THANH
THẢN DONG CHƠI
Nắng
không gắt lắm nhưng gío rất khô và mây rất xanh. Mùa hè
ở Cali thường bắt đầu như thế. Nắng ấy, gío ấy và
mây ấy làm rộn rã lòng người, khiến ta như không đứng
ngồi đâu lâu được, vì như có cái gì chờ đợi ở đâu
đó !
Tờ
lịch vừa bóc, rơi trên bàn. Con số và hàng chữ, 29 tháng
sáu, lại gợn lên trong lòng tôi niềm tưởng nhớ nao nao.
Chỉ
mới hai năm qua thôi, sao tôi có cảm tưởng như mình đã gìa
thêm đến hai mươi tuổi. Hai năm trước, dù tóc đã điểm
sương, tôi vẫn còn hăng hái cắp sách trở lại trường,
học thêm một số ngoại ngữ. Tôi chăm chỉ đến mức thầy,
cô nào cũng nhận ra rằng suốt 5 khóa học, tôi không hề
bỏ một giờ nào, ở bất cứ lớp nào.
Bây
giờ, tôi cũng đang chăm chỉ, nhưng là chăm chỉ đến chùa
để mong học có một chữ NH N mà học mãi chưa xong. Với
tôi, tôi tự nhủ nên học Pháp Nhẫn cho thuần rồi hãy mon
men tới những Pháp lớn khác như Từ Bi Hỷ Xả, vì nếu tôi
chưa thể nhẫn nại trước việc khó, chưa thể nhẫn nhịn
khi bị khích bác, chưa thể nhẫn nhục khi bị chê bai thì
con đường đạt tới Tứ Vô Lượng Tâm còn xa lắm !
Trong
lớp thiền đang theo học, tôi tự biết mình là thiền sinh
tệ nhất, vì những giờ tọa thiền, tuy tôi có thể ngồi
rất yên trong thế kiết gìa nhưng tâm thì không yên được
như thân. Vọng tưởng cứ khởi lên từng quãng. Nhớ bài
học, chỉ nhận diện chúng, biết vọng đang khởi mà thôi,
đừng để nó bám vào lăng kính phân biệt mà nẩy sinh nhiều
vọng khác, cũng đừng vận dụng trí huệ mà xua đuổi nó.
Vọng không nơi dựa, vọng sẽ tự buông và ta lại trở về
với chân tâm tĩnh lặng.
Tôi
cũng được nghe giáo-thọ-sư giảng về lẽ vô thường vô
ngã. Lý, thì hiểu bản chất muôn loài không thật, mà tình,
thì đôi lúc vẫn vương mang. Tình ở đây là cảm thọ, nói
chung. Nếu ta có thể quán chiếu sâu sắc trong chánh niệm
để thấy được những đối tượng của cảm thọ là không
thật thì cảm thọ sẽ tự tan đi. Biết thế, nhưng thực
hành mới khó, vì vọng tưởng vô minh đã được huân tập
lâu đời, chất đầy thành những cuộn phim bất tận, lúc
nào cũng sẵn sàng chiếu lại....
Như
buổi chiều nay, một tờ lịch rơi đủ gợi bao nhớ tưởng.
Còn nhớ tưởng là còn kẹt trong ái dục, dù đối tượng
nhớ tưởng là ai, là gì.
Mỗi
khi thất bại vì dễ dãi, để mình trôi theo vô minh, nhìn
vô thường là thường, vô ngã là ngã, thì tôi lại nhớ về
một trang sách, viết về thời Đức Phật Thích Ca còn tại
thế. Đó là khi Đức Phật nhận tin Đại Đức Xá-Lợi-Phất
viên tịch. Đại Đức Xá-Lợi- Phất là vị đệ tử lớn,
đã theo Phật hơn bốn mươi năm và rất được Phật thương
yêu, tin tưởng. Vậy mà, khi Đại Đức viên tịch, không được
có Phật ở bên ! Khi chú tiểu Cunda, thị gỉa của Đại Đức,
trình lên Phật áo cà-sa, bình bát và xá lợi của thầy mình
thì Đức Phật đã ngồi yên lặng thật lâu .....
Tôi
từng ao ước vô vàn, nếu được biết phút giây yên lặng
đó, Đức Phật đã nghĩ gì, nhớ gì về người đại đệ
tử thân yêu ? Phải nghĩ thế nào, nhớ thế nào, để trong
sự vượt thoát của ràng buộc nhớ tưởng, ta vẫn không
vô tình gỗ đá !
Chiều
nay, ngồi dưới gốc bưởi, vườn sau, tôi đang để lòng
tôi như giòng sông. Sông sẽ trôi về nơi nước thuận tới.
Và giòng-sông-tôi đang trôi về mùa hè ở Paris, mùa hè cuối
cùng chúng tôi còn có giáo sư Roland Bellugue, vị giáo sư khả
kính dạy lớp Pháp văn ....
Ngày
này, hai năm trước, giáo sư Bellugue dẫn 42 học sinh của ông
qua Pháp một tháng, trong chương trình trao đổi sinh viên các
quốc gia trên thế giới, qui tụ về Paris trong mùa hè. Tôi
là một, trong số sinh viên đó.
Theo
quy chế của ban tổ chức, các giáo sư hướng dẫn đều có
chung cư khang trang ngoài phố, nhưng thầy Bellugue đã tình nguyện
ở trong học xá với chúng tôi.
Ngay
khi tới Paris, chúng tôi phải qua một cuộc thi trắc nghiệm
trình độ, và sau đó, được phân tán mỏng, nhập vào sinh
viên khắp nơi. Hai ngày sau, khóa học tại đại học Sorbonne
bắt đầu với những giáo sư ở Pháp. Người hướng dẫn
nhóm nào, chỉ còn là cố vấn của nhóm đó mà thôi. Đó
chính là lý do giáo sư Bellugue muốn ở trong học xá để sẵn
sàng giúp đỡ khi chúng tôi cần đến.
Giáo
sư thanh toán mọi công việc cá nhân vào buổi sáng, khi chúng
tôi đi học. Sau giờ ăn trưa, cửa phòng ông mở rộng đến
nửa đêm, nếu còn học trò cắp sách đến hỏi bài. Với
giáo sư các nhóm khác thì khi tới Paris họ chỉ còn nhiệm
vụ cùng du ngoạn với sinh viên theo những lịch trình vạch
sẵn thôi. Thắc mắc bài vở là việc của các giáo sư ở
Sorbonne.
Vậy
mà giáo sư Bellugue đã bỏ qúa nhiều thì giờ cho chúng tôi.
Một tháng ở Paris ông đã dạy nhiều hơn số giờ thường
dạy tại Cerritos College ở Mỹ. Trong những buổi sinh hoạt
chung, chúng tôi thấy ông thường húng hắng ho. Ông bảo, trước
khi đi đã gặp bác sỹ để lấy thuốc ho, sẽ phải chụp
hình phổi, làm một vài thí nghiệm này nọ, nhưng vì ngày
đi gần kề, ông hẹn ở Pháp về sẽ xúc tiến. Ông còn nói,
bác sỹ nào cũng muốn làm đủ thủ tục thôi, chứ ho lai
rai mà có gì quan trọng.
Ngờ
đâu, ngày trở lại Mỹ, chỉ qua một tấm hình quang tuyến,
ông được cho biết bị ung thư phổi. Khoá học mới, bắt
đầu 14 tháng tám, thầy trò chưa kịp khoe nhau những tấm
hình chụp trong chuyến đi thì ông báo tin buồn.
Đó
là lần chót, đám học trò thấy ông.
Ông
không đến trường nữa !
Ban
giám đốc trấn an là ông chỉ nghỉ ít lâu để tĩnh dưỡng.
Lớp Pháp-văn bắt đầu với giáo sư mới, nhưng cứ mỗi
buổi lại dăm ba học trò bỏ lớp. Chỉ đến buổi thứ tư
thì nhà trường phải hủy bỏ, vì không còn ai vào lớp nữa
!. Hộp thư của giáo sư Bellugue không ngày nào là không có
những tấm thiệp chúc ông mau khỏe lại.
Nhưng
bao nhiêu tấm lòng yêu thương của học trò cũng không thắng
được con bệnh vô hình.
Ngày
26 tháng 12 năm 2000, ông vĩnh viễn ra đi.
Ông
đã bỏ dở những cuốn sách đầy tâm huyết mà ông đang
cặm cụi soạn cho học trò. Ông đi nhanh qúa, nhẹ qúa, nên
học trò của ông đều cảm thấy như ông vẫn quanh đây.
Và mỗi dấu mốc thời gian, mỗi câu chuyện nào gợi lại,
đều làm cho đám học trò của ông thổn thức .....
Tôi
cũng không tránh khỏi điều đó, khi lại nhớ về tháng hè
cuối cùng với giáo sư.
Đó
là mùa hè năm 2000.
Từ
cuối tháng sáu, hơn 5000 sinh viên khắp nơi, lục tục đổ
về kinh đô ánh sáng và ở rải rác khắp các ký túc xá tại
Paris. Nhóm tôi gồm 42 sinh viên, may mắn được ở ngay tại
Cité Universitaire, trung tâm điểm gồm nhiều ký túc xá nhỏ,
mang biểu tượng và kiến trúc đặc thù của các quốc gia
trên thế giới.
Trạm
métro ngay bên kia đường, tha hồ mà .....đi lạc !
Chuyến
đi, như tinh thần của cuốn phim hài hước gỉa tưởng <Back
to the future> do Michael J. Fox đóng. Tôi sống lại đời sống
sinh viên khi tóc đã muối tiêu ! Tôi phải hòa nhập hoàn toàn
với giới trẻ. Mỗi sáng leo lên hai chuyến métro tới lớp,
học hai tiếng liền với ông thầy nói tiếng Tây như .....Tây,
chẳng cần biết đám học trò tạp chủng có nghe kịp không
! Khi ông đọc dictée, bọn học trò tưởng như đang nghe hát,
mà âm nhạc là ngôn ngữ thế giới, cần chi phải hiểu ông
đang hát gì !
Thế
mà khi trả bài, tôi được phê <Bon travail> mới là chuyện
lạ !
Hết
lớp littérature, chúng tôi có nửa tiếng để đi bộ từ đại
lộ Raspail, băng qua vườn Luxembourg để tới lớp phonétique
ở đường St. Jacque. Một giờ, ra khỏi lớp, lại vội vã
leo lên métro về ký túc xá để ăn trưa ở cafétéria. Hôm
nào giáo sư Bellugue cũng chờ chúng tôi trên bực thềm trước
nhà ăn để hỏi han xem hôm nay học thế nào ? Rồi thầy trò
cùng vào ăn trưa.
Tại
đây, mỗi bữa ăn rất đầy đủ thịt cá, rau cải, trái
cây tươi, kem, sữa .....Lại có cả rượu vang nữa. Vậy mà
chúng tôi chỉ trả có 14F9, tương đương với 2.6 dollars. Ăn
trưa xong là chỉ còn kịp thì giờ về phòng bỏ bớt sách
vở ra cho đỡ nặng, rồi chạy tới điểm hẹn của nhóm
mình để thầy dẫn đi ...... phiêu lưu ký.
Những
ngày trong tuần, sau buổi sáng đi học, chúng tôi thường theo
thầy, thăm những danh lam thắng cảnh, lâu đài, bảo tàng
viện quanh Paris.
Thôi
thì, hôm nay tới tháp Eiffel, bò lên tận đỉnh nhìn xuống
đường phố Paris để phục lăn mấy bác tài Tây, lái nhanh
mà còn luồn lách như rồng rắn ! Mai, tới đại lộ nổi
tiếng Champs-Elysées, ngắm nghía những công trình điêu khắc
trên Arc de Triomphe rồi cùng thầy, leo đủ 284 bậc thang hẹp
lên tận nóc đài, bấm vài tấm hình, xong, lại lạch bạch
xuống. Mốt, tới nhà hát lộng lẫy Opéra Garnier xem vũ ballet.
Rồi đi tàu trên sông Seine, nhìn thành phố lên đèn, tới
La Sainte Chapelle nghe giàn hòa tấu Les Archets de France trình diễn
nhạc cổ điển .....Rồi thăm Louvre, viện bảo tàng vĩ đại
ở Paris mà người ta nói rằng, nếu mắt ta dừng lại một
phút trên mỗi tác phẩm trưng bầy ở đó thì phải mất ít
nhất một năm rưỡi mới nhìn hết !!!..... Nhưng phải nói
là bọn tôi gần tắt thở khi leo lên tận nóc gác chuông nhà
thờ Notre Dame, nơi chàng lưng gù xấu xí Quasimodo đu dây chuông
từ trên tháp cao xuống để cứu nàng kỳ nữ kiều diễm
Esmeralda trong cuốn phim bất hủ <Notre Dame de Paris>.
Trước
chuyến đi, chúng tôi đã được dặn dò là sẽ phải đi bộ
nhiều lắm ! Nhưng thật không ngờ là đi nhiều đến thế.
Mới chưa đầy hai tuần lễ, đôi giầy tôi mua trước hôm
đi đã vẹt gót !
Những
ngày cuối tuần thì chúng tôi rời Paris, đi thăm những nơi
xa.
Lâu
đài Vaux-Le-Vicomte là một tuyệt tác nghệ thuật kiến trúc
từ thế kỷ mười bẩy. Người Pháp vẫn hãnh diện gọi
lâu đài này là <Le Chef-d oeuvre du XVII Siècle Francais>, dù
khó mà quên được câu chuyện thương tâm của chủ nhân !
Sau năm năm ròng rã, từ 1656 tới 1661, ngôi lâu đài tráng
lệ mới xây xong. Chủ nhân của nó, ông Nicolas Fouquet đã
mời vua Louis XIV và hoàng hậu tới dự dạ tiệc khánh thành.
Toàn lâu đài mênh mông và trên tất cả các cửa sổ đều
chỉ dùng nến trắng, nên nhìn từ ngoài, lâu đài như
một tinh cầu vừa hiện ra ở hạ giới !
Đêm
hoa đăng đã trở thành đại họa !
Vị
vua trẻ choáng ngợp trước những gì cực kỳ huy hoàng, cực
kỳ tráng lệ, và khó chấp nhận, một thứ dân lại có được
những gì vua còn chưa có !
Thế
là, chỉ ba tuần lễ sau, tỷ phú Nicolas Fouquet bị tống giam
với những tội danh, cho đến nay vẫn còn đầy nghi vấn.
Ông
đã chết trong tù, sau 19 năm bị giam giữ !
Sao
ông ta có thể sống nổi 19 năm uất hờn, oan ức như thế
nhỉ ? Không hiểu ông ta có biết gì về Đạo Phật không,
mà giữ được lòng nhẫn chịu và an nhiên đến thế !
Chúng
tôi cũng đã đi qua những ruộng nho mênh mông, nơi sản xuất
rượu nho từ thế kỷ 13, để tới Loire thăm lâu đài cổ
Azay-le-Rideau, viếng vườn Villandry, vườn hoa nổi tiếng đến
nỗi lâu đài của nó phải mang cùng tên. Cũng chuyến đi này,
trên đường đến lâu đài Ussé, chúng tôi đã thấy những
cánh đồng vàng rực hoa hướng dương, bát ngát tận chân
trời. Không biết người ta sẽ làm gì với đồng hoa mênh
mông đó ?!
Tất
cả những danh lam thắng cảnh, đền đài nguy nga mà chúng
tôi đã tới, với tôi, cũng chỉ là cảnh vật. Giơ máy lên,
bấm vài tấm hình làm kỷ niệm, thế thôi !
Tôi
tưởng thế.
Không
ngờ tôi đã để lại những xúc động mãnh liệt trong chuyến
đi 3 ngày cuối tuần khi rời Paris đi Normandy và Brittany.
Hôm
đó, trời đổ mưa tầm tã. Đây là một điều bất thường.
Đa số chúng tôi không chuẩn bị đủ áo ấm. Tới Caen, trời
ngớt mưa nhưng gío và mây xám vẫn vần vũ. Chúng tôi được
ghé vào bảo tàng viện ở Caen, nơi trưng bầy và lưu giữ
những hình ảnh về cuộc đổ bộ vĩ đại của quân đội
đồng minh ngày 6 tháng 6 năm 1944.
Tại
đây, tôi mua nhiều postcard về ngày lịch sử đó.
Chúng
tôi chỉ dừng ở Caen hai tiếng, rồi lại lên xe bus để tới
viếng nghĩa trang quân đội Mỹ ở bãi biển Omaha. Bãi biển
này là nơi mà hơn nửa thế kỷ trước, hàng trăm ngàn quân
đội đồng minh đã được đổ xuống để chiến đấu cho
Tự Do, và biết bao người đã chết dưới những họng đại
bác của quân Đức ! Trong số này, hơn 9500 thanh niên Mỹ đã
hy sinh dưới lá cờ của Tổ Quốc họ.
Con
đường dẫn tới địa danh lịch sử đó là một ngôi làng
nhỏ. Ngôi làng này, tuy vẫn chỉ khiêm nhường với những
cánh đồng cỏ thả bò, cừu, những mái nhà thấp, những
đền thờ rêu phong, nhưng gía trị tinh thần thì vô gía vì
đây chính là linh hồn Normandy. Ngôi làng Vierville đã đi vào
lịch sử thế giới cùng với bãi biển máu Omaha !
Khi
xuống xe bus ở trước nghĩa trang, trời lại mưa nhẹ hạt.
Mỗi lần, trước lúc di chuyển, tôi đều kiểm lại máy hình
xem còn phim không. Lần này, nhìn thấy con số 26, tôi yên trí
đây là cuộn phim 36 tấm.
Đứng
trước tượng đài, nơi vinh danh những người đã chết cho
Tự Do và 1557 người mất tích, tôi giơ máy lên, bấm một
tấm. Đối diện tượng đài là một hồ lớn, trồng hoa súng
đủ mầu. Tôi lại bấm một tấm. Cuối hồ là nghĩa trang
với 172 mẫu trải cỏ, xanh ngắt mênh mông, trên đó, 9386
cây thánh gía trắng toát khắc tên những người đã được
an táng và 307 mộ bia vô danh. Nơi đây, tôi đã đứng nghiêm,
giơ tay chào, và nhờ người bạn bấm cho một tấm.
Dọc
theo nghĩa trang là bãi biển Omaha. Tôi cảm thấy cực kỳ rung
động khi biết rằng mình đang đứng trên nền đất lịch
sử thế giới.
Để
cảm nhận được đầy đủ, tôi cúi xuống, tháo giầy. Khi
đôi chân trần vừa chạm vào nền cát lạnh thì trời bỗng
nổi gío lớn. Gío lộng ào ào như cơn lốc bất chợt từ
đâu tới. Mọi người vội vã chạy rạt vào trong. Tôi nghe
các bạn gọi tôi cùng chạy nhưng tôi không bước nổi ! Hình
như có ai giữ tôi lại. Không những không chạy vào, tôi còn
bình tĩnh nhắm mắt lại, chờ đợi. Lúc đó, tôi chỉ cảm
thấy mình sẽ đứng yên, chờ đợi, mà không biết là chờ
đợi cái gì !
Gío
vẫn hú từng cơn. Tôi cảm thấy chao đảo, nhưng không sợ
hãi. Hình như có nhiều người xung quanh đang xô đẩy nhau.
Nhiều ngôn ngữ trộn lẫn trong tiếng gío. Gío càng lớn,
người càng đông, ngôn ngữ càng đầy .....Tới một lúc,
tôi nghe được tiếng thúc giục rộn rã, rất rõ ràng <Tiến
lên ! Tiến lên đi ! Tự Do ở trước mặt kìa ! Hãy tiến
lên ! Hãy tiến lên đi !...!...!...>
Một
vòng tay ôm lấy tôi.
Tôi
mở choàng mắt ra.
Gío
đã lặng.
Người
bạn cùng nhóm vừa lắc vai tôi, vừa hỏi:
-Are
you OK ?
-Yes,
I am.
Nhưng
không thể kìm giữ cảm xúc, tôi ôm mặt, oà khóc.
-Are
you sure you OK ?
-Yes.
-Why
are you crying ?
-I
am really moved by their courage.
Người
bạn gật gù, lẩm bẩm <It is sad !>.
Tôi
biết chắc rằng, cái cảm giác <sad> của cô bạn không
thể nào so sánh với cơn lốc mà tôi vừa trải qua. Cảm giác
sad, nhẹ nhàng qúa mà cơn lốc thì mãnh liệt vô cùng. Cơn
lốc đó là tim óc, là máu xương, của bất cứ ai còn biết
khao khát tự do và nhân quyền, khi hai thứ đó bị tước đoạt.
Dân
tộc tôi đã <đổ bộ> biết bao lần trong lịch sử, và
vẫn đang phải <đổ bộ> cho Tự Do vì hai tiếng thiêng
liêng đó vẫn ở ngoài tầm tay !
Có
ai đã dựng nghĩa trang cho bao anh hùng liệt nữ đã <đổ
bộ> trong suốt chiều dài lịch sử của quê hương tôi ? Hay
là, ngay cả cái nghĩa trang khiêm nhường, giản dị ở Thủ
Đức cũng bị Cộng Sản đào sới tan nát !
Trước
khi rời bãi biển Omaha, tôi giơ máy, bấm một tấm. Không
thấy ánh flash !. Nhìn vào máy thì hỡi ơi, phim vẫn nằm ở
số 26 , có nghĩa, đây là cuộn phim 24 tấm, số tăng tới
26 chỉ vì đó là 2 tấm phụ trội thông thường mà thôi !
Trời
hỡi, tôi đã chụp biết bao cuộn phim, sao lại có thể sơ
sót đến thế ! Sao lại có thể không có một tấm hình nào
ở nơi đầy di tích lịch sử như thế này !!!
Rời
Normandy, mọi người đều nao nức vì điểm tới là St. Malo,
một thành phố cổ kính ven biển mà chúng tôi sẽ nghỉ đêm
tại đó. Lấy phòng xong, ai cũng vội vã ra phố. Chỉ có tôi
ngồi lại, buồn bã giở xấp carte postal mua ở Caen. Tôi rụng
rời khi thấy trong đó có một tấm, chụp cảnh ở nghĩa trang
quân đội Mỹ. Tấm postcard chia làm 4 phần, ghi lại những
cảnh ở đúng bốn nơi tôi đã chụp mà máy hết phim ! Đúng
bốn nơi đó, không hơn không kém. Cả những góc cạnh mà
tôi đã ngắm qua ống kính, không sai lệch chi tiết nào !
Có
phải đó là tín hiệu cho tôi ? Có phải những người năm
xưa, trong một phút giây thiêng liêng mãnh liệt đã ở cùng
tôi ? Sự trùng hợp qúa lạ lùng khiến càng nhìn tấm poscard
tôi càng tin như thế. Chính tấm poscard này là thông điệp
thầm lặng cho tôi biết rằng, cơn lốc bất chợt trên bãi
biển Omaha và những tiếng thúc giục huyền bí không phải
là ảo tưởng .....
Khi
đi qua phòng tôi, thấy còn ánh đèn, giáo sư Bellugue đã gõ
nhẹ. Tôi mở cửa, mời ông vào, đưa cho ông xem tấm postcard
và nói với ông những xúc động đầy ắp trong lòng.
Tôi
sẽ không ngạc nhiên nếu ông cho rằng tôi qúa nhạy cảm
mà tưởng như thế.
Nhưng
tôi đã sửng sốt khi ông dịu dàng nhìn tôi, nói rằng, có
thể, tôi đã vừa được <gặp> họ, vì những người năm
xưa đó cũng như vạn hữu này, không có sinh cũng chẳng có
diệt. Nếu nhìn cho kỹ, nhìn sâu sắc, nhìn bằng sự trong
suốt của tâm linh, ta có thể thấy được sự sinh diệt,
còn mất chỉ là sự chuyển hóa. Sự chuyển hóa không ngừng
nên cái sinh diệt, còn mất, chỉ như những cuộc vân hà du
thử, thanh thản dong chơi, gặp đồng tâm thì giao cảm, qua
sát na đó, lại nhẹ như mây, hòa vào vạn hữu. Vạn hữu
là muôn thực thể không tên. Cái gì, khi đã có tên, là vì
cái đó đã hội đủ cơ duyên mà thành.
Thấy
tôi mở lớn mắt, kinh ngạc, giáo sư Bellugue chỉ cái ghế
trong phòng, nói rõ thêm rằng, như cái ghế này đây, nó chỉ
có tên là cái ghế sau khi đã hội đủ những cơ duyên từ
rừng cây về tới xưởng mộc. Tại đó, nó gặp cơ duyên
với người thợ mộc, với đinh, với búa, với cưa, với
bào, với đủ thứ linh tinh nó mới có thể thành một cái,
được đặt tên là cái ghế. Tách rời tất cả mọi thứ
đó ra thì nó không còn là cái ghế nữa. Cũng nhìn như thế
với rừng cây, với người thợ mộc, với cái đinh, cái búa,
cái cưa, cái bào v..v.. thì khi không hội đủ cơ duyên, những
gì ta tưởng là có sinh diệt, còn mất, chỉ là những phần
tử dong chơi trong giòng chuyển hóa bất tận của vạn hữu.
Chính
đó mới là bất diệt.
Ngày
đó tôi không hiểu rõ lời giáo sư Bellugue vì tôi đã để
cái lăng kính phân biệt che mờ trí tuệ. Cái lăng kính phân
biệt đó, bận rộn với những ngạc nhiên và thắc mắc rằng,
giáo sư là người Tây phương, sao cũng mang những tư tưởng
sâu sắc về Đông phương như vậy ?
Hai
năm đã trôi qua.
Nhiều
khi, tôi ao ước được tâm sự với giáo sư rằng, đôi lúc
tôi nhìn thấy hình bóng bà ngoại trong đóa quỳnh nở đêm
qua, thấy lá cỏ bên hồ là con bướm thường hút nhụy sen
mùa trước. Đó là những phút giây hiếm hoi mà cả thân,
tâm, ý đều an trú trong chánh niệm. Phút giây đó, nếu tiếp
xúc với thế-giới-sinh- diệt là thế-giới-tích- môn, có
thể, ta sẽ <chạm> được vào thế-giới-không-sinh-không-
diệt là thế- giới- bản-môn.
Ở
đó, mọi hiện tượng đều vượt thoát khỏi không gian và
thời gian.
Ở
đó, ta thấy được sự mầu nhiệm vô cùng của vạn hữu.
Ở
đó, ta nhận ra được, trong cái có đã chứa cái không, trong
sinh diệt đã sẵn mầm bất diệt.
Và
chiều nay, ngồi dưới gốc bưởi trong vườn, tôi vừa chợt
mỉm cười với bóng mây bay qua.
Đó
có thể không chỉ là bóng mây !
Đó
có thể là giáo sư Bellugue.
Ông
sẽ ôm tập bài soạn bìa xanh quen thuộc, bước vào lớp,
vui vẻ bắt đầu buổi học bằng câu < Bonjour tout le monde
>.