Trong
bản văn ngắn này, Kyabjé Dudjom Rinpoche diễn giảng một vài
điểm trọng yếu của giới hạnh mà Giáo đoàn hành giả
tu sĩ và Giáo đoàn yogin vidyadhara (hành giả trì minh vương)
phải tuân giữ. Bản văn này được biên soạn với hy vọng
bảo tồn những phương diện của truyền thống trước nguy
cơ bị mai một vĩnh viễn.
Đấng
dẫn dắt vô song của thời đại may mắn này, Pháp Vương
của dòng họ Shakya (Thích Ca),
Hiện
thân của tất cả chư Phật, Đấng Sanh-trong-hồ xứ Oddiyana
(Liên Hoa Sanh),
Đức
Vua và các thần dân, và tất cả các Vidyadhara (Trì minh vương)
của các dòng kama và terma-
Trước
các ngài, cánh đồng toàn hảo để tích tập công đức và
trí tuệ, con xin kính cẩn đảnh lễ!
Hai
cộng đồng hành giả của Kinh thừa và Mật thừa, những
tu sĩ cạo tóc và những yogin (hành giả) tóc dài,
Với
cái thấy (kiến) của Trung Đạo và giới hạnh (hành) của
Luật,
Và
sự hợp nhất tối thượng của các giai đọan phát triển
và thành tựu, Đại Viên Mãn-
Đây
là truyền thống bí mật vĩ đại của Cổ Dịch trong Xứ
Tuyết,
Với
sáu phẩm tính vĩ đại của nó. Đối với những vidyadhara
đã khởi hành trên con đường này,
Với
giáo lý truyền khẩu, những khám phá terma và những thị kiến
thanh tịnh của nó
Bây
giờ tôi sẽ trình bày một ít vấn đề giới hạnh như lời
khuyên dạy,
Mô
tả những gì nên làm theo và nên từ bỏ, trong đời sống
hàng ngày và vào những dịp đặc biệt,
Vì
thế hãy lưu ý với sự trong sáng và nhất tâm.
Ngài
Vasubandhu Thế Thân) uyên bác tối thượng đã nói:
Giáo
lý của Đức Phật có hai phương diện:
Những
yếu tố Kinh điển và chứng ngộ
Những
điều này chỉ được hộ trì nhờ việc giảng dạy
Và
bằng cách thực hành [2]
Như
câu này nói, trách nhiệm của những vị hộ trì các giáo
lý và thành viên của Giáo đoàn là bảo đảm rằng Phật
Pháp quý báu, với hai phương diện Kinh điển và chứng ngộ,
sẽ không bị suy hoại mà trường tồn trong thế giới.
Giáo
đoàn có hai cộng đồng: những môn đồ cạo tóc của Kinh
thừa và những hành giả tóc dài của Mật thừa. Hai nhóm
này được thiết lập do sắc lệnh đặc biệt khi lần đầu
tiên, nhờ Tu viện trưởng Shantarakshita, Đạo sư Liên Hoa Sanh
và Vua Trisong Detsen, ánh sáng Phật Pháp đã chiếu soi trên
xứ Tây Tạng tăm tối, mang lại cho chúng ta thành ngữ nổi
tiếng “hai Giáo Đoàn được đức vua tôn kính.” Cho tới
ngày nay, hai Giáo đoàn này vẫn tiếp tục tồn tại song hành.
Mặc dù chúng hơi khác biệt nhau về hình tướng bên ngoài,
y phục và v.v.. được dựa trên cách thế đặc biệt trong
đó những giới nguyện được trì giữ, không có sự khác
biệt trong việc thực hành hợp nhất Kinh điển và tantra (Mật
điển) và hộ trì ba bộ giới nguyện để phát triển những
phẩm tính chứng ngộ sâu xa.
Về
phương pháp các hành giả này thực hành, Đạo sư vĩ đại
Liên Hoa Sanh, đấng giống như một Đức Phật thứ hai, đã
nói:
Bên
ngoài, hãy thực hành theo Kinh điển,
Hết
sức thận trọng đối với nhân quả và những gì bạn nên
theo và phải tránh.
Bên
trong, hãy thực hành theo thần chú bí mật vô song,
Đó
là điều thiết yếu để kết hợp các giai đoạn phát triển
và thành tựu.
Một
cách bí mật, hãy thực hành theo Atiyoga bí mật vĩ đại,
Và
đạt được giải thoát trong thân ánh sáng chỉ một đời
duy nhất.
Trước
hết khi ta dấn mình vào Phật đạo, điều quan trọng là những
điều kiện tốt lành đúng đắn phải được củng cố với
một vị Thầy, vì thế hãy bắt đầu bằng nghi lễ xuống
tóc và thọ giới quy y trước một Đạo sư tâm linh chân chính.
Sau đó, nếu thọ giới tu sĩ, bạn nên nhận những giới nguyện
của một Sa di hay Tỳ kheo hoặc Tỳ kheo ni – tùy theo tuổi
tác và năng lực của bạn – trước một tập hội gồm Tu
viện trưởng, Acharya (Đạo sư, A xà lê) và số thành viên
trong Tăng đoàn được quy định trong một dòng tu không đứt
đoạn có nguồn gốc từ Tu viện trưởng vĩ đại Shantarakshita.
Cho dù bạn là một hành giả Mật thừa (ngakpa), bạn vẫn
phải tuân giữ ba bộ giới luật, vì thế hãy giữ giới nguyện
của một hành giả cư sĩ (upasaka) theo năng lực đặc biệt
của bạn. Khi ấy, dựa trên căn bản này, hãy thọ các giới
nguyện của một Bồ Tát theo một trong hai truyền thống, nhưng
tốt nhất là theo cách tiếp cận Trung Đạo, và khi ấy, nhờ
đi vào một trong những mạn đà la vĩ đại và nhận trọn
vẹn bốn quán đảnh, bạn sẽ sở hữu ba bộ giới nguyện.
Tuy nhiên, chỉ nhận các giới nguyện thì không đủ, bạn
phải nỗ lực để trì giữ những hứa nguyện bạn đã lập
và không để cho chúng bị hư hỏng. Cách thức giữ gìn chúng
đã được giảng dạy trong những bản văn khác nhau của ba
bộ giới nguyện. Điều quan trọng là bạn phải áp dụng
những gì được giảng dạy cho tâm thức của riêng bạn và
nhập tâm những giáo huấn bằng việc thực hành.
Đức
Phật, Đạo sư bi mẫn, đã ban cho ta một tóm lược cốt tủy
như sau:
Không
làm điều ác,
Nuôi
dưỡng hạnh lành,
Điều
phục tâm thức-
Đó
là Phật Pháp.
Nền
móng là một ý hướng hoàn toàn trong sạch và cao quý và một
đức tin chân thành nơi Tam Bảo. Khi ấy:
* Hoàn
toàn từ bỏ mọi ý hướng và hành động tiêu cực của thân,
ngữ và tâm có thể tác hại cho người khác là cốt tủy
của pratimoksha, hay giới nguyện giải thoát cá nhân.
* Hết
lòng thực hành mọi loại đức hạnh mang lại lợi lạc cho
người khác là cốt tủy của giới nguyện Bồ Tát.
* Cội
gốc của hai giới nguyện này là điều phục tâm phóng túng
của ta bằng phương tiện chánh niệm, tỉnh giác và tận tâm,
và tu hành bản thân để nhận ra sự thuần tịnh gồm chứa
của hình tướng và sự hiện hữu. Đây là cốt tủy của
giới
nguyện Mật thừa.
Đây
là cách thực hành nhờ kết hợp những đề mục của ba bộ
giới
nguyện trong một giáo huấn trọng yếu duy nhất.
Để
sử dụng giáo huấn này một cách dễ dàng, ngay từ lúc bạn
đi vào Thánh Pháp và trở thành một hành giả của Pháp, thái
độ bên trong và cách hành xử (giới hạnh) bên ngoài
của bạn cần vượt xa thái độ và hành xử của một người
thế tục bình thường. Như một câu tục ngữ nói:
Dấu
hiệu của sự hiểu biết chân thực là một tánh khí an bình,
Và
dấu hiệu của việc đã thiền định là ít phiền não.
Trái
lại, nếu thái độ và cách hành xử của bạn thậm chí không
tốt hơn chút nào so với một người bình thường bị vướng
kẹt trong những công việc thế gian, thì bạn có thể tự
coi mình như một học giả chỉ vì bạn có một vài hiểu
biết trí thức về một ít bản văn. Hoặc bạn có thể nghĩ
rằng bạn là một tu sĩ hoàn hảo chỉ vì bạn duy trì tình
trạng độc thân. Hoặc chỉ vì biết cách tụng một ít bản
văn nghi lễ, bạn có thể bắt đầu tự cho rằng mình là
một ngakpa. Đây hoàn toàn là những ví dụ hiển nhiên của
sự kiêu ngạo, và chỉ cho thấy rằng ngay cả với Pháp ta
cũng có thể sai lầm theo chiều hướng xấu. Như Dakpo Lharjé
[Gampopa] vô song đã nói:
Khi
không được thực hành đúng đắn, ngay cả Pháp cũng có thể
bắn thẳng ta vào các cõi thấp.
Nói
chung, đối với những người đã khởi hành trên con đường
Giáo Pháp, nguồn mạch của mọi sự hiểu biết nằm ở việc
đọc (nghiên cứu) và viết, vì thế việc rèn luyện những
kỷ luật này được nhấn mạnh từ lúc còn trẻ. Sau đó
ta nên tiếp tục nghiên cứu bộ môn nào đó trong các khoa
học tổng quát và hết sức nỗ lực trong việc nghiên cứu
và suy niệm những nguyên lý hiếm có của Kinh điển và thần
chú và v.v.., cho tới khi đạt được một sự hiểu biết
sâu xa những vấn đề cốt tủy, cho dù phải mất bao nhiêu
thời gian chăng nữa.
Đặc
biệt là từ lúc bạn gia nhập một Giáo đoàn gồm các hành
giả tu sĩ hộ trì giáo lý, bạn nên nỗ lực để chỉ có
một thái độ tích cực và cách hành xử (giới hạnh) trong
sạch, phụng sự các Đạo sư và Giáo Pháp, tịnh hóa những
che chướng của riêng bạn và tích tập công đức và trí
tuệ, để bạn trở thành một mẫu mực đầy cảm hứng cho
những thế hệ tương lai. Như câu tục ngữ nổi tiếng nói:
Đối
với những người có đức tin, là một suối nguồn cảm hứng.
Đối
với người giàu có, là một cánh đồng để vun trồng công
đức.
Hãy
nỗ lực và nghiên cứu triệt để, nhớ lại những bản văn
thực hành hàng ngày, học cách vẽ các mạn đà la dùng cho
các nghi lễ Mật thừa, học cách làm và trang hoàng torma và
những vật cúng dường khác, học vũ điệu của tu viện và
những giai điệu của các bài ca nghi lễ, cũng như cách sử
dụng các nhạc khí khác nhau và v.v.., khiến bạn trở nên
lão luyện. Tối quan trọng là những người gánh vác trách
nhiệm duy trì các truyền thống thực hành – Đạo sư kim
cương, vị hướng dẫn việc tụng niệm, Thầy nghi lễ (chopon)
và thị giả nghi lễ và v.v..- hãy tu hành để trở nên quen
thuộc với việc thực hành theo truyền thống đích thực.
Trong
phạm vi hành xử (giới hạnh), dù bạn là một nhà sư, một
ngakpa hay một ni cô, điều tối quan trọng là bạn phải sống
theo lời dạy sau đây: “Điều phục tâm mình là cốt tủy
của Pháp.” Thiện tâm vĩ đại nhất mà ta có thể tự
biểu lộ là tận tụy tu hành theo những lời dạy của giáo
lý ta đang theo đuổi. Hãy tránh cư xử theo cách thế
đối nghịch, giả dối đối với những giới nguyện và lời
hứa, làm tăng thêm sự dính mắc và gây hấn đối với bằng
hữu, hoặc tranh cãi với người trên và kẻ dưới, với những
nhóm khác hay những người giữ những quan điểm khác biệt.
Để dễ dàng làm được điều đó, điều tối quan trọng
là giống như bạn tránh uốøng thuốc độc, bạn hãy hoàn
toàn từ bỏ tất cả những gì có thể làm sai lạc giáo lý,
từ bỏ mọi cuộc tranh luận hay chia rẽ và mọi điều tiêu
cực khiến bạn phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc của
các Dakini và Hộ Pháp là những bậc có đôi mắt trí tuệ.
Chưa
kể tới các Khenpo, các vị Thầy và các Lạt ma cao cấp, bạn
nên tỏ lòng tôn kính tất cả những người thâm niên hơn
bạn về mặt giới luật hay nghiên cứu, biểu lộ lòng tốt
và tình thương đối với học trò nhỏ tuổi hơn bạn, và
chỉ cư xử một cách thân tình và dễ thương với mọi Pháp
hữu. Không thể chấp nhận việc phê bình chỉ trích hay nói
năng cay nghiệt với nhau, gây xích mích hay nói ngay cả điều
nhỏ bé nhất có thể gây mối bất hòa trong Giáo đoàn.
Tránh
dùng những vật được cúng dường cho Tam Bảo vào mục đích
riêng tư của bạn bởi điều này sẽ mang lại những nghiệp
quả ghê gớm. Đừng đi ra ngoài mà không mặc y tu sĩ đúng
cách. Hoàn toàn từ bỏ mọi cách hành xử làm ô danh, chẳng
hạn như chơi các trò chơi trong khu vực tu viện, cờ bạc,
cười lớn tiếng, hút thuốc, hít thuốc, la hét, cãi cọ và
đánh nhau, lang thang trên đường phố và dính mắc vào những
việc không liên quan tới bạn. Hãy thận trọng để cư xử
phù hợp với Pháp bất kỳ khi nào bạn xuất hiện nơi công
cộng hay trên các lối đi trong tu viện, và đừng tham gia vào
những hoạt động thông thường như làm đồ mộc hay khâu
vá, trừ phi nó được làm cho Giáo đoàn hay Tu viện.
Không
cần phải nói rằng những người đã thọ giới nguyện tu
sĩ không được phép uống rượu, dù chỉ với một lượng
bằng một giọt sương trên lá cỏ, mà ngay cả các ngakpa cũng
bị cấm uống hơn một tách [3] mỗi ngày. Có câu nói rằng:
Hành
giả Mật thừa say rượu
Sẽ
bị quay nướng trong Địa ngục Kêu gào.
Thịt
là thực phẩm độc hại, càng ít dùng thì càng tốt. Điều
tối quan trọng là tránh dùng thịt khi đó là phong tục địa
phương, và chắc chắn là trong những cuộc hội họp chính
yếu thì không nên phục vụ món thịt.
Các
Khenpo hộ trì luật, các Đạo sư kim cương hướng dẫn các
thực hành Kim Cương thừa, các vị hướng dẫn việc tụng
niệm, các Đạo sư và đệ tử, những người phụ trách những
nhạc khí nghi lễ, những người đặc trách tài chánh, các
thị giả v.v.. nên đảm nhận công việc theo trách nhiệm mà
không ăn ở hai lòng (nhị tâm) hoặc đạo đức giả. Nếu
người có trách nhiệm bị đau ốm và phải được miễn làm
việc thì cần tìm người thay thế. Bất kỳ khi nào một thành
viên trong Giáo đoàn bị đau ốm, người ấy cần được chăm
sóc và chữa trị thuốc thang, và nếu một thành viên của
Giáo đoàn qua đời, nên thực hiện những tang lễ và các
thực hành cần thiết để tích tập công đức theo một cách
thế đúng đắn, phù hợp với khả năng sẵn có.
Đừng
lãng phí bất kỳ điều gì, ngay cả môt cây kim hay sợi chỉ,
bởi đó là bộ phận của tài sản chung của Giáo đoàn. Hãy
đặc biệt chăm sóc các vật cúng dường, nhạc khí, các tấm
nệm, dụng cụ nấu bếp và v.v.., để không có vật gì bị
hư hỏng hay vỡ bể. Nếu có thứ gì bị mất mát hay vỡ
bể thì nó cần được thay thế. Bạn nên thanh toán tiền
cho mọi việc sửa chữa những thiệt hại nhỏ bé. Những
người làm việc trong tu viện nên giữ gìn đền chùa, các
khu sinh hoạt và mọi nền nhà được sạch sẽ và bảo dưỡng
tốt đẹp để chúng vẫn mang lại cảm hứng cho bản thân
họ và những người khác. Vị Thầy nghi lễ và các vị phụ
tá nên cẩn trọng khi làm và trang hoàng các vật cúng dường
torma và v.v.. theo truyền thống thích hợp, thực hiện các
lễ cúng dường theo cách thức tốt nhất trong khả năng, chỉ
sử dụng những thành phần tinh sạch và thuần tịnh, lau chùi
và để dành mọi vật liệu và đồ dùng họ đã sử dụng.
Những người nấu bếp và những người làm trong nhà bếp
nên giữ nơi làm việc sạch sẽ và hợp vệ sinh, và dọn
thực phẩm vào những thời gian thích hợp.
Các
Khenpo, Acharya và tất cả các vị giữ các địa vị cao cấp
và có thanh danh trong công việc không nên cố gắng làm người
khác biết ơn bằng cách phô bày mọi điều tốt lành họ
đã làm và quản lý. Những thành viên có địa vị thấp của
Giáo đoàn nên nhận ra lòng tốt của những vị có chức quyền
và tỏ lòng tôn kính các ngài. Hơn nữa, trong mọi lãnh vực,
mọi người đừng nên quan tâm tới những kẻ làm gương xấu
và chỉ theo những người tốt lành. Đây là những lời khuyên
dạy nói chung cho các Giáo đoàn.
Nguyên
tắc chỉ đạo về cách Hành xử Hàng ngày của Các Thành
viên trong Giáo đoàn
Thay
vì nằm lì trên giường, hãy trở dậy ngay khi chuông báo trước
rạng đông vang lên, và hãy thực hành ngondro, tụng những
bài nguyện nhật tụng khác và thực hiện sadhana của Bổn
Tôn riêng của bạn. Sau bình minh, hãy chùi rửa, dọn dẹp
căn phòng của bạn, và sau đó tham dự lớp học hay thực
hành nhóm. Khi lớp học hay thực hành nhóm chấm dứt, hãy
yên lặng trở về phòng bạn, chớ lang thang không mục đích
ở những nơi bạn muốn đến. Khi có chuông báo khóa thiền
định buổi tối, cổng chính phải đóng lại, và mọi người
nên thực hành ở phòng riêng, dâng những lời cầu nguyện
cho các Hộ Pháp và v.v.., và nghiên cứu càng nhiều càng tốt.
Sau đó, khi chấm dứt khóa tối, hãy thực hành yoga giấc ngủ,
và buổi sáng khi bạn thức dậy, hãy thực hành yoga thức
dậy từ giấc ngủ và làm mọi thực hành đã đề cập ở
trên.
Những
cuộc Hội họp chính yếu
Hãy
thực hiện những thực hành đúng đắn phù hợp với truyền
thống trong mọi dịp quan trọng, kể cả năm ngày đặc biệt
mỗi tháng [4] và năm ngày kỷ niệm chính trong năm, lễ hội
những điều huyền diệu (Chotrul Duchen), ngày 15 tháng tư âm
lịch (Saga Dawa Duchen), ngày mồng mười tháng thân [5], ngày
mồng bốn tháng sáu (Chokhor Duchen), ngày hai mươi mốt tháng
chín (Lhabab Duchen) và lễ tháng mười hai, cũng như thực hiện
tất cả những thực hành drupchen hay drupcho đặc biệt.
Hơn
nữa, bất kỳ khi nào một tín chủ bảo trợ một thực hành
trong ngày, Đạo sư kim cương, vị hướng dẫn việc tụng
niệm, Giới sư và người quản lý tài chính nên họp lại
trước khi thực hành và thảo luận về những gì cần làm.
Sau đó điều này phải được truyền đạt tới chopon một
ngày trước thực hành để mọi việc cúng dường có thể
được chuẩn bị và sắp xếp bằng một phương cách đơn
giản hoặc phức tạp khi có hoàn cảnh thích hợp. Họ cũng
thảo luận xem thực hành trong một ngày sẽ kéo dài bao lâu,
tùy theo độ dài của việc tụng niệm và v.v..
Nguyên
tắc chỉ đạo cho Thực hành Thực sự
Tù
và thổi lần thứ nhất để thông báo cho mọi người biết
một tu tập đang được tiến hành. Khi tiếng tù và cất lên
lần thứ hai, những người cùng thực hành sẽ đi tới cổng
phòng họp và cởi giày. Khi đặt các zen của họ một cách
cung kính trên cẳng tay, họ đi vào bên trong theo hàng lối
và sau khi dâng những lễ lạy, họ vẫn đứng đằng sau chỗ
ngồi của mình. Với tiếng tù và lần thứ ba, ngay khi Đạo
sư kim cương an tọa, toàn thể tập hội ngồi xuống theo thứ
tự thích đáng dựa trên thâm niên về giới luật và sự
uyên bác. Sau đó vị hướng dẫn việc tụng niệm bắt đầu
tụng.
Nếu
các tu sĩ và ngakpa thực hành tách biệt ở những nơi riêng
rẽ thì điều đó không thích đáng, nhưng vào những dịp
các tu sĩ và ngakpa cùng thực hành, tăng và ni nên ngồi trước
các ngakpa, hướng về phía trước tập hội, như một dấu
hiệu của sự tôn kính. Trong những hàng riêng của mình, các
hành giả nên ngồi thẳng lưng với đôi chân bắt chéo, và
không nghiêng ngả, đi lại, túm tụm lại, đùa giỡn, thiếp
ngủ, hay đứng dậy và bỏ đi trước khi chấm dứt khóa thực
hành.
Trong
lúc Giới sư ghi danh sách các hành giả trước khi buổi lễ
thực sự bắt đầu, những người tới muộn nên thực hiện
mười cho tới ba mươi lễ lạy ở giữa các hàng ghế chính
như một sự sám hối. Những người tới sau khi phần chính
của thực hành đã bắt đầu nên thực hiện từ ba mươi
tới năm mươi lễ lạy. Những người tới muộn hơn nữa
thì tùy hoàn cảnh, họ nên thực hiện năm mươi tới một
trăm lễ lạy. Các ngakpa không được phép mang con cái vào
phòng họp.
Nói
chung, bất kỳ làm thực hành nào, dù là một thực hành Kinh
thừa hay Mật thừa, nó cần được thực hiện một cách đúng
đắn phù hợp với các bản văn, đừâng trộn lẫn các yếu
tố của Kinh điển và thần chú.
Chỉ
có thể mang vào phòng họp những chiếc tô truyền thống và
những tấm vải trắng hình vuông có cạnh dài một phút (0,3m),
mọi loại bình chứa và giỏ đựng thực phẩm đều bị cấm
chỉ. Cách thức đúng đắn để cúng dường hay nhận lãnh
trà, thukpa và v.v.. nên được học tập bằng cách nhìn xem
các tu sĩ cao cấp làm việc đó ra sao. Việc này được làm
vào ban đêm, không sớm quá và cũng không trễ quá.
Khi
bạn tụng niệm, tránh phát âm sai các từ hay tụng nhanh hơn
hay chậm hơn những người khác. Đừng phô trương bằng cách
tụng lớn tiếng, nhưng tụng đều đều và nhẹ nhàng với
cường độ không quá cao hay quá thấp. Nói chung, trong các
‘nghi lễ trống’ chỉ Đạo sư kim cương mới có chuông
và chày. Trong các thực hành an bình hay các ‘nghi lễ chuông’
thì mọi người đang làm thực hành chính nên có một chày
và chuông.
Khi
rời tập hội, bạn hãy đi thật yên tĩnh và trật tự, không
nhảy bổ tới, không chạy lăng xăng hay xô lấn. Hãy đi ra
theo hàng lối, bắt đầu với hàng cuối cùng, và sau đó khi
bắt đầu thời khóa kế tiếp, hãy đi vào theo trật tự đúng
đắn, bắt đầu với những người ngồi phía trước.
Mọi
lễ cầu nguyện được cử hành cho người sống hay người
chết như được khẩn cầu, khi được Giới sư thông báo,
thì đừng nên quá ngắn.
Đối
với những thực hành như nghi lễ chay (nyungné) và Tara, là
những thực hành thuộc kriya hay charya tantra, bạn không nên
sử dụng trống sọ người, kèn bằng xương đùi (kangling)
hay bất kỳ loại trống nào có chứa đựng các dharani (đà
ra ni) của cấp độ tối cao của Thần chú bí mật.
Bất
kỳ khi nào bạn thực hành nghi lễ Mật thừa, bạn nên nương
tựa ‘bốn cánh cửa’ sau đây được đề cập trong các
bản văn của thần chú bí mật:
Cánh
cửa trì tụng để quán tưởng xác thực.
Cánh
cửa thần chú bí mật để khẩn cầu tâm trí tuệ.
Cánh
cửa thiền định để tập trung nhất tâm.
Cánh
cửa các ấn nghi lễ để truyền đạt ý nghĩa tượng trưng.
Khi
bạn ngồi trong tập hội, điều quan trọng là phải ngồi
thẳng lưng để những điểm trọng yếu của thân được
thẳng và các gió (khí) năng lực vi tế bên trong lưu chuyển
một cách đúng đắn. Điều này tạo ra những điều kiện
thích hợp cho việc quán tưởng xác thực. Trì tụng lời của
bản văn theo một nhịp đều đặn, không quá chậm cũng không
quá vội vã, và sử dụng những giai điệu được truyền
xuống từ những Vidyadhara vĩ đại trong quá khứ tạo nên
những điều kiện đặc biệt để việc quán tưởng thêm
phần rõ ràng, và để thành tựu mọi phẩm tính của việc
thiền định. Việc tiến hành trì tụng thần chú trong những
giai đoạn thích hợp phù hợp với bản văn nhằm khẩn cầu
tâm trí tuệ của Bổn Tôn. Khi trì tụng, nếu bạn cầm mala
(chuỗi hạt) trong bàn tay trái ngang trái tim và đếm túc số,
điều ấy sẽ làm cho việc quán tưởng thần chú xoay tròn
được rõ ràng. Bất kỳ khi nào bạn bắt ấn vào lúc cúng
dường, tán thán và v.v.., đó là khía cạnh động tác nghi
lễ có ý nghĩa tượng trưng.
Việc
thêm âm nhạc vào những nghi lễ thần chú không phải để
làm cho nghi lễ thêm phần hấp dẫn và gây ấn tượng. Đạo
sư vĩ đại Guru Rinpoche đã nói:
Sử
dụng âm nhạc trong thần chú bí mật nhanh chóng khẩn cầu
những ân phước.
Nếu
những loại âm nhạc tụng niệm hay giải trí có xuất xứ
từ những Trì Minh Vương trong quá khứ được duy trì đúng
đắn, chúng sẽ mang lại những ân phước vĩ đại. Nếu không,
việc tạo nên một âm thanh ồn ào bằng cách tụng những
bản văn với đủ loại giai điệu và sử dụng các nhạc
khí khác nhau mà không theo bất kỳ truyền thống chân thực
nào, sẽ được gọi là “thần chú bí mật lạc vào huyền
bí,” và là điều nên tránh.
Khi
bạn dùng chày và chuông, bạn nên cầm chày trong bàn tay phải
ngang trái tim. Nên cầm chuông bằng tay trái, không cao hơn nách
trái và ngang hàng với ngực. Khi rung chuông, hãy làm thật
nhẹ nhàng với ngón tay cái và ngón đeo nhẫn chứ không bằng
cả bàn tay. Khi bắt ấn, đôi bàn tay bạn nên giữ ngang trái
tim, cẩn trọng để tạo nên âm thanh tối thiểu với cái
chuông. Khi bạn đặt chày và chuông xuống, khuôn mặt của
Đức Phật Tỳ Lô Giá Na trên cán chuông hướng về phía cái
chày. Trống damaru nên được sử dụng chậm rãi và nhẹ nhàng
vào những thời điểm thích hợp, cùng với xập xõa rolmo.
Mỗi khi trống damaru được sử dụng cùng lúc tụng bản văn
thìø không dùng chuông. Khi sử dụng xập xõa rolmo, bạn nên
giữ cánh tay trái xa thân bạn, và chỉ hơi đưa bàn tay phải
lên, không giơ cao hơn bề rộng của bốn ngón tay. Các xập
xõa không nên đặt cái này ngay trên cái kia, chúng hơi gối
lên tạo thành một hình lưỡi liềm. Xập xõa silnyen được
sử dụng theo cách tương tự, ngoại trừ chúng được cầm
trong tư thế thẳng đứng. Khi đánh trống, nên cầm ở giữa
cán chiếc que đánh và nên đánh trống nhẹ nhàng và không
đánh ở giữa hay ở mép trống. Như có nói:
Đừng
khuấy động tận đáy sâu đại dương.
Đừng
đánh vào má sư tử tuyết.
Cũng
có câu nói rằng âm thanh tụng niệm không được lấn át
tiếng trống mà tiếng trống cũng không được át mất tiếng
tụng niệm, có nghĩa là trống nên được đánh đều đều
và êm dịu.
Kèn
trum-pét làm bằng xương đùi (kangling) được sử dụng trong
những dịp ‘xua đuổi,’ ‘đe dọa’ hay ‘thịnh nộ kinh
hoàng’ [6] cùng với xập xõa rolmo. Số lần nó được thổi
có thể học từ việc quan sát và chỉ dạy. Các trum-pét dài
(dungchen) và kèn cổ (gyaling) cũng được sử dụng cùng với
xập xõa rolmo, tùy theo cách ta được dạy. Ngoại trừ khi
được sử dụng để khẩn cầu kiết tường sau thực hành,
chúng nên ngừng lại một lát trước xập xõa rolmo. Đối
với tù và (bằng vỏ ốc xà cừ) thì cũng thế, ngoại trừ
việc nó chỉ được thổi vào các dịp ‘xua đuổi’ và
‘trục xuất.’ [7]
Nói
chung, Đạo sư kim cương và vị hướng dẫn việc tụng niệm
nên quyết định một thực hành sẽ kéo dài bao lâu và những
chi tiết của việc tụng niệm và âm nhạc trước thực hành.
Phần chính của thực hành nên được tiến hành theo một
nhịp độ vừa phải, không quá chậm và cũng không quá nhanh.
Vị Thầy nghi lễ (chopon) nên thi hành các bổn phận của mình
một cách đúng đắn, không sai lầm, làm mọi sự phù hợp
với những giáo huấn được ban cho trong các bản văn và vào
những thời điểm thích hợp. Trà và thukpa được dọn ra
khi Giới sư ra dấu hiệu. Những người phục vụ nên dọn
thực phẩm theo thứ tự từng hàng, không phạm bất kỳ sai
lần nào như đánh đổ, làm rơi rớt vật gì đó trên sàn,
và sau đó nên dọn dẹp sạch sẽ. Điều quan trọng là mọi
sự phải được thực hành một cách đúng đắn và cẩn trọng,
phù hợp với truyền thống do các Đạo sư vĩ đại trong quá
khứ truyền lại, và không đi theo đường tắt hay làm việc
cẩu thả và bừa bãi.
Theo
cách này, toàn bộ tập hội gồm vị lãnh đạo việc tụng
niệm, Thầy nghi lễ, Giới sư, những tu sĩ cao cấp, các đầu
bếp, người phục vụ trà, người quản lý, người quét tước
và v.v.., đứng dầu là Đạo sư kim cương, tất cả đều
phải cùng nhau làm việc, mỗi người làm công việc của mình
một cách đúng đắn, như được trình bày ở đây trong những
nguyên tắc chỉ đạo này, và không phó mặc mọi sự cho một
hay hai người. Bất kỳ khi nào một thực hành dài như một
drupchen được thực hiện trong vài ngày, ngay khi các người
tham dự an tọa, Giới sư nên dâng những lễ lạy từ cuối
hàng, và đọc to, rõ ràng và không sai lầm những nguyên tắc
chỉ đạo này để mọi người được khuyến khích thực
hành đúng đắn và duy trì những truyền thống trong quá khứ.
Mọi
lợi lạc và hạnh phúc đến từ giáo lý của Đức Phật,
Giáo
lý này lại tùy thuộc vào những Giáo đoàn hộ trì nó,
Vì
thế cầu mong Giáo đoàn giảng dạy và thực hành Kinh điển
và Mật điển,
Để
toàn thể thế giới trở thành một quốc độ toàn mỹ!
Bản
văn này được biên soạn theo lời khẩn cầu của một nhóm
đệ tử của Jikdral Yeshe Dorje (H.H. Dudjom Rinpoche), là một
đệ tử của Đức Phật Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), đã nghiên
cứu rộng rãi và diễn giảng triết học, và là một hành
giả cư sĩ và Vidyadhra (Trì Minh Vương). Cầu mong bản văn
này là nguyên nhân để việc nghiên cứu và thực hành các
giáo lý quý báu của Phái Cổ Dịch phát triển và truyền
bá sâu rộng!
Adam
dịch từ Tạng ngữ sang Anh ngữ. Xin chân thành cảm tạ Khenpo
Dorje đã trợ giúp những giải thích rõ ràng và chi tiết.
Nguyên
tác: “The Mirror Clearly Showing What to Adopt and Abandon
—Guidelines
for the Monastic Sangha and the Order of Vidyadharas ”
by
Kyabjé Dudjom Rinpoche
http://www.lotsawahouse.org/id34.html
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
[1]
dge ‘dun rig ‘dzin ‘dus sde’i bca’ yig blang dor gsal ba’i
me long, Người hộ trì sự thấu suốt, Trì minh vương.
[2]
Abhidharmakosha VIII, 39.
[3]
Theo nghĩa đen: ‘một tách sọ người’ hay kapala.
[4]
Ngày mồng 8, 10, 15, 25 và 30 mỗi tháng theo lịch Tây Tạng.
[5]
Gyurme Dorje và Matthew Kapstein trong Trường phái Nyingma của Phật
Giáo Tây Tạng, quyển 2, trang 99, số 1393 viết: “..phù hợp
với lịch Phukpa mới của truyền thống Mindroling, tháng thân
là tháng năm, và những hệ thống Tshurpu và Phakpa cổ hơn
thì tính đó là tháng bảy.”
[6]
Ý nghĩa của những thuật ngữ trong văn cảnh này không rõ
ràng.
[7]
Một lần nữa, ý nghĩa ở đây không rõ ràng.
Tuesday,
September 06, 2005
Dudjom
Rinpoche - flanked by Dordrak Rigdzin and Minling Chung
One
of the greatest masters of recent times, Kyabje Dudjom Rinpoche, was seen
by many of his contemporaries with the pure perception of seeing Padmasambhava
in person. Here is he photographed in the mid-1950s, at Samye transmitting
the Treasury of Precious Termas. It must have been just before Tulku Urgyen
Rinpoche met him in Lhasa and offered the Three Sections of the Great Perfection
(Dzogchen Desum). Lobpon Norbu La graciously allowed it to be scanned one
fine day I brought my laptop and portable scanner around Boudha. Thanks
go out to Lobpon Norbu La! (Click on the photo to get the large, un-touch-up'ed
format.)
Here
are more details of his precious life:
http://www.rangjung.com/rootfiles/authors.htm