nhà giảng, bóng hình lẫn với
bọn thường. Nơi uế ác, không nơi nào bỏ sót, phần giải
hành, dù thấy vẫn không kinh. Đến nỗi, tập lâu thành tích,
tự diệt thân mình. Trước kia, mến mộ bậc thượng-hiền,
sau lại, chìm sâu nơi hạ ác. Những bọn như thế, thực đáng
thương thay! Kinh thi nói: “Nếu không có trước, sao lại có
sau”. Đúng với ý nghĩa ấy!
Những
người thuộc bậc trung trở lên, há không lấy đó làm răn
sao!
Ức
hựu, giới tuệ phân tông, đại tiểu dị học. Tất tự Phật-tâm
nhi phái xuất, ý tồn pháp-giới dĩ đồng quy. Ký nhi vị hiểu
đại-du, ư thị các quyền sở cứ. Tập kinh luận tắc dĩ
giới-học vi khí vật, tông luật-bộ tắc dĩ kinh luận vi
bằng hư. Tập đại-pháp giả tắc diệt một tiểu-thừa,
thính tiểu-thừa giả tắc khinh hủy đại pháp. Đản kiến
nhân-sư thiên tán, toại chấp chi nhi hỗ tương thị phi. Khởi
tri Phật-ý thường dung, cẩu đạt chi nhi bất kiến bỉ thử.
Ưng đương, hỗ tương thành tế, cộng thục cơ duyên, kỳ
do vạn phái triều tông, vô phi đáo hải. Bách quan lỵ sự,
hàm viết cần vương. Vị kiến, hộ nhất phái nhi nghĩ tắc
chúng lưu, thủ nhất quan nhi dục phế thứ tích.
Lại
nữa, giới và tuệ chia ra từng tông, đại và tiểu có môn
học khác. Tất cả đều từ Phật-tâm chia ra, có ý niệm,
giữ pháp giới cùng quay về một gốc. Chưa hiểu được kế
lớn, đó đều là sự quyền biến có sở cứ. Nhưng, tập
kinh luận, cho giới-học là đồ bỏ, chuộng luật-bộ, cho
kinh luận là vô bằng. Tập đại-pháp, muốn diệt hẳn tiểu-thừa,
nghe tiểu-thừa lại khinh hủy đại-pháp. Thấy thầy nào khen
ngợi thiên lệch, liền chấp lấy, gây nên sự thị phi lẫn
nhau. Há biết, ý Phật thường dung-thông, nếu đạt tới,
sẽ không thấy bỉ, thử. Cần nên giúp nhau đạt thành, cùng
tới cơ-duyên thuần-thục. Khi ấy, khác gì muôn nhánh sông
triều về gốc, nhánh sông nào cũng tới biển cả. Trăm quan
coi việc, đều nói là cần vương (siêng năng giúp việc cho
nhà vua). Chưa thấy, giúp một nhánh sông làm ngưng lấp cả
mọi dòng nước chảy, giữ một quan-chức lại, làm phế bỏ
công lao của nhiều người.
Nguyên
phù, Pháp-vương chi thùy hóa dã, thống nhiếp quần phẩm,
các hữu tư tồn. Tiểu luật tỷ lễ hình chi quyền, đại
thừa loại quân hành chi nhậm. Doanh phúc như tư ư tào vãn,
chế soạn nhược chưởng ư vương ngôn. Tại quốc gia chi
bách lại hàm tu, loại ngã giáo chi quần tông cạnh diễn.
Quả minh thử chỉ, khởi chấp dị đoan.
Nguyên
là, đấng Pháp-vương đem giáo pháp giáo hóa cho đời, thống
nhiếp mọi loại, mong mỗi loại đều được tự chủ và
tồn tại. Tiểu-luật ví như cái hình về lễ hình, đại
thừa giống như trách nhiệm về cán cân. Mưu tìm phúc lợi,
như coi về việc chuyên chở, chế soạn công hàm, như nắm
lời nói của vua. Trong quốc gia thì trăm quan tu sửa, trong
giáo ta thì mọi tông tranh diễn. Thực rõ ý ấy, há chấp
dị đoan.
Đương
tu, lượng kỷ tài năng, tùy lực diễn bố. Tính mẫn tắc
kiêm học vi thiện, thức thiển tắc chuyên môn thị nghi. Nhược
nhiên giả, tuy các bá phong-du, nhi cộng thành từ tế. Đồng
quy hòa hợp chi hải, cộng tọa giải thoát chi sàng. Phù như
thị tắc chân mê-đồ chi chỉ-nam, giáo-môn chi mộc đạc
dã. Cư hồ, sư vị lượng vô tàm đức, thú hồ, Phật-quả
quyết định bất nghi. Nhữ vô căng phạt tiểu tiểu tri-kiến,
thụ lập đại đại ngã-mạn. Khinh vu tiên- giác, huỳnh-hoặc
hậu-sinh.
Tuy
vân, thính tầm vị bổ quá cữu, ngôn hoặc hữu trung. Nhữ
tào tư chi!
Cần
nên lượng tài-năng mình, tùy sức diễn rộng. Tính tình linh
lợi thì kiêm học là tốt, kiến thức nông cạn thì chuyên
môn là hợp. Được như thế, tuy mỗi người đem truyền rộng
phong-thái của lẽ đạo, theo khả năng của mình, nhưng nó
sẽ trở thành luồng gió từ-bi cứu giúp chúng sinh. Cùng suôi
về nơi biển cả hòa-hợp, cùng ngồi trên giường tòa giải-thoát.
Như thế, thực là kim chỉ nam của đường mê, là mộc đạc
(cái mõ gỗ) của giáo-môn. Ở trên ngôi sư, thực không hổ
thẹn đức mình, đi đến quả Phật, quyết không ngờ vực
chi nữa. Các ông không nên khoe khoang những tri-kiến nhỏ mọn,
xây dựng tính ngã-mạn lớn lao, để khinh chê các bậc tiên-giác
và lòe bịp những kẻ hậu-sinh!
Tuy
vậy, trong đây, những lời nói trong sự nghe, tìm được,
chưa hẳn bổ túc được những lỗi lầm khó tránh. Các ông
nên suy nghĩ!
4.-
MIỄN
HỌC (THƯỢNG)
Trung-nhân
chi tính, tri vu học nhi hoặc đọa ư học, nãi tác miễn học.
Ô
hô, học bất khả tu-du đãi. Đạo bất khả tu-du ly. Đạo
do học nhi minh. Học khả đãi hồ! Thánh hiền chi vực, do
đạo nhi chí. Đạo khả ly hồ! Tứ phàm dân chi học bất
đãi, khả dĩ chí ư hiền. Hiền nhân chi học bất đãi, khả
dĩ chí ư thánh. Nhiễm-Cầu chi học khả dĩ chí ư Nhan-Uyên,
nhi bất đãi cụ thể giả, trung- tâm đãi nhĩ. Cố viết:
“ Phi bất duyệt tử chi đạo, lực bất túc dã”. Tử viết:
“Hoạn lực bất túc giả, trung đạo phế. Kim nhữ họa,
Nhan-Uyên chi học khả dĩ ư Phu-tử nhi bất tề ư thánh-sư
giả, đoản mệnh tử nhĩ. Như bất tử, an tri kỳ bất như
Trọng-Ni tai. Dĩ kỳ học chi bất đãi dã”. Cố viết: “Hữu
Nhan-thị-tử hiếu học, bất hạnh đoản mệnh tử hỹ. Kim
dã tắc vong”!
VĂN
KHUYẾN GẮNG HỌC (Bài Trên)
Tính
tình của người bậc trung biết chuyên về viêc học vấn,
nhưng sợ họ sa-đọa, nên tôi làm bài văn khuyến gắng học
này.
Than
ôi, học không thể chốc lát rồi sinh lười biếng. Đạo
không thể chốc lát rồi liền lìa bỏ. Đạo do sự học mà
sáng suốt, há nên lười biếng ư! Cõi thánh hiền do đạo
mà đến, vậy đạo nên lìa bỏ sao! Thả cho người dân thường
gắng học không lười biếng, có thể tiến đến bậc hiền.
Người hiền gắng học không lười biếng, có thể tiến tới
bậc thánh. Sự học của ông Nhiễm-Cầu có thể tiến bằng
ông Nhan-Uyên, nhưng ông không theo kịp một cách cụ thể,
trung tâm của vấn đề ấy là lười biếng. Cho nên có chỗ
nói rằng: “ Không phải là không thích đạo của bậc thánh,
nhưng vì sức không đủ vậy”. Đức Khổng-Tử nói rằng:
“Chỉ lo sức không đủ, nửa đường bỏ dở. Nay ông thử
hoạch định ra coi: Sở học của ông Nhan-Uyên có thể sánh
bằng bậc Phu-tử. Nhưng, ông ấy không bằng bậc thánh-sư,
vì ông ấy đoản mệnh. Nếu ông ấy không đoản mệnh, há
ông ấy không bằng Trọng-Ni này sao! Vì sự học của ông
ấy không lười biếng vậy”. Cho nên có chỗ nói rằng: “Có
người họ Nhan ham học, không may chết sớm, nay thời mất
vậy!”.
Hoặc
vấn: “Thánh-nhân học da?” – Viết: “Thị hà ngôn dư!
Thị hà ngôn dư! Phàm dân dữ hiền do tri học, khởi thánh-nhân
đãi ư học da?” Phù, thiên chi cương dã, nhi năng học nhu
ư địa, cố, bất can tứ thời yên! Địa chi nhu dã, nhi năng
học cương ư thiên, cố, năng xuất kim thạch yên! Dương chi
phát sinh dã, nhi diệc học túc sát ư âm, cố, mỹ thảo tự
yên! Âm chi túc sát dã, nhi diệc học phát sinh ư đương, cố,
tề mạch sinh yên! Phù, vi thiên hồ, địa hồ, đương hồ,
âm hồ, giao tương học nhi bất đãi, sở dĩ thành vạn vật.
Thiên bất học nhu, tắc vô dĩ phú. Địa bất học cương,
tắc vô dĩ tái. Dương bất học âm, tắc vô dĩ khải. Âm
bất học đương, tắc vô dĩ bế. Thánh-nhân vô tha dã. Tắc
thiên địa âm dương nhi hành giả, tứ giả học bất đãi.
Thánh-nhân ố hồ đãi.
Hoặc
có người hỏi rằng: “Thánh nhân còn học ư? – “Hỏi
điều ấy làm chi vậy! Hỏi điều ấy làm chi vậy! Người
thường và bậc hiền còn biết học, há là bậc thánh-nhân
lại lười học ư? Trời cứng mạnh còn học sự nhu hòa của
đất, khiến cho bốn mùa không bị can-hệ. Đất còn học
sự cứng mạnh của trời, mới sản xuất ra được vàng,
đá. Khí dương phát sinh cần học sự nghiêm-ngặt của khí
âm, khiến cho thảo mộc lướt qua sự chết. Khí âm nghiêm-ngặt
cũng học sự phát sinh của khí dương, khiến cho rau lúa được
nẩy nở. Trời, đất, âm, dương học lẫn nhau không lười
biếng, nên vạn vật thành. Trời không học nhu hòa thì không
che rợp được. Đất không học cứng mạnh thì không gánh
chịu được. Dương không học âm thì không mở tỏ được.
Âm không học dương thì không ngăn giữ được.Thánh nhân
không có gì khác người. Học theo bốn loại: trời, đất,
âm, dương ấy một cách không lười biếng mà thôi. Thánh
nhân ghét sự lười biếng!
Hoặc
giả, Tị-Tịch viết: “Dư chi cô lậu dã, hạnh tử phát
kỳ mông, nguyện văn thánh-nhân chi học”. Trung-Dung-Tử viết:
“Phục tọa, ngô ngữ nhữ, Thư bất vân hồ: “Duy cuồng
khắc niệm tác thánh, duy thánh võng niệm tác cuồng”. Thị
cố thánh-nhân, tháo thứ điên bái, vị thường bất niệm
chính-đạo, nhi học chi dã. Phu-tử đại-thánh-nhân dã. Bạt
hồ kỳ tụy, xuất hồ kỳ loại. Tự sinh dân dĩ lai, vị
hữu như Phu-tử giả! Nhập thái miếu mỗi sự vấn. Tắc
thị học ư miếu nhân dã. Tam nhân hành, trạch kỳ thiện
giả nhi tòng chi. Tắc thị học ư giai hành dã. Nhập Chu tắc
vấn lễ ư Lão-tử. Tắc thị học ư trụ sử dã. Khởi Trọng-Ni
chi thánh, bất nhược miếu-nhân, hành-nhân, trụ-sử da! Cái
thánh-nhân cụ phù bất niệm chính-đạo nhi học chi, tắc
chí ư cuồng dã hỹ! Cố viết: “Tất hữu như Khâu chi trung
tín yên. Tất bất như Khâu chi hiếu học dã”.
Hoặc
giả như Tị-Tịch viết rằng: “Tôi là người cô-lậu, may
được bậc thánh-nhân mở tỏ sự mê mờ của tôi, tôi nguyện
theo cái học của Ngài”. Trung-Dung-Tử cũng viết: “Ông hãy
ngồi lại, ta dạy cho ông điều này: kinh thư nói: “Kẻ cuồng
dại khắc phục được vọng niệm là bậc thánh. Bậc thánh
quên khắc phục vọng niệm là kẻ cuồng dại”. Cho nên,
dù gặp khi hoảng hốt, khi nghiêng ngả, bậc thánh nhân vẫn
thường không quên chính-đạo để học hỏi. Đức Khổng-phu-tử
là bậc đại-thánh-nhân. Ngài là bậc cao tột, vượt ra khỏi
đồng đàn, đồng loại. Từ khi có dân- chúng đến nay, chưa
có ai hiếu học như đức Phu-tử. Vào nhà thái-miếu, mỗi
việc ngài đều hỏi, đó là ngài học những người trong
thái-miếu. Ba người cùng đi với nhau, học theo người thiện,
đó là học những điều của những người cùng đi. Ngài
vào triều đình nhà Chu, hỏi lễ nơi đức Lão-tử, đó là
học những điều cột- trụ của lịch-sử vậy. Há, ngài
Trọng-Ni là bậc thánh lại không bằng những người trong
thái-miếu, những người đi đường, cùng những điều cột-trụ
trong lịch-sử sao? Hẳn là, bậc thánh-nhân sợ không niệm
được chính-đạo nên phải học, để khỏi đi đến chỗ
như kẻ cuồng dại vậy. Cho nên có chỗ nói: “Quyết phải
có sự trung-tín như Khổng-Khâu, nhưng, hẳn không bằng sự
hiếu học của Khổng-Khâu”!
- Viết:
“Thánh-nhân sinh nhi tri chi hà tất học vị?” – Viết: “Tri
nhi học, thánh- nhân dã. Học nhi tri, thường nhân dã”. Tuy
thánh-nhân, thường nhân, mạc hữu bất do ư học yên. Khổng-tử
viết: “Quân-tử bất khả bất học”. Tử- Lộ viết: “Nam
sơn hữu trúc, bất nhu tự trực, chảm nhi dụng chi, đạt
hồ tê cách. Dĩ thử ngôn chi, hà học chi hữu?” Khổng-tử
viết: “Quát nhi vũ chi, thốc nhi lệ chi, kỳ nhập chi bất
diệc thâm hồ!” Tử-Lộ tái bái viết: “Kính thụ giáo
hỹ”. Y, Thánh-nhân chi học, vô nãi quát, vũ, thốc, lệ sử
thâm nhập hồ! Khởi sinh nhi tri chi giả, ngột nhiên bất học
da!
Có
người hỏi rằng: “Bậc thánh-nhân sinh ra đã biết, hà tất
còn phải học? – Đáp rằng: “Biết mà còn học là bậc
thánh. Học mới biết là người thường. Bậc thánh và người
thường, ai cũng do nơi học cả”. Đức Khổng-tử nói rằng:
“Người quân tử không thể không học”. Ông Tử-Lộ nói
rằng: “Nam-sơn có loại trúc, thân không mềm, mọc thẳng,
chặt nó đem về dùng, đạt tới chỗ bền chắc. Đem cây
trúc mà ví, đâu cần phải học”? Đức Khổng-tử nói: “Đẽo
nhọn, thêm cánh, bịt sắt, mài sắc, đóng vào cái gì lại
không sâu, chắc hơn hay sao!” Ông Tử-Lộ nói: “ Con xin kính
vâng lời Thầy dạy”. À, cái học của bậc thánh-nhân, tuy
đã biết rồi, nhưng còn phải đẽo nhọn, thêm cánh, bịt
sắt, mài sắc, khiến cho nó càng thâm nhập thêm. Như vậy,
há sinh ra đã biết, ngất ngưởng vậy mà không học nữa
ư!
5.-
MIỄN HỌC (HẠ)
Phù,
thánh thả hiền, tất vụ ư học. Thánh hiền dĩ hạ, an hữu
bất học, nhi thành nhân tai! Học do ẩm thực, y phục dã.
Nhân hữu thánh hồ, hiền hồ, chúng thứ hồ. Tuy tam giả
dị, nhi cơ sách thực, khát sách ẩm, hàn sách y, tắc bất
dị hồ! Học dã, khởi đắc dị hồ! Duy cầm thú thổ mộc
bất tất học dã!
Ô
hô, ngu phu thị ẩm thực nhi bất đãi, mạo hóa lợi nhi bất
hưu. Nãi tựu ư học, triêu học nhi tịch đãi giả, hữu hỹ.
Phù hữu xuân học, nhi đông đãi giả, hữu hỹ. Phù, cẩu
như thị ẩm thực, mạo hóa lợi chi bất tri đãi giả, hà
hoạn ư bất vi bác văn hồ, bất vi quân tử hồ? – Viết:
thế hữu chí ngu giả, bất biện thúc mạch chi dị, bất tri
hàn thử chi biến, khởi linh học da, khởi khả giáo da! –
Viết: chí ngu do bất giáo dã, do bất học dã. Cẩu sư giáo
chi bất quyện, bỉ tâm chi bất đãi giả, thánh vực khả
tê nhi thăng hồ. Hà ưu thúc mạch chi bất biện hồ. Thả
ngu giả, khát nhi tri ẩm, cơ nhi tri thực, hàn nhi tri y, ký
tri tư tam giả, tắc dữ thảo mộc thù hỹ. Ô hô, bất khả
học dã, bất khả giáo dã!
VĂN
KHUYÊN GẮNG HỌC (Bài Dưới)
Ôi,
thánh và hiền quyết định phải chuyên về việc học. Từ
bậc thánh hiền trở xuống, có ai không học mà thành người
được ư? Học ví như ăn cơm, áo mặc. Loài người có thánh,
hiền và những người thường. Tuy ba bậc ấy có khác nhau,
nhưng đói tìm thức ăn, khát tìm nước uống, lạnh tìm áo
mặc, có gì khác nhau đâu. Há việc học lại khác được
chăng. Chỉ có chim muông, cây cỏ không cần học mà thôi!
Than ôi, kẻ ngu-phu ham ăn uống không lười biếng, tham hóa-lợi
không ngừng nghỉ. Nhưng, nói đến việc học thì có người
buổi sớm học, buổi chiều lười, mùa xuân học, mùa đông
nghỉ. Nếu như, ham ăn uống, tham hóa-lợi, không biết lười
biếng, thì lo gì không làm người nghe rộng, làm bậc quân
tử ư? Có người nói: “Ở đời có người chí ngu, không
rõ lúa thúc, lúa mạch khác nhau ra sao, không biết lạnh nóng
thay đổi ra sao, làm sao khiến người ấy học và làm sao dạy
họ được?” Đáp: “Người chí ngu do không dạy, do không
học. Nếu thầy giáo không mỏi mệt, tâm người kia không
lười biếng thì cõi thánh có thể đi đến và lên tới được.
Như vậy, lo gì không biện rõ được lúa thúc, lúa mạch.
Vả lại, người ngu, khát biết uống, đói biết ăn, lạnh
biết tìm áo. Đã biết được ba vấn đề ấy, tức là đã
khác loài thảo mộc rồi, sao lại không thể học được,
sao lại không thể dạy được!”
Nhân
chi chí ngu, khởi bất năng nhật ký nhất ngôn da! Tích nhật
chí nguyệt, tắc ký tam thập ngôn hỹ. Tích nguyệt chi niên,
tắc ký tam bách lục thập ngôn hỹ. Tích chi sổ niên nhi bất
đãi giả, bất diệc cơ ư quân tử hồ. Vi ngu, vi tiểu nhân
nhi bất biến giả, do bất học nhĩ. Trung-Dung-Tử vị nhiên
thán viết: “Ngô thường kiến sỉ, trí chi bất đãi, tài
chi bất mẫn, nhi chuyết ư học giả; vị kiến sỉ ẩm thực
bất như tha nhân chi đa, nhi chuyết ẩm thực giả. Chuyết
ẩm thực tắc vẫn kỳ mệnh, hà tất sỉ ư bất đa da. Chuyết
học vấn tắc đồng phù cầm thú thảo mộc, hà tất sỉ
tài trí chi bất như tha nhân da. Cẩu sỉ tài trí bất như,
tắc bất học, tắc diệc ưng sỉ ẩm thực bất như tha nhân,
tắc phế ẩm thực. Dĩ thị quán chi, khởi bất đại ngộ
hồ!
Người
chí-ngu, chả lẽ, mỗi ngày không ghi nhớ được một lời
nói hay sao? Gom góp từng ngày cho đến hết tháng, đã ghi nhớ
được ba mươi lời. Gom góp từng tháng cho đến hết năm,
tức là đã ghi nhớ được ba trăm sáu mươi lời. Không lười
biếng, chỉ gom góp vài năm, hẳn là đã gần với những người
nghe rộng rồi! Lại nữa, mỗi ngày chỉ giữ lấy và vừa
học, vừa làm một điều thiện nhỏ, gom góp từng ngày đến
hết tháng, thân đã có ba mươi điều thiện. Gom góp từng
tháng đến hết năm, tức là thân đã có ba trăm sáu mươi
điều thiện. Không lười biếng, gom góp trong vài năm, hẳn
là đã gần với bậc quân-tử vậy. Người ngu, kẻ tiểu
nhân không thay đổi được, bởi vì họ không chịu học.
Trung-Dung-Tử bùi ngùi mà than rằng: “Tôi thường hổ thẹn,
trí không kịp người, tài không lanh lẹ, mà lại bỏ dở
việc học”! Chưa thấy ai hổ thẹn về việc ăn uống không
nhiều bằng người, mà lại ngưng ăn uống. Ngưng ăn uống
thì thân-mệnh mất, hà tất lại hổ thẹn không ăn nhiều
bằng người. Ngưng học vấn thì cùng như chim muông, cây cỏ,
hà tất hổ thẹn là tài trí không bằng người. Nếu biết
hổ thẹn là tài trí không bằng người mà không học, thì
cũng như người hổ thẹn về việc ăn uống không bằng người
rồi bỏ ăn uống. Lấy những việc đó mà xem xét, há chẳng
lầm lắm vậy ư!
Ngô
diệc chí ngu dã. Mỗi sủy tài dữ trí bất đãi tha nhân giả
viễn hỹ, do tri ẩm thực chi bất khả chuyết, nhi bất cảm
đãi ư học dã. hành niên tứ thập hữu tứ hỹ, tuy bệnh
thả khốn, nhi thủ vị thường thích quyển. Sở dĩ cụ đồng
ư thổ mộc cẩm thú nhĩ. Phi cảm cầu trăn thánh vực dã,
diệc phi cầu hồ văn đạt dã. Tuy hoặc bàng dương hộ đình,
di do nguyên dã, dĩ tạm di dưỡng, mục quan tâm tư, diệc vị
thường cảm phế ư học dã. Do thị, đăng sơn tắc tư học
ký cao, lâm thủy tắc tư học kỳ thanh, tọa thạch tắc tư
học kỳ kiên, khán tùng tắc tư học kỳ trinh, đối nguyệt
tắc tư học kỳ minh. Vạn cảnh vô ngôn nhi thượng khả học.
Nhân chi năng ngôn, tuy vạn ác tất hữu nhất thiện dã. Sư
nhất thiện dĩ học chi, kỳ thùy viết bất nhiên hồ.
Tôi
cũng là người rất ngu. Mỗi khi tôi so sánh tài và trí của
tôi cách người khá xa, không theo kịp được, tôi liền nghĩ
rằng, việc ăn uống không thể ngưng được, thì việc học
của tôi cũng không dám lười biếng. Năm nay tôi bốn mươi
tư tuổi. Tuy đau yếu, mỏi mệt, nhưng tay tôi chưa từng rời
quyển sách. Vì tôi sợ rằng, không khéo, tôi sẽ sa xuống
cùng với chim muông, cây cỏ vậy. Tôi không dám cầu tới
cõi thánh. Tôi cũng không dám cầu là người thông đạt. Tôi
chỉ quanh co trong sân cỏ, lẩn thẩn nơi đồng nội, để
tạm di dưỡng. Mắt xem, tâm nghĩ, nhưng tôi vẫn chưa từng
dám bỏ việc học. Do vậy, khi lên núi, tôi nghĩ đến cái
học về cao siêu. Khi xuống nước tôi nghĩ đến cái học
về trong sạch. Ngồi trên tảng đá tôi nghĩ đến cái học
về bền vững. Xem cây tùng tôi nghĩ đến cái học về trinh-tiết.
Ngắm bóng trăng tôi nghĩ cái học về sáng suốt. Vạn cảnh
um tùm, mỗi thứ đều có sở trường, đều có thể tìm được
thầy ở trong đó mà học. Vạn cảnh không nói, ta còn có
thể học được, huống chi, con người hay nói, muôn điều
ác phải có một điều thiện. Một điều thiện làm thầy,
để cho ta học, ai dám bảo rằng là không được!
Trung-Dung-Tử
viết: “Thế hữu cầu chi nhi hoặc bất đắc giả dã. Thế
hữu cầu chi nhi tất đắc giả dã. Cầu chi nhi hoặc bất
đắc giả, lợi dã. Cầu chi nhi tất đắc giả, đạo dã.
Tiểu nhân chi ư lợi dã. Tuy hoặc vạn cầu nhi vạn bất đắc,
nhi cầu chi di dũng. Quân tử chi ư đạo dã, cầu chi tất đắc,
nhi vọng đồ hoài khiếp, tự niệm lực bất túc giả. Thử
cầu lợi tiểu nhân chi tội nhĩ”. Trọng-Ni viết: “Nhân
viễn hồ tai, ngã dục nhân tư nhân chí hỹ”. Ngôn cầu chi
nhi tất đắc dã.
Trung-Dung-Tử
nói: “Ở đời, có thứ cầu không được. Ở đời, có thứ
cầu quyết được. Cầu không được, là lợi. Cầu quyết
được, là đạo. Tiểu-nhân ưa cầu lợi. Tuy vạn lần cầu,
vạn lần không được, nhưng sự mong cầu vẫn mạnh. Người
quân-tử hướng tâm vào đạo, cầu là quyết được, nhưng,
trông vào đường đi, mang lòng khiếp sợ, tự nghĩ sức không
đủ, thì đó thuộc về cái tội, như kẻ tiểu-nhân cầu
lợi vậy. Ngài Trọng-Ni nói: “Điều nhân rất xa, nhưng,
ta muốn làm điều nhân, điều nhân ấy tự đến”. Đó nói
là cầu quyết được vậy.
Chú
thích:
1.
Đại-Viên Thiền-Sư ở núi Quy-Sơn, tên là Linh-Hựu, sinh ở
Trường-Khê, Phúc-Châu. Ngài xuất gia năm 15 tuổi, nghiên cứu
giáo lý tại chùa Hưng-Long, Hàng-Châu. Năm 25 tuổi, ngài tham
học nơi ngài Bách-Trượng. Sau về dựng chùa tại núi Quy-Sơn.
Ngài mất năm 83 tuổi, nhà vua sắc phong cho tên thụy là Đại-viên
Thiền-Sư.
2.
Bốn đại: Đất, nước, lửa, gió.
3.
6 bề thân tức là cha, mẹ, anh, em, vợ, con...
4.
Thời quang là chỉ cho ánh sáng sủa thời gian.
5.
Ba việc thường dùng tức là cơm ăn, áo mặc, nơi ở.
6.
Ba cõi hữu lậu (tam hữu) tức là dục hữu, sắc hữu và
vô sắc hữu.
7.
Bốn ơn: ơn cha mẹ, sư trưởng, ơn quốc gia, ơn xã hội và
ơn Tam Bảo.
8.
25 hữu tức là 25 cảnh hữu tình. “Hữu” nghĩa là có nhân,
có quả. Nơi ấy chúnh sinh sinh ra do quả báo của mình. 25
hữu trong ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới): địa
ngục, ngã quỷ, súc sinh, a tu la, Đông thắng thần châu, Tây
ngưu hóa châu, Bắc câu lư châu, Nam thiệm bộ châu, Tứ thiên
vương thiên, Đao lợi thiên, Diệm ma thiên, Đâu suất thiên,
Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên, Sơ thiền thiên, Đại
phạm thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên, Tứ thiền thiên,
Vô tưởng thiên, Tịnh cư (A na hàm) thiên, Không vô biên xứ,
Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
9.
Ba vòng (tam luân) tức là vòng quanh trong ba cõi: dục giới
sắc giới, vô sắc giới. Tam luân còn chỉ cho hoặc, nghiệp,
khổ.
10.
Ấm duyên
11.
Sát na: chỉ cho thời gian rất nhanh.
12.
Sáu giặc (lục tặc) chỉ cho 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý) dính líu với 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp) cướp đoạt mất những cống đức pháp tài.
13.
Sáu đạo (lục đạo): Trời, người, a tu la, địa ngục, ngã
quỷ, súc sinh.
14.
Đời tự phù hư: có nghĩa là đời đã có tính chất trôi
nổi, giả dối không thực.
15.
Ngài Minh-Giáo-Tung tức Phật-Nhật Khế-Tung Thiền-Sư, tự
Trọng-Linh, hiệu Tiền-Tử ở Hàng-Châu. Ngài họ Lý ở Đàm-Tân,
Đằng-Châu. Ngài nối pháp Động-Sơn, Hiểu-Thông Thiền-Sư,
thuộc đời thứ 10 của phái Thanh-Nguyên. Ngài xuất gia năm
7 tuổi, 13 tuổi đắc độ, 19 tuổi đi tham học các nơi. Ngài
thường đem theo tượng Quán-Âm và mỗi ngày niệm danh hiệu
Bồ tát một vạn lần. Ngài làm bộ luận Nguyên-Giáo để
chống lại sự bài bác của Hàn-Dũ. Vua Tống-Nhân-Tôn ban
cho ngài bảo hiệu là “Minh-Giáo”.
16.
Năm vị: Hương vị trong thức ăn có: mặn, đắng, chua, cay,
ngọt. Nhưng 5 vị nơi đây, Thiền-Sư chỉ cho 5 trần là sắc,
thanh, hương, vị, xúc.
17.
12 bộ kinh: Tức là 12 thể loại trong kinh: 1) Tu đa la (Sùtra):
Khế kinh hay Trường hàng. 2) Kỳ dạ (Geya): Ứng tụng hay Trùng
tụng. 3) Già đà (Gàtha): Phúng tụng hay Cô khởi tụng. 4)
Ni đà na (Nidàna): Nhân duyên. 5) Y đế mục đa (Itivrtaka): Bản
sự. 6) Xà đa già (Jàtaka): Bản sinh. 7) A tỳ đạt ma (Adbhuta-dharma):
Vị tằng hữu. 8) A ba đà na (Avadàna): Thí dụ. 9) Ưu bà đề
xá (Upadesa): Luận nghĩa. 10) Ưu đà na (Udàna): Tự thuyết.
11) Tỳ phật lược (Vaipulya): Phương quảng. 12) Hòa già la
(Vyàkarana): Thụ ký.
18.
Ly niệm thanh tịnh: Chỉ cho bậc A la hán.
19.
Cô-Sơn-Viên Pháp-Sư, tức Thích-Trí-Viên, tự Vô-Ngoại, tự
hiệu là Trung-Dung-Tử. Ngài tu học nơi Phụng-Tiên, Thanh-Nguyên.
Sau ngài ở Tây-Hồ, Cô-Sơn viết sách, tiếp chúng tới học.
Ngài viên tịch năm 47 tuổi. Vua Tống-Thần-Tôn ban pháp-thụy
cho ngài là “Pháp-Tuệ Đại-Sư”.
20.
Tuyết-Sơn cầu pháp: Tiền thân của đức Thích-Tôn, tu hạnh
Bồ Tát tại Tuyết Sơn gieo mình cho quỉ la sát ăn để cầu
nửa bài kệ.
21.
Thiện-Tài tầm sư: Ngài Thiện-Tài cần cầu tham học nơi
53 bậc thiện-tri-thức.
WP:
Chân Thiền