TÌM
MỘ
Mâm
cỗ chay chiều ba mươi Tết vừa dọn xong trên ban thờ gia
tiên. Tôi đốt nhang trầm trong lư đồng nhỏ, cắm hai bình
hoa huệ trắng muốt hai góc ban thờ Phật và rót trà mạn
sen vào những tách sứ . Mẹ tôi mặc aó tràng nâu, tay cầm
chuỗi hạt, ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu hoa trải trước
ban thờ. Tôi vái một vái dài, thỉnh chuông mõ trên ban thờ
Phật xuống rồi cũng ngồi xếp bằng, sau mẹ.
Hương
trầm ngan ngát tỏa lan, quyện vào ánh nến ấm áp. Khung cửa
sổ mở rộng, nhìn ra vườn sau, ở đấy, hai cây mai tứ qúi
tôi cẩn thận tỉa lá từ trong năm, đang trổ những bông
vàng rực rỡ bên gốc lê gìa điểm nụ trắng tinh khôi.
Mẹ
tôi khai chuông. Sau lễ dâng hương, tôi nhịp mõ. Hai mẹ con
bắt đầu tụng phiên Kinh Bát Nhã.
Khi
mẹ chưa qua, trong những dịp lễ lạc, tôi hay đến chùa.
Ở đó, giữa bao Phật tử thành tâm tụng niệm, tôi thường
chỉ im lặng qùy gối suốt phiên kinh. Tiếng chuông mõ thường
đưa tâm hồn tôi bay bổng về quê hương, nơi bàng bạc có
tiếng chuông ngân từ ngôi từ-đường họ Nguyễn-Hữu. Ngôi
từ-đường đó, sau năm 86, mẹ tôi đã cùng với ít ỏi con
cháu giòng Nguyễn Hữu còn sót lại ở miền Bắc, chung lòng
chung sức hoàn thành để vong linh Ông Bà Tổ Tiên có nơi nhang
khói.
Tôi
tưởng mẹ đã tạm yên vui. Nhưng chưa.
Nhang
trên ban thờ gia tiên vừa tàn. Xấp nhỏ theo bố mẹ chúng
đi mua sắm chưa về. Tôi thắp thêm tuần nhang nữa. Hai mẹ
con quyết định chờ con cháu về mới dọn cỗ xuống cùng
ăn.
Vẫn
ngồi trên chiếu trong tư thế tụng kinh, mẹ bỗng nhìn tôi,
nói:
-Qua
Tết, mẹ định thu xếp về quê tìm mộ ông ngoại của cô.
Tôi
ngạc nhiên:
-Tìm
mộ ông ngoại con ? Làm sao tìm được ? Năm, sáu chục năm
qua mẹ không liên lạc được với ai ở bên ngọai, biết
bắt đầu từ đâu mà tìm ?
Mẹ
tôi ngước nhìn lên làn khói nhang lan tỏa trên ban thờ, nói
một cách tin tưởng: - Ông ngọai cô linh thiêng, sẽ phù
hộ cho mẹ tìm được.
Tôi
biết tính mẹ, tuy đôn hậu dịu dàng nhưng cương quyết.
Tôi biết, rồi mẹ sẽ về quê tìm mộ ông ngoại, như mẹ
đã từng quyết tâm dựng lại nhà thờ Tổ trên đất cũ
ở quê nội. Trên tinh thần, hai sự việc có thể mang ý nghĩa
như nhau, nhưng trên thực tế, việc tìm mộ ông ngoại tôi
, chắc chắn không giản dị.
Ông
ngọai mất khi mẹ mới mười bốn tuổi. Mẹ không hề có
được một tấm hình của ông, nhưng lạ thay, tôi vẫn thường
tưởng tượng được ông ngoại qua những mẩu chuyện mẹ
kể.
Ông
ngoại tôi là một, trong những người sáng lập ra công ty
rượu Văn-Điển, cung cấp rượu cho hầu hết miền Bắc.
Ông theo Tây học, đã từng xuất ngoại học ngành quản trị
xí nghiệp ở Paris. Dẫu thế, ông vẫn không qua khỏi những
cổ tục ở quê nhà. Bà ngọai tôi là vợ chính thức do sự
sắp xếp của đôi bên gia đình, nhưng chưa hề có một tờ
hôn thú cũng như chưa hề theo ông ra tỉnh. Bà ngoại tôi ở
quê đủ bốn mùa nắng mưa, đủ hai mùa cầy cấy, bình an
thanh thản. Ông cứ đi Tây đi Tầu, cứ ở Hà-Nội, Hải-Phòng,
Nghệ-An, Hà-Tĩnh... bao giờ ông ghé về quê thì bà lại tất
tả bắt gà vịt nấu nướng, hái những cây trái tươi tốt
nhất trong vườn mời ông nếm thử ...
Đời
làm vợ của bà ngoại tôi chỉ có thế nhưng ngọai tôi an
vui lắm. Mẹ tôi cho rằng ngoại an vui vì ngoại không hề
biết đòi hỏi.
Ông
ngoại tôi chu du khắp nơi rồi cũng trở về Hà-Nội. Ông
cưới bà vợ hai để hy vọng có con trai, với sự đồng ý
của gia đình, vì bà ngoại tôi chỉ có hai con gái là bác
Xuân và mẹ tôi. Bà vợ hai của ông là dân tỉnh thành nên
từ hình thức đến nội dung,bà hoàn toàn khác hẳn bà ngoại
tôi. Điều đó khiến bà ngoại tôi rất vui mừng vì yên lòng
ông đã có người tương xứng cận kề bầu bạn.
Việc
ông ngoại tôi cưới vợ hai, hầu như chẳng ảnh hưởng gì
nhiều tới gia đình, trừ mẹ tôi. Đây là một khúc quanh
đau thương của mẹ. Một năm, sau khi về làm bạn với ông
tôi, bà vợ hai đề nghị đưa mẹ tôi lên tỉnh. Bà nói rằng,
con gái học chữ tới lớp ba là đủ rồi, phải lên tỉnh
để bà dạy buôn bán, nội trợ ...
Với
tâm hồn đôn hậu, chất phác, bà ngoại đưa mẹ tôi lên
tỉnh để mẹ tôi được ở gần bố và được dì ghẻ dậy
dỗ những điều thiết thực hơn. Bà ngoại tôi không bao giờ
ngờ -và ngay cả ông ngoại tôi cũng không bao giờ biết -
rằng trong ngôi nhà nguy nga kia, với năm, bẩy kẻ hầu người
hạ, mẹ tôi đã bị đầy đọa thế nào. Tuổi thơ của mẹ
tôi là những lời chửi rủa tục tằn, những trận đòn vô
lý. Chị bếp nêm muối qúa tay, mẹ cũng bị lôi ra đánh vì
“Mày mải chơi ở đâu, sao không trông chừng con bếp nấu
nướng ? “. Anh làm vườn vô ý để gẫy nhánh hải-đường,
mẹ cũng bị một trận roi mây vì “ Mày không biết nhắc
nhở thằng Cán là phải nhẹ tay hả ? “....Như thế, tuổi
thơ của mẹ tôi là từng chuỗi dài sợ hãi, hồi hộp từng
phút từng giây không biết lúc nào, chuyện gì xẩy ra , ở
đâu, và roi mây từ tay người dì ghẻ sẽ ráng xuống như
mưa rào. Trong những cơn mưa rào ấy, mẹ chỉ có thể làm
được hai việc là khóc và xin lỗi bà dì ghẻ. Khóc là phản
ứng tự nhiên của thể xác, vì bị đòn đau, nhưng xin lỗi
bà dì ghẻ thì cho đến bây giờ, mẹ tôi cũng không hiểu
tại sao phải xin lỗi.
Mỗi
khi mẹ tôi kể chuyện cũ, tôi thường tức giận mà hỏi,
sao mẹ tôi không mách ông ngoại. Thật là tội nghiệp, mẹ
tôi sợ bà dì ghẻ tới mức nếu mách ông mà bà ta biết
được, chắc bà ta sẽ cầm dao phay, chặt mẹ ra từng khúc
!!!.
Thế
nên, hơn bẩy năm trời sống gần bố là hơn bẩy năm sống
trong địa ngục . Những người thương yêu và che chở cho
mẹ tôi chính là bà bếp, anh làm vườn, chú tài xế, con sen
...Nhưng họ cũng chỉ là tôi tớ trong nhà, họ có nhận hết
lỗi lầm của họ thì mẹ tôi cũng vẫn bị đòn. Họ chỉ
còn biết xót xa, lấy dầu xoa bóp cho mẹ sau mỗi trận mưa
roi ...
Thời
thơ ấu tối tăm,đau đớn này của mẹ, tôi có viết ngàn
trang cũng chưa hết. Tôi chỉ gợi lên một phần nhỏ để
phác họa về những bối cảnh quanh ông ngoại tôi. Ông là
mẫu người có đầy đủ tất cả trong xã hội , từ tiền
tài danh vọng tới vợ đẹp con ngoan. Vậy mà, thảm kịch
đã đến khi mẹ tôi mới mười bốn tuổi.
Thảm
kịch này chỉ một mình ông ngoại tôi biết nguyên nhân, và
cái nguyên nhân ấy đã theo ông xuống lòng đất lạnh.
Mùa
hè Hà-Nội, trời nóng và khô. Hè cũng là mùa có nhiều cây
trái ngon nhất trong năm. Nhưng ông ngoại tôi không thích gì
ngoài chuối tiêu. Ông có thể ăn cả nải chuối một lúc
nếu bữa cơm nào nhằm món không được vừa ý. Mẹ tôi biết
thế, lúc nào cũng chọn những qủa chuối chín vàng, thơm
ngon nhất, để sẵn trong phòng ông.
Hôm
đó là ngày 17 tháng 8 năm 1936, ông gọi chú tài xế đến
sở đón ông về sớm hơn mọi ngày. Thấy ông tôi về sớm,
mẹ tôi vội vã chạy lên lầu, chuẩn bị phòng tắm để
ông đi tắm cho khỏe. Bà dì ghẻ thì đang bận rộn với mấy
người hàng cốm, vừa gánh những mẹt cốm ngon nhất mùa
tới theo lời bà dặn.
Mẹ
tôi lo phòng tắm cho ông tôi xong, chạy xuống nhà bếp xem
chị bếp đang nấu món gì. Mẹ xắt chưa xong mấy củ su hào
thì chợt nghe từ trên lầu, một tiếng nổ chát chúa như
tiếng súng. Chị bếp nghĩ là mấy đứa trẻ hàng xóm lại
rình rập bắn chim bằng ná, những viên sỏi lớn bằng ngón
tay cái thường rơi lộp độp trên mái bếp.
Mẹ
buông su hào, chạy lên phòng ông ngoại. Mẹ không tin tiếng
động vừa rồi là tiếng sỏi bắn chim.
Cửa
phòng ông ngoại tôi chỉ khép hờ. Mẹ run giọng, gọi khẽ
:
-Thầy
ơi !
Không
có tiếng ông ngoại tôi trả lời, mẹ đẩy nhẹ cửa, bước
vào.
Ông
ngoại tôi nằm vắt nửa người trên giường, nửa người
như nhoài xuống đất. Khẩu súng lục văng trên nền đá hoa,
máu loang đỏ cả tấm khăn phủ giường mầu trắng...
Mẹ
tôi không thể nhớ nổi đã sợ hãi, đã đau đớn đến thế
nào, cũng không thể nhớ đã chết lặng trước thi hài ông
bao lâu. Chỉ biết khi mẹ đủ sức vùng chạy xuống nhà,
bà dì ghẻ vẫn đang kỳ kèo thêm bớt với bà hàng cốm.
Mẹ vừa nấc, vừa lắp bắp nói:
-Thầy
...thầỵ...chết ... rồi ...
Dù
hốt hoảng, bà vẫn theo thói quen, giơ tay giáng hai cái tát
nẩy lửa hai bên má mẹ, quát lên:
-Mày
nói gì nhảm nhí thế, hả con chết bằm ?
Mẹ
đã từng bị đánh chửi oan ròng rã bẩy, tám năm trời nhưng
chưa bao giờ mẹ cảm thấy uất ức, thù ghét, khinh miệt
bà dì ghẻ như phút giây đó. Có lẽ, trong tiềm thức, mẹ
câm lặng, nhịn nhục vì yêu thương ông ngoại. Nếu ông biết
mẹ bị dì ghẻ hành hạ, ông sẽ buồn và gia đình sẽ xào
xáo. Ông vừa chết rồi, sự nhịn nhục bấy lâu như ùa vỡ.
Mẹ nhớ rằng, mẹ bỗng cảm thấy cứng cỏi, mạnh mẽ.
Mẹ nhìn thẳng bà dì ghẻ, và, lần đầu tiên trong đời,
mẹ dám đổi cách xưng hô:
-Tôi
nói, thầy tôi chết rồi, vừa chết rồi, bà nghe chưa ?
Mở
lớn mắt, thực sự hốt hoảng, bà dì ghẻ vụt chạy lên
lầu.
Hầu
như bao nhiêu sức lực của mẹ chỉ có chừng ấy. Mẹ khóc
nức lên rồi ngất xỉu.
Cái
chết của ông ngoại tôi như thế. Đầy tức tưởi, đầy
nghi vấn, nhưng theo lời mẹ tôi, trong gia đình không ai dám
tỏ lộ niềm nghi hoặc.
Đám
tang ông ngoại tôi lớn lắm. Ngoại họ hàng thân thuộc, bè
bạn khắp nơi, phủ Toàn Quyền Đông Dương cũng cử phái
đoàn tới phân ưu. Ai cũng tiếc rằng một người đang có
đầy đủ hết mọi thứ trên đời như ông ngoại tôi, sao
lại vì, buồn chuyện chi mà tự sát !!!.
Ông
ngoại tôi được mai táng ở nghĩa địa Bạch Mai, tỉnh Hà-Nội.
Ngay
sau tang lễ, mẹ tôi trở về quê sống với bà ngoại tôi.
Trong
sáu chị em tôi, có lẽ chỉ có tôi là thỉnh thoảng lại
thắc mắc về cái chết của ông. Mỗi tuổi, sự thắc mắc
của tôi mỗi lớn dần. Nhưng tôi không biết hỏi ai ngoài
bà ngoại và mẹ. Bà ngoại tôi thì không sống gần ông, lại
qúa chất phác, còn mẹ tôi, khi thảm kịch xẩy ra mẹ chỉ
là một cô bé yếu đuối, nhút nhát. Cả hai người không
giúp gì nhiều cho tôi với những dấu hỏi mà, đối với
tôi, phải có một giải đáp thích đáng.
Tôi
cũng thực sự không hiểu tại sao tôi cứ bận tâm về cái
chết của ông ngoại như thế. Mỗi năm, đến ngày giỗ ông,
tôi lại còn ngớ ngẩn xin ông linh thiêng phù hộ cho tôi biết
được nguyên do nào khiến ông phải tự sát tức tưởi như
thế. Ở thế giới nào, ông có cảm động về những băn
khoăn của đứa cháu mà ông chưa từng biết đến hay không
?.
Một
lần, tôi mua tặng mẹ chiếc vòng hổ phách. Mẹ tôi ngắm
nghía, mỉm cười. Tôi sung sướng hỏi:
-Mẹ
thích không ?
Thật
bất ngờ, mẹ tôi trả lời:
-Thích.
Chiếc vòng này làm mẹ nhớ ông ngoại cô. Ngày xưa ông cũng
cho mẹ chiếc vòng tương tự như chiếc này khi ông đi Nam-Kinh
về.
Tôi
ngạc nhiên:
-Nam-Kinh
? Bên Tầu ? Ông đi Tầu về ?
-Ừ,
ông đi Tầu luôn.
-Sao
mẹ nhớ được cái tên Nam-Kinh ? Sao con không bao giờ nghe
mẹ nói đến ?
Mẹ
tôi lại mỉm cười:
-Cô
có hỏi đâu mà mẹ nói. Còn mẹ nhớ được tên Nam-Kinh vì
khi ông ngoại cô đưa chiếc vòng cho mẹ, ông bảo là những
người cùng đi với ông nói, vòng hổ phách đẹp nhất chỉ
có ở Nam-Kinh.
Tôi
không dấu được sự hồi hộp:
-Mẹ
còn giữ không ?
Mẹ
tôi thở dài:
-Mẹ
chỉ được đeo có một ngày hôm đó. Bà dì ghẻ bảo tháo
ra đưa bà giữ cho kẻo mất. Thế là mẹ mất luôn từ đó.
Câu
chuyện chiếc vòng hổ phách cho tôi hy vọng có thể có thêm
dữ kiện về cái chết của ông. Điều khó là tôi không biết
mẹ tôi biết những gì để hỏi, và nếu tôi không biết
hỏi, mẹ tôi cũng không bỗng dưng nhớ để nói ra.
Một
lần khác, chở mẹ trên xa lộ, mẹ tôi bảo:
-Cô
lái xe nhanh qúa, coi chừng bị phạt đấy.
Tôi
giảm tốc độ rồi cười với mẹ rằng:
-Lái
xe nhanh cũng thú lắm, nếu con có tiền cũng không mướn tài
xế đâu. Ngày xưa các cụ con nhà giầu đều có tài xế riêng,
chắc chẳng cụ nào biết lái xe, mất một cái thú trên đời.
Mẹ
tôi buột miệng:
-Ông
ngoại cô biết lái xe đấy chứ, nhưng lần đó, lái thế
nào lại đâm vào xe của ông Toàn Quyền người Pháp.
-Trời,
tài xế đâu mà ông ngoại phải lái xe ?
-Chẳng
hiểu sao ông ngoại cô cho tài xế nghỉ hôm đó. Buổi sáng
ông lái xe đi, nhưng trưa không thấy về ăn cơm mà mãi
tận chiều tối mới thấy ông. Mẹ nghe lõm bõm ông nói với
bà dì ghẻ là lỡ đụng phải xe ông Toàn Quyền trên dốc
đê Yên-Phụ. Khúc quanh đó nguy hiểm lắm, lại không phải
là đường ông ngoại cô đến công ty. Không biết ông đi
đâu. Ông Toàn Quyền người Pháp không sao nhưng hai chiếc
xe đều bị vỡ đèn và móp méo. Rồi ông ngoại cô phải
tới ty cảnh sát khai báo và làm mọi thủ tục rắc rối.
Mẹ
tôi nói lại mẩu chuyện cũ bằng một giọng bình thản, nhưng
tôi cảm thấy tim mình như đập loạn nhịp khi mẹ nói thêm
rằng tai nạn đụng xe chỉ mới ba ngày trước khi ông tự
sát.
Hôm
đó, ngay khi về tới nhà, tôi lao vào phòng, lục kệ sách,
tìm cuốn sử về cuộc cách mạng cận đại những thập niên
ba mươi, bốn mươi. Tôi đọc được những giòng “...Tháng
tám năm 1934, tại Nam-Kinh, các nhà cách mạng Vũ hồng Khanh,
Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lãm cùng các đại biểu Việt
Nam Quốc Dân Đảng đến từ Xiêm, Quảng Tây và từ trong
nước ra để bí mật chuẩn bị hội nghị. Hội nghị này
nhằm kết hợp anh em cách mạng tất cả các đảng phái thành
một tổ chức duy nhất, gom sức chống ngoại xâm ....”
Tôi
đã ngồi lặng nhiều buổi, kết nối những sự việc ít
ỏi mà tôi biết được về ông ngoại để tìm cho riêng mình
một lời giải đáp. Với tôi, ông là một đảng viên Việt
Nam Quốc Dân Đảng đã từng bôn ba nhiều lần sang Côn Minh,
Nam Kinh bên Tầu để gặp các nhà cách mạng lưu vong, hầu
tìm một giải pháp tranh đấu cho nền độc lập của xứ
sở. Ở một thời điểm đúng, cho một sứ mạng nào đó,
ông đã cho anh tài xế nghỉ việc để tự mình lái xe, đâm
vào xe của viên Toàn Quyền. Việc không thành như mưu định,
ông phải tự giải quyết bằng phát súng định mệnh để
khỏi liên lụy anh em khác. Đó là cách giải quyết mà tôi
thường đọc thấy trong sử liệu về các nhà cách mạng của
Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Gạn
lọc nhiều gỉa thuyết, tôi vẫn không tìm được kết luận
nào tương đối có thể chấp nhận được hơn. Có điều
lạ là từ khi tự tìm cho mình lời giải đáp đó, mỗi lần
giỗ ông ngoại, lòng tôi không còn ray rứt nữa. Tôi hãnh
diện được có ông ngoại, một người không cúi đầu trước
ngoại xâm, không hèn nhát ích kỷ hưởng phú qúy sang giầu
mà quên mối nhục của người dân bị trị.
Hơn
sáu mươi năm đã trôi qua. Mẹ tôi, nay da đã mồi, tóc đã
bạc, cố trở về quê xưa một lần tìm lại mộ cha dù không
có một chi tiết nào hơn ngoài bốn chữ: nghĩa địa Bạch-Mai,
nhưng nghĩa địa này đã bị san bằng từ nhiều năm qua !!!.
Vậy
mà, như phép lạ, mẹ tôi tìm đến được người giữ sổ
nghĩa địa năm xưa. Họ nói rằng, có thông báo trước khi
san bằng, để ai có thân nhân thì lo dời đi. Theo sổ sách,
mộ ông ngoại tôi đã được dời lên nghĩa trang Tân-Kỳ
thuộc Sơn-Tây, do một người ở Thịnh-Hào, thuộc Ô Chợ
Dừa đảm trách. Họ cho mẹ tôi địa chỉ người ở Thịnh
Hào.
Khi
mẹ tôi tìm đến, gia đình này đã dọn đi khỏi từ hai năm
nay, chủ nhà mới không biết họ đi đâu...
Cùng
với hai người cô bên ngoại, mẹ tôi ôm gói nhang đèn, vừa
khóc vừa leo lên đồi khu nghĩa trang Tân-Kỳ tìm ngôi mộ
số 16, khu E dãy 14 ...
Trên
ngọn đồi lộng gío, những ngôi mộ trắng, mấp mô, nằm
im lìm giữa những bụi gai dại , những lùm hoa vàng anh, hoa
nghệ tím, xen lẫn dăm gốc hoa dừa trắng đỏ, lay động
trong làn gío se lạnh...
Khi
người cô nói: <Đây rồi !!>, là lúc mẹ tôi qụy xuống
như một tàu lá trong cơn bão lớn. Sáu mươi năm, mẹ tưởng
như chớp mắt, dù cuộc đời đã trải qua bao cảnh bể dâu
...
Tấm
bia cổ nguyên thủy trên mộ ông ngoại được người dời
mộ mang đi theo việc cải táng lên nghĩa trang Tân-Kỳ, mẹ
tôi còn nhận ra được. Tấm bia ghi tên ông và những giòng
chữ bằng tiếng Pháp:
CI GIT
Trần Quang Vinh
Decede Le 17 Aôut 1936
Trước
khi rời Việt Nam, mẹ tôi đã xây lại mộ ông ngoại. Tấm
bia mới được ghi:
Thầy Trần Quang Vinh
Mất ngày 17 tháng 8 năm 1936
Tại Hà-Nội
Góc
phải tấm bia, mẹ gắn miếng đồng nhỏ tôi đã làm sẵn
đưa mẹ. Miếng đồng chỉ khắc bốn chữ: Vị Quốc Vong
Thân.
Linh
linh ngoc.