ÁO
SĨ PHU
Đó
là mùa hè năm Ất Mão 1915.
Mọi
sinh hoạt trong Điện Kiến Trung vẫn như thường nhật. Sau
khi dùng điểm tâm, Hoàng-đế Duy Tân dạo quanh đầm Hậu
Hồ chốc lát, nhìn đàn chim bay, ngắm hoa sen nở trước khi
về thư phòng bắt đầu hai chương trình học Hán văn và Việt
văn với hai ông phụ đạo Mai Khắc Đôn và Huỳnh Côn. Tuy
mới mười lăm tuổi nhưng Hoàng- đế luôn nghiêm túc trong
việc văn ôn võ luyện. Chỉ những giờ học tiếng Pháp với
ông giáo Eberhardt hoặc Arard là lính hầu mới có dịp thỉnh
thoảng thấy đôi chút cử chỉ hoặc lời nói bất thường
của Ngài mà thôi. Như buổi chiều nay chẳng hạn. Khi giáo
sư Arard bước vào phòng học thì thấy vua Duy-Tân ngồi yên
lặng trước án thư, hai tay chống cằm và những sách tiếng
Pháp vứt la liệt trên nền nhà.
Không
tỏ vẻ gì ngạc nhiên, giáo sư nói:
-Muôn
tâu Hoàng-thượng, đã đến giờ học, xin Hoàng-thượng nhặt
sách lên.
Vẫn
ngồi yên, vua Duy-Tân nhìn giáo sư Arard và cao giọng:
-Ta
không nhặt. Ta là Vua. Chính thầy phải nhặt.
Rất
trầm tĩnh, giáo sư Arard nói:
-Muôn
tâu, Hoàng-thượng thừa biết rằng Hoàng-thượng là người
phải nhặt. Hoàng- thượng cũng còn biết rằng, ngay bây giờ,
nếu tôi bước ra khỏi phòng này, tôi sẽ không bao giờ trở
lại nữa.
Cơn
giông bão trong lòng vị Hoàng-đế trẻ dịu dần lại. Giáo
sư Arard là một ông thầy uyên bác, điềm đạm, tận tâm
mà nhà vua rất qúi mến. Làm sao có thể trút sự tức giận
các quan Thượng-thư của triều đình lên ông thầy khả kính
này ?.
Bằng
cử chỉ phục thiện, nhà vua đứng dậy, lẳng lặng nhặt
hết sách rải rác khắp phòng, đặt ngay ngắn trên bàn rồi
đến trước giáo sư, nhà vua nói:
-Xin
thầy tha lỗi. Nào, chúng ta bắt đầu buổi học được rồi
chứ ?.
Giáo
sư Arard mỉm cười và rất hài lòng. Tự thâm tâm, giáo sư
đã nhìn thấy người học trò vương gỉa này có một tư
cách lãnh tụ bén nhậy. Dù tuổi còn nhỏ, nhà vua đã biết
tự chế và nhanh chóng chọn được những quyết định sáng
suốt khi cần đến.
Nếu
giáo sư biết được nguyên nhân sự tức giận của nhà vua
chiều nay thì giáo sư sẽ còn nhìn thấy thêm một khía cạnh
khác ở người học trò đặc biệt của ông. Khía cạnh này
không biết sẽ làm ông buồn hay vui. Đó là sự bất mãn của
nhà vua về thái độ nhu nhược của các quan Thượng-thư triều
đình đối với người Pháp. Giữa điện Thái-Hoà, vua Duy-Tân
đã quát lên:
-Ai
cho phép các ông đào xới lăng tẩm ?.
Ông
phụ đạo Huỳnh Côn vội qùy xuống:
-Muôn
tâu Hoàng-thượng Khâm sứ Mahé truyền ông De La Susse đến
gặp chúng thần, nói là có người tiết lộ rằng có kho vàng
chôn dấu, muốn đào thử ...
Nhà
vua ngắt lời, quát lớn hơn:
-Lăng
tẩm thuộc về ai ?
-Muôn
tâu ...thuộc triều đình.
-Vậy
sao các ông tuân lời người Pháp ?
Các
quan sợ hãi, đồng qùy xuống. Một vị cố giải thích:
-Muôn
tâu Hoàng-thượng, chúng thần đã từ chối, nói rằng việc
này liên quan tới tất cả các Bộ, phải có sự đồng ý
và thông qua của tất cả. Ngày hôm sau, ông De La Susse đã
triệu tập buổi hội và soạn thảo biên bản ...
Sự
tức giận của vua Duy-Tân trở nên cay đắng:
-Hừ,
thì ra mọi người đều được biết, trừ ông vua !.Không
một ai lo việc thi hành mệnh lệnh của vua nhưng ai cũng răm
rắp tuân hành lệnh ngoại xâm. Ta chỉ là ông vua bù nhìn
thôi ư ?
Các
quan vội đi mời Hoàng-Thái-hậu tới. Đang cơn tức giận,
nhà vua nói luôn:
-Mẹ
cũng chỉ một Hoàng-Thái-hậu hư danh mà thôi.
Các
quan đưa mắt cầu cứu Thượng-thư Nguyễn Hữu Bài là người
mà nhà vua rất qúi mến. Thượng- thư nhìn vị thiếu quân,
lòng vô cùng đau xót. Ông nói:
-Muôn
tâu, Hoàng-thượng muốn chống đối người Pháp, muốn đánh
đuổi người Pháp ra khỏi đất nước ư ? Nhưng Hoàng-thượng
lấy gì để đánh ?. Chúng ta không có tiền bạc, không có
vũ khí, không có quân lính tinh nhuệ. Chúng ta phải chờ thời
cơ.
Vua
Duy-Tân nhìn mông lung qua khung cửa rồi bất thần nói:
-Đây
là lúc phải xúi dân chúng nổi dậy. Sức mạnh ở trong dân
chúng, của cải ở trong dân chúng, quân lính ở trong dân chúng.
Nếu chúng ta biết sử dụng, đó chính là tài sản của chúng
ta.
Trước
những ánh mắt sợ hãi, ngơ ngác của các quan, vị vua trẻ
hầm hầm bước ra khỏi phòng.
Sau
đó, cơn thịnh nộ đã dồn xuống những quyển sách tiếng
Pháp. Vậy mà, chỉ một lời nói điềm đạm của giáo sư
Arard đã khiến nhà vua tự chế được cơn cuồng phong trong
lòng.
Tất
cả sự giận dữ, buồn bực của nhà vua không qua khỏi mắt
một người trẻ tuổi. Đó chính là người tài xế Phạm-Hữu-Khánh.
Anh ta là một đảng viên ưu tú của Việt-Nam- Quang-Phục-Hội
đã được các nhà cách mạng Trần-Cao-Vân và Thái-Phiên thu
xếp vào làm tài xế riêng cho Hoàng-đế để dò xét ý vua
về tư tưởng cách mạng, đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi đất
nước. Với tuổi trẻ và kiến thức rộng rãi, Phạm-Hữu-Khánh
thường được vua Duy-Tân đối xử thân mật như anh em bạn,nhưng
Khánh chưa bao giờ dám lạm bàn tới chuyện chính trị. Anh
ta vẫn chờ đợi một thời điểm thật đúng. Thời điểm
đó chính là sau giờ học tiếng Pháp này.
Khi
giáo sư Arard vừa ra khỏi phòng, Khánh bước vào ngay. Anh đến
gần nhà vua, nói nhỏ:
-Muôn
tâu Hoàng-thượng, thần có một chuyện tối mật để khẩn
trình.
Hoàng-đế
Duy-Tân thoáng ngạc nhiên, nhưng nhanh trí, Ngài nhìn toán lính
lệ rồi nói:
-Cho
lui hết. Còn Phạm Hữu Khánh đi pha cho ta bình trà sen rồi
mới được lui.
Khi
chỉ còn hai vua tôi, Khánh đã dâng lên vua Duy-Tân lá huyết
thư của nhà cách mạng lão thành Trần Cao Vân. Lá thư có
những lời khẳng khái như: “Thiên khải thánh minh, hữu bài
Pháp hưng binh chi chí.Địa sinh tuấn kiệt, hữu truất dân
thảo tặc chi quyền “. Nghĩa là: Trời sinh Vua thông minh ,
sẵn có chí khí cử binh chống Pháp. Đất sinh người tài
giỏi, có quyền đuổi giặc thương dân.
Đoạn
thư thống trách người Pháp thì có những lời bi thiết như:
“Phụ-hoàng Hoàng- đế hà tội kiến thiên ?. Dực tôn tôn
lăng, hà cớ kiến quật ?”. Nghĩa là: Vua cha có tội gì mà
đầy ải ?. Lăng vua Tự-Đức, vì cớ gì mà sai đào xới
? ....
Vị
vua trẻ bồi hồi rơi lệ.
Phạm
Hữu Khánh vội vã qùy xuống, dâng trà. Nhưng nhà vua đã rời
phòng. Chỉ vài phút sau, Ngài đã ngồi trên lưng bạch mã,
hướng về cửa Thượng-tứ ....
Vào
khoảng trung tuần tháng tư năm 1916, khi Hoàng-Qúi-Phi từ hậu
cung cánh hữu của điện Kiến Trung, đi sang lầu cánh tả
để vấn an Hoàng-đế thì Bà chợt thấy bên bờ đầm Hậu
Hồ, một ông lão đội nón rơm rộng, ngồi câu. Gặp vua Duy-
Tân, bà hỏi:
-Muôn
tâu Hoàng-thượng, sao lại có người lạ vào câu trong Hậu
Hồ ?
Nhà
vua chợt xúc động, hỏi lại:
-Hoàng-Phi
thấy gì ?
-Muôn
tâu, thần thiếp thấy một lão gìa ngồi câu ...
Nhà
vua cắt ngang:
-Không
sao, không sao đâu. Họ nghèo, cho họ vào câu kiếm ăn mà,
Qúi phi đừng bận tâm, cũng ...đừng nói lại với ai nhé.
Tuy
hơi ngạc nhiên về thái độ của Hoàng-đế, Hoàng-Quí-Phi
cũng cúi đầu, khẽ nói:
-Xin
vâng.
Khi
Hoàng-Quí-Phi trở về hậu cung, ông lão câu không còn bên
đầm Hậu-Hồ.
Ông
đã được bí mật đưa vào nội cung, chờ gặp Hoàng-đế
Duy-Tân !.
Nắng
đã lên cao. Mọi sinh hoạt như đang đổ dồn về Chợ Cồn.
Từ
con đường đất bên bờ sông Hàn tới dọc đường xe lửa
dẫn tới nhà ga, từng đoàn người quang gánh, thúng mẹt,
xe thồ, chất đầy hàng hóa, rau cỏ, hoa trái...Ai cũng vội
vã mau tới địa điểm họp chợ. Chợ Cồn chỉ họp mỗi
tháng hai lần nên người mua kẻ bán khắp các vùng lân cận
Đà Nẵng đều nao nức trông chờ.
Từ
miền quê nghèo nắng cháy, một ông lão râu dài, tóc bạc
gánh một gánh thuốc Nam đủ loại. Cùng đi với lão là một
thanh niên khoảng hơn ba mươi, xách hai tay nải đựng nhiều
chai lọ gồm các loại thuốc nước chữa bệnh thông thường
ngoài da. Đó là hai thầy trò bán thuốc dạo, có mặt ở hầu
hết các phiên chợ dọc theo Ngũ Hành Sơn. Không biết thuốc
của họ có hiệu nghiệm lắm không nhưng ai đã dừng lại
thì thế nào cũng mua ít nhiều vì ông lão mời chào những
loại thuốc rất thông dụng. Nhà ai mà chả có người bị
ngứa, bị ghẻ, bị nhức đầu sổ mũi, bị đau bụng đau
lưng ... Ông lão bán thuốc đau bụng, lại bảo cậu thanh niên
biếu thêm chai thuốc sức ghẻ. Ai mua thuốc sổ, lão lại
tặng thêm lọ dầu con cọp ....Cứ thế, người dừng lại
mỗi lúc mỗi đông.
Nhưng
có lẽ người ta dừng lại không phải chỉ vì được tặng
thuốc mà còn vì bị thu hút bởi phong cách của lão ông. Ngoài
mái tóc bạc phất phơ, chòm râu dài đạo mạo, lão còn có
vầng trán cao, đôi mắt sáng mà khi nhìn ai, người đó cảm
thấy như đã bị cái khí phách đạo sĩ của lão thu phục.
Lão ăn mặc đơn giản lắm. Đầu đội chiếc khăn nhiễu
thâm đã bạc mầu, chân đi dép da trâu và chiếc quần xám
thật đi đôi với tấm aó vải ta, nhuộm mầu chàm. Chiếc
aó tuy thô sơ nhưng rộng như loại aó choàng và được may
hai lớp nên trông khá tươm tất. Dù trời lạnh hay nóng, nắng
hay mưa, chiếc aó đó luôn luôn khoác bên ngoài chiếc aó cánh
mầu xám tro cũ kỹ. Chàng thanh niên thì đúng là hình ảnh
một cậu học trò nhà quê. Cậu mặc aó the thâm, quần cháo
lòng, chân đi dép mủ. Hai thầy trò, kẻ mời, người bán,
trông vui vẻ, bận rộn lắm ...
Giữa
đám đông dân chúng bu quanh gánh thuốc, không biết có ai để
ý thấy hiện tượng lạ này không. Đó là, có những người
chỉ đứng xem, không hề mua hàng nhưng vẫn được người
thanh niên đến, tặng cho một gói thuốc nhỏ sau khi ghé tai,
thì thầm. Có lẽ là dặn cách dùng thuốc chăng ?.
Hai
thầy trò, tuy bán đắt hàng nhưng ít khi nào ở lại đến
khi tan chợ . Họ thường dọn hàng sớm và đi về hướng
núi Bạch Mã. Phiên chợ này cũng thế, nhưng hôm nay, trước
khi dẹp hàng, ông lão tốt bụng đã tặng dân làng hết số
thuốc còn lại. Bà con áy náy, móc hầu bao muốn trả lão
dăm hào, nhưng lão xua tay nói: Lương y như từ mẫu.
Ánh
đuốc bập bùng làm ấm hẳn khu rừng hoang vu trên núi Sơn-Trà.
Khu rừng được bao bọc bởi những bờ đá cao nên rất kín
đáo. Ai mà muốn mạo hiểm vào đó làm chi khi những cây cổ
thụ ngàn năm đã là hang ổ của bao rắn rết, thú hoang ...Vậy
mà đêm nay, từ khắp phía, từng bóng đen lần mò trong đêm
...
Họ
đang đi đến điểm hẹn.
Dưới
gốc đại thụ, một khoảng đất vừa được khai quang bằng
phẳng, ở đó đặt một chiếc bàn gỗ đơn sơ trên có lư
hương, nhang đèn. Rải rác đứng ngồi trên các mỏm đá quanh
đó là những thanh niên trẻ. Họ chính là những người đã
được anh bán thuốc đến gần, tặng thuốc rồi thì thầm
... Thì ra, không phải họ được căn dặn cách dùng thuốc
mà là được mời tới điểm hẹn đêm nay. Tất cả đang
chờ một người xuất hiện .
Và
người đó đã tới kia !.
Đó
là lão ông bán thuốc dạo.
Nhưng
đi cùng lão ông không phải là anh học trò nhà quê nữa vì
đêm nay anh ta vận quần chẽn đen, aó da bò, đi ủng cao. Anh
có dáng dấp của một tráng sĩ.
Chờ
cho những tiếng xì xào lắng xuống, lão ông bước lên một
hòn đá cao, nhìn một lượt, khắp mọi người. Trong bóng
đêm, đôi mắt lão rực sáng như hai vì sao và giọng nói của
lão sang sảng tưởng như có thể đốn ngã cây rừng, chém
vỡ đá núi:
-Thưa
toàn thể qúi anh em, tôi xin tự giới thiệu, tôi là Trần-Cao-Vân
...
Những
tiếng reo, vừa kinh ngạc, vừa mừng vui, lao xao tứ phía như
muôn lớp sóng xô bờ : Trời, cụ Trần đó ư ? . Có phải
cụ đã từng làm đạo sĩ ở chuà Cổ Lâm ,huyện Đại-Sĩ
?. Rồi cụ vào Bình-Định gỉa làm nghề địa lý để đi
lại đó đây nghe ngóng tình hình. Ôi, năm mới hơn ba mươi
tuổi, cụ đã bị bắt vì âm mưu cướp chính quyền. Ấy
thế mà khi được thả ra, cụ có chùn bước đâu. Hình như
sau đó cụ mở lớp dạy học để truyền bá tư tưởng cách
mạng nên lại bị kết án tới ba năm khổ sai ...Ôi thôi,
những huyền thoại về cụ Trần được đồn đãi khắp trong
dân chúng, ai mà không biết !.Cụ vaò tù ra khám cả quãng
đời thanh niên cũng vì quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm.
Ai cũng ngưỡng mộ cụ mà mấy người được diện kiến...
Tiếng
lao xao tưởng như không thể dứt. Lão tướng Trần Cao Vân
phải giơ cao hai tay, xin mọi người im lặng. Hàng trăm cặp
mắt ngưỡng phục đều nhìn về lão tướng. Lão cảm động,
nói tiếp:
-Vâng,
lão đây chính là Trần Cao Vân mà anh em đã từng nghe đến.
Nếu anh em có lòng yêu thương vì cuộc đời bôn ba của lão
thì lão lại càng cảm thấy nhục nhã, ê chề vì đã phụ
lòng yêu thương đó. Bởi, từ tuổi thanh xuân đến lúc bạc
đầu lão vẫn chưa hoàn thành được sứ mạng. Nước vẫn
mất, nhà vẫn tan, đồng bào vẫn điêu linh đói khổ. Nay
tuổi gìa sức yếu, đành mượn nghề bán thuốc dạo để
đi tìm những người còn nặng lòng với quê hương, dân tộc.
Nước Pháp đang bị quân Đức uy hiếp, họ sẽ phải triệu
tập lực lượng ở các nước bảo hộ về để chiến đấu
cho nền độc lập của chính họ. Đây là cơ hội để chúng
ta vùng lên. Sức mạnh ở trong tay tuổi trẻ. Sức mạnh chính
là anh em. Chúng ta cần sự quyết tâm. Anh em có quyết tâm
chiến đấu cho Tổ quốc hay không ?.
Mọi
cánh tay đồng loạt giơ lên.
Trần
lão tướng nhìn khắp mọi người, rồi quay sang thanh niên
đứng bên, lão nói:
-Đây
là tráng sĩ Thái-Phiên, người vẫn âm thầm lo kinh tài cho
các cuộc khởi nghĩa, hy sinh gia đình êm ấm để xông pha
hiểm nguy nay đây mai đó. Đêm nay, anh em nào cảm thấy đã
sẵn sàng dấn thân vào công cuộc cách mạng thì sẽ lần
lượt qùy lạy trước ban thờ Tổ quốc và rồi tráng sĩ
Thái Phiên sẽ là người trực tiếp huấn luyện anh em .
Mây
trôi dần vào núi. Ánh trăng vằng vặc chiếu sáng góc rừng
nơi có đoàn người nối tiếp nhau, nghiêm chỉnh quỳ xuống
trước bàn thờ sơ sài nhưng ngùn ngụt khí thế.
Trần
lão tướng đứng lặng, tiếp nhận đồng chí. Tới người
chót, lão bật khóc vì qúa xúc động. Cũng giây phút ấy,
lão vòng tay, kính cẩn qùy xuống. Mọi người ngơ ngác, chưa
biết phải làm gì thì lão chậm rãi cởi nút chiếc aó khoác
bằng vải ta, nhuộm mầu chàm mà mấy tháng nay không phút
giây nào rời thân thể lão. Khi hai tay lão cầm hai cánh aó,
giang rộng ra là lúc lão hô lớn: “Thánh thượng vạn tuế”.
Dưới
ánh trăng vằng vặc, trong vạt áo vải thô là mật chiếu
của Hoàng-đế Duy-Tân với dấu triện son đỏ bên góc phải.
Bàng
hoàng lẫn xúc động, mọi người nhất loạt quỳ xuống,
hô:”Thánh thượng vạn tuế” .
Tráng
sĩ Thái Phiên qùy trước lão tướng, giơ cao ngọn đuốc rồi
kính cẩn đọc chiếu:
“Hỡi
các con dân Việt Nam khắp ba kỳ Bắc Trung Nam,
Đã
đến giờ phút mà những người yêu nước phải có sự chọn
lựa để quyết định cho tương lai của đất nước, nếu
không muốn đời đời chịu tủi nhục, làm thân trâu ngựa
cho ngoại xâm.Sự chọn lựa này đòi hỏi những hy sinh lớn
lao và lòng can đảm phi thường. Nhưng nếu chúng ta không tự
dâng hiến thì không ai có thể làm cho chúng ta được. Nếu
máu chúng ta có đổ cũng chẳng là uổng phí vì máu thấm
đất mầu sẽ làm lúa trổ bông. Nếu xương chúng ta có tan,
xương tráng sĩ cũng cùng núi, trơ gan tuế nguyệt. Mang cái
chết đời này để tìm cái sống xứng đáng cho đời sau
là điều Tổ Tiên chúng ta đã tiếp nối hy sinh suốt chiều
dài lịch sử. Nay, nhân danh Hoàng- đế của dân tộc Việt
Nam kiên cường bất khuất, ta sẽ rời cung điện, mặc aó
vải, đi chân đất, ra khỏi hoàng thành, đứng cùng hàng ngũ
cách mạng với toàn dân để tranh đấu, giành lại độc lập
cho xứ sở. Trong khi chờ đến thời điểm thuận lợi cho
cuộc tổng khởi nghĩa, ta gửi hai sứ gỉa Trần Cao Vân và
Thái Phiên, mang mật chiếu này đến con dân khắp nơi làm
bằng chứng cho quyết tâm đòi lại tự do.
Hồn
thiêng Tiên liệt sẽ phò trợ chúng ta”
.
Tráng
sĩ Thái Phiên dứt lời, mọi người nhất loạt dập đầu,
lậy ba lậy.
Cây
rừng như rung chuyển giữa muôn lòng thổn thức . Những ánh
đuốc tắt dần đi. Bóng đêm bao phủ khu rừng. Đêm tối
đen như mực, không ai còn trông thấy gì ngoài chiếc aó vải
ta nhuộm mầu chàm khoác trên mình lão tướng. Họ trông thấy,
không bằng mắt mà bằng trái tim của những người Việt
Nam yêu nước.
Trong
đêm tối,
Họ
đã quyết đi tìm ánh sáng.
Linh
Linh Ngọc