Lập
trường chính yếu của đạo Phật chính là sự tương duyên
khởi thỉ hay tính duyên khởi. Lời tuyên bố này là tất
cả những hiện tượng cả chủ thể kinh nghiệm và đối
tượng bên ngoài, cùng tồn tại tuỳ thuộc trên những nguyên
nhân và điều kiện, không có điều gì tồn tại mà không
có nguyên nhân. Đưa ra nguyên tắc này, nó trở nên điều
cốt yếu để hiểu điều gì là nguyên nhân và có những
loại nguyên nhân nào.
Theo
sự giải nghĩa của đạo Phật, có hai loại nguyên nhân chính
được đề cập đến:
1)
Những nguyên nhân ngoại tại: hình sắc vật lý và những
hiện tượng, và
2)
Những nguyên nhân nội tại: như nhận thức, hiểu biết, và
những hiện tượng tâm linh, tinh thần.
Lý
do cho một sự hiểu biết nguyên nhân trở nên rât quan trọng
trong tư tưởng và thực hành của đạo Phật vì -rằng nó
liên hệ một cách trực tiếp đến những cảm giác khổ
đau và hạnh phúc của tất cả chúng sinh và những kinh nghiệm
khác -rằng nó vượt trội hơn, chiếm ưu thế trong đời sống
của chúng sinh, điều mà vươn lên không chỉ từ trong cơ
chế nội tại nhưng cũng từ những nguyên nhân và điều kiện
ngoại tại. Vì vậy điều quan yếu để thấu hiểu không
chỉ từ những hoạt động của những nguyên nhân tâm linh
và nhận thức nội tại mà còn là sự liên hệ của chúng
với thế giới vật chất ngoại tại.
Sự
kiện là những kinh nghiệm nội tại của hạnh phúc và khổ
đau là trong tự nhiên của những trạng thái của chủ thể
tâm linh và nhận thức thì rất rõ ràng đối với chúng ta.
Nhưng làm thế nào những hiện tượng chủ thể nội tại
liên hệ đến những sự kiện ngoại tại và thế giới vật
chất để tạo ra những vấn đề nguy hại.
Câu
hỏi của hoặc là có một hiện thực vật lý ngoại tại
của nhận thức và tâm của chúng sinh đã từng được bàn
đến bởi những nhà tư tưởng Phật giáo. Cố nhiên có những
quan điểm khác nhau trên vấn đề này trong số những trường
phái khác nhau của tư tưởng.
Một
trường phái (Duy thức) khẳng định, quả quyết rằng không
có hiện thực ngoại tại, không có ngay cả những đối tượng
ngoại tại, và rằng thế giới vật chất mà chúng ta nhận
biết trong bản chất chỉ là một sự phản chiếu của tâm
chúng ta. Từ nhiều quan điểm, kết luận này vượt trội
hơn hẳn, là tột bực. Một cách triết lý, và cho vấn đề
thuộc nhận thức này, nó dường như hợp lý hơn để duy
trì một vị thế chấp nhận hiện thực không chỉ thế giới
chủ thể của tâm mà còn của đối tượng ngoại tại của
thế giới vật lý.
Bây
giờ, nếu chúng ta trắc nghiệm khởi nguyên của những kinh
nghiệm nội tại và của những vấn đề ngoại tại, chúng
ta thấy rằng có một sự đồng thể cơ bản tự nhiên của
sự tồn tại của chúng trong điều mà cả hai cùng bị chi
phối ảnh hưởng bởi nguyên nhân chính yếu. Đúng như trong
thế giới tâm linh nội tại và những sự kiện tri thức,
mỗi giây phút của kinh nghiệm đến từ sự có trước liên
tục của nó và tiệm tiến cho đến vô tận. Cũng như thế,
trong thế giới vật lý mỗi đối tượng và sự kiện phải
có một sự liên tục trước đáp ứng như nguyên nhân của
nó, từ điều là sự hiện diện của giây phút hiện tại
của vấn đề ngoại tại tiến đến sự tồn tại, hiện
hữu.
Trong
một vài tài liệu Phật giáo, chúng ta tìm thấy phát sinh của
sự tiếp diễn liên tục của nó, thế giới vĩ mô của
thực tại vật lý của chúng ta cuối cùng có thể ngược
dòng đến trạng thái trong điều mà tất cả chất điểm
vật chất được súc tích trong điều mà chúng ta được biết
như "hạt không gian" hay vi trần. Nếu tất cả những vấn
đề vật lý của thế giới vũ trụ vĩ mô của chúng ta có
thể truy tìm đến một trạng thái nguyên thỉ như thế, rồi
thì câu hỏi được nêu lên là làm thế nào để những hạt
bụi vi trần này phối hợp với nhau về sau và tiến triển
thành thế giới vĩ mô điều mà có thể trực tiếp sản sinh
ra trên những chúng sinh những kinh nghiệm nội tại của hạnh
phúc hay khổ đau.
Để
trả lời cho điều này, giáo nghĩa đạo Phật đã hướng
đến lý thuyết về nghiệp báo, những hoạt động vô hình
của tạo tác và hiệu quả, điều này cung cấp một sự giải
thích, làm thế nào những hạt vi trần vô tri giác tạo nên
những biểu hiện khác nhau.
Những
hoạt động vô hình của nghiệp nhân, hay nghiệp lực (karma:
nghiệp: nghĩa là hành động: action), liên kết với động
cơ của tâm thức con người và chính điều ấy cho phép khởi
lên những hành động ấy. Vì vậy một sự hiểu biết về
tâm thức tự nhiên của con người và vai trò của nó là chủ
yếu đối với sự thấu hiểu về kinh nghiệm và sự liên
hệ giữa tâm và vật, giữa tâm thức và sự kiện.
Chúng
ta có thể thấy từ kinh nghiệm của chính chúng ta là trạng
thái tâm thức chúng ta thể hiện một vai trò phần lớn trong
kinh nghiệm hằng ngày và trong trạng thái vật lý hay
tâm lý tốt đẹp của chúng ta. Nếu một người có một tâm
tĩnh lặng và vững vàng, điều này ảnh hưởng đến thái
độ và quan điểm của người ấy với quan hệ cùng những
người khác. Nói một cách khác, nếu ai đấy duy trì một
trạng thái tâm thức tĩnh lặng, thanh thản, và hoà bình, hoàn
cảnh chung quanh hay điều kiện bên ngoài có thể chỉ làm
quấy nhiễu một cách hạn chế. Nhưng điều này cực kỳ
khó khăn cho những người mà trạng thái tâm thức tháo động,
bồn chồn, áy náy, không yên để được an tĩnh và vui vẻ
ngay cả chung quanh họ là những điều kiện thuận tiện nhất
hay là những bằng hữu thân thiết nhất. Điều này chỉ cho
thấy rằng quan điểm của tâm thức chúng ta là nhân tố chủ
yếu trong sự quyết định kinh nghiệm hoan hỉ và hạnh phúc,
và vì vậy cũng là sức khỏe tốt.
Để
tổng kết, có hai nguyên nhân tại sao là quan trọng để hiểu
tính tự nhiên của tâm.
1-
Bởi vì có một sự liên hệ mật thiết giứa tâm thức và
nghiệp quả.
2-
Trạng thái của tâm đóng một vai trò chủ yếu trong kinh nghiệm
của chúng ta về khổ đau và hạnh phúc.
Nếu
hiểu tâm thì rất quan trọng,, rồi thì cái gì là tâm, và
cái gì là tính tự nhiên của tâm?
Tài
liệu của đạo Phật, cả hiển giáo và mật tông, chứa đựng
những luận giải rộng rãi về tâm và tính tự nhiên của
nó. Đặc biệt trong mật tông tantra, luận giải về những
cấp độ khác nhau về sự vi tế của tâm và thức
(tâm thức, nhận thức, ý thức) . Kinh điển hiển giáo không
nói nhiều về sự liên hệ giữa trạng thái khác nhau của
tâm và trạng thái sinh lý tương ứng của chúng. Tài liệu
của tantra, về phương diện khác, là đầy đủ với sự chỉ
dẫn đến những sự tỉ mỉ khác nhau của những cấp độ
của tâm thức và sự liên hệ như thế với những tình trạng
sinh lý như những trung tâm năng lực sinh động của cơ thể,
những kinh mạch năng lượng, nơi những năng lượng lưu chuyển
trong ấy,...Mật điển tanra cũng giải thích, làm thế nào,
bằng cách vận động những nhân tố sinh lý thông qua những
thiền tập yoga đặc hữu, một người có thể tác động
ảnh hưởng trên trạng thái của tâm thức.
Theo
mật điển tantra, cơ bản tự nhiên của tâm là tinh khiết
một cách căn bản. Tính tự nhiên nguyên sơ này được gọi
một cách kỷ thuật là "ánh sáng trong suốt", là tịnh quang
(clear light). Những cảm xúc phiền não khác nhau như khát ái,
thù ghét và ghanh tị là những sản phẩm của điều kiện
(khách trần phiền não). Chúng không là phẩm chất nội tại
của tâm bởi vì tâm có thể tẩy sạch được chúng (bởi
vì chúng là khách trần phiền não). Khi tịnh quang tự nhiên
này của tâm bị hạn chế hay bị che phủ sự biểu hiện
bản chất chân thật của nó bởi những điều kiện của
những cảm xúc và tư tưởng phiền não, người ta được
nói là bị vướng mắc trong sự hiện hữu của vòng luân
hồi. Nhưng khi, do sự áp dụng và thực tập những kỷ năng
thiền tập thích hợp, cá nhân có thể hoàn toàn kinh nghiệm
tự tại tịnh quang tự nhiên của tâm từ những ảnh hưởng
và điều kiện của những trạng thái phiền não, người ấy
đang tiến trên con đường của sự giải thoát chân thật
và hoàn toàn giác ngộ.
Vì
thế, từ quan điểm của đạo Phật, cả ràng buộc và tự
tại chân thật tuỳ thuộc vào những trạng thái khác nhau
của tâm tịnh quang này, và trạng thái kết quả mà thiền
giả cố gắng để thâm nhập qua áp dụng những kỷ năng
thiền tập khác nhau là một trong những điều mà tính cơ
bản tự nhiên của tâm hoàn toàn chứng tỏ tất cả những
khã năng giác ngộ khẳng định của nó, hay Phật tính, Phật
quả. Một sự thông hiểu tâm tịnh quang vì vậy trở nên
cốt yếu trong phạm vi của nổ lực tâm linh.
Thông
thường, tâm có thể được định nghĩa như một thực thể,
một sự tồn tại có tính tự nhiên đơn thuần kinh nghiệm,
nó là, "sáng sủa và thông hiểu", tịnh quang và tuệ giác.
Nó là sự thông hiểu tự nhiên, tuệ giác bản nhiên, hay năng
lực, nó được gọi là tâm và điều này không là vật chất.
Nhưng trong phạm trù của tâm cũng có tất cả những cấp
độ, như những tri giác cảm xúc, những thứ không thể hoạt
động hay vươn lên hiện hữu ngoài sự tuỳ thuộc trên những
bộ phận sinh vật lý như các cơ quan cảm xúc của chúng ta
(mắt, tai, mũi,...). Và trong phạm trù của sáu thức, tâm thức,
có nhiều sự phân chia khác nhau, hay những loại tâm thức
hết sức lệ thuộc trên căn cứ sinh vật lý, bộ não của
chúng ta, cho sự khởi lên của chúng. Những loại tâm thức
này không thể được thấu hiểu trong sự cô lập hay tách
rời với những cơ quan sinh vật lý.
Bây
giờ một câu hỏi căn bản được nêu lên: Làm thế nào mà
những loại khác nhau của sự kiện nhận thức - tri giác cảm
xúc, trạng thái tâm lý, v.v...- có thể tồn tại và chiếm
hữu sự hiểu biết tự nhiên này, quang minh - trong sáng ?
Theo khoa học Phật giáo về tâm, những sự kiện nhận thức
này chiếm hữu sự hiểu biết tự nhiên, tuệ giác bản
nhiên bởi vì tự nhiên cơ bản của quang minh ở dưới (nền
tảng) tât cả những sự kiện nhận thức. Đây là điều
mà chúng tôi diễn tả sớm hơn như cơ bản tự nhiên của
tâm, quang minh tự nhiên của tâm, hay tuệ giác bản nhiên.
Vì
vậy, khi những trạng thái khác nhau của tâm được diễn
tả trong kinh luận Phật giáo, chúng ta sẽ tìm thấy những
luận giải về những loại khác nhau của những điều kiện
đã khiến khởi lên những sự kiện nhận thức.Thí dụ, trong
trường hợp của những tri giác cảm xúc, đối tượng
bên ngoài hoạt động như những điều kiện hay nguyên nhân
khách quan, khoảnh khắc ngay trước của ý thức là điều
kiện trực tiếp; và cơ quan cảm giác là điều kiện sinh
vật lý hay điều kiện vượt trội hơn. Nó dựa trên căn
bản của tập họp ba điều: điều kiện nguyên nhân, điều
kiện trực tiếp (duyên), và điều kiện sinh lý - mà những
kinh nghiệm như những tri giác cảm xúc xãy ra.
Một
nét đặc trưng khác nữa của tâm là nó có khã năng quán
sát chính nó. Vấn đề khã năng của tâm quán sát và thể
nghiệm chính nó đã là một câu hỏi triết học từ lâu.
Thông thường, có nhiều cách khác nhau trong điều mà tâm có
thể quán sát chính nó. Thí dụ, trong trường hợp trắc nghiệm
những kinh nghiệm quá khứ, như những việc xãy ra hôm qua
chúng ta có thể gợi lại kinh nghiệm ấy và trắc nghiệm
nó, vì vậy vấn đề rắc rối không khởi lên. Nhưng chúng
ta cũng có những kinh nghiệm trong lúc - điều mà tâm quán
sát trở nên tỉnh giác tự chính nó trong khi vẫn bận rộn
trong sự quán sát kinh nghiệm của nó.
Ở
đây, bởi vì cả tâm quán sát và tình trạng trí óc quán
sát hiện diện cùng một lúc, chúng ta không thể giải thích
hiện tượng tâm vừa tự tỉnh giác, vừa là chủ thể và
vừa là đối tượng xãy ra đồng thời, thông qua viện dẫn
đến nhân tố của khoảng cách thời gian.
Vì
vậy thật quan trọng để hiểu rằng khi chúng ta nói về tâm,
chúng ta đang nói về một mạng lưới cao cấp phức tạp của
những sự kiện và trạng thái tinh thần khác nhau. Thông qua
những đặc tính nội quán, tự trắc nghiệm của tâm chúng
ta có thể quán chiếu, thí dụ, những tư tưởng đặc hữu
nào trong tâm chúng tại một thời điểm được định, những
đối tượng nào tâm chúng ta đang nắm giữ, những loại khái
niệm nào chúng ta có, v.v.và v.v...Trong trạng thái thiền định,
thí dụ, khi chúng ta đang thiền tập và phát triển nhất tâm,
chúng ta liên tục áp dụng khã năng nội quán tự trắc nghiệm
để phân tích tinh thần (tâm thức) chú ý của chúng ta là
có tập trung nhất tâm trên đối tượng hay không, hay có bất
cứ một sự uể oải, giải đãi nào xâm chiếm, hoặc chúng
ta có bị tán loạn hay không,v.v và v.v...Trong trường hợp
này chúng ta đang áp dụng những nhân tố tâm thức khác nhau
và nó không như là một tâm đang được trắc nghiệm chính
nó. Đúng hơn là, chúng ta đang áp dụng nhiều nhân tố tinh
thần (tâm thức) để trắc nghiệm tâm chúng ta.
Như
một câu hỏi là có một trạng thái tinh thần (tâm thức)
duy nhất có thể quán chiếu và trắc nghiệm chính nó hay không,
điều này đã là một câu hỏi hết sức quan trọng và khó
khăn trong Phật học về tâm. Một vài nhà tư tưởng Phật
giáo từng xác nhận rằng có một khã năng của tâm gọi là
"tự ý thức" hay "tự tỉnh thức". Nó có thể được nói
rằng đây là một khã năng nhận thức đầy đủ (tổng giác)
của tâm, một tâm có thể quán sát chính nó. Nhưng nội dung
này vẫn là điều đã và đang được bàn cãi. Đấy
là những ai xác nhận rằng có một sự tồn tại khã năng
tổng giác phân biệt hai khía cạnh trong tinh thần hay nhận
thức, sự kiện; một là ngoại tại và đối tượng trong
cảm giác rằng có sự phân hai của chủ thể và đối tượng,
trong khi điều kia là nội quán tự nhiên và nó là điều cho
phép tâm tự quán chiếu chính nó. Sự hiện hữu của khã
năng tự nhận thức tổng giác của tâm đã và đang được
bàn cải, đặc biệt trong trường phái tư tưởng triết học
Phật giáo Prasanghika * (*Prasanghika: Một nhánh của trường
phái Madhyamika, do nhà hiền triết Phật giáo Buddhapajita -môn
đồ của Ngài Long Thọ - sáng lập -/- Tuệ Uyển).
Trong
những kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta có thể quán chiếu điều
ấy, đặc biệt trên cấp độ tổng quát, tâm chúng ta tương
quan với và tuỳ thuộc trên tình trạng sinh vật lý của cơ
thể. Đúng như trạng thái của tâm chúng ta, phiền muộn hay
hân hoan, ảnh hưởng đến sức khoẻ vật lý, và tình trạng
vật lý cũng rất ảnh hưởng đến tâm chúng ta.
Như
chúng tôi đã lưu ý trước đấy, Mật điển Phật giáo tantric
lưu tâm đến những trung tâm năng lượng đặc biệt trong
cơ thể mà chúng tôi nghĩ rằng, chúng có thể có một
vài nối kết với điều mà một vài chuyên gia sinh học thần
kinh gọi là bộ não thứ hai, hệ thống miễn nhiễm và đề
kháng bền bĩ. Những trung tâm năng lượng này đóng một vai
trò quan yếu trong sự gia tăng hay giảm thiểu những trạng
thái khác nhau của cảm xúc trong tâm chúng ta. Nó là bởi vì
trong sự quan hệ mật thiết giữa tâm và thân thể, và sự
tồn tại của trung tâm sinh vật lý đặc hữu trong cơ thể
chúng ta mà những luyện tập yoga vật lý và sự thực tập
những kỷ năng thiền định đặc biệt xoáy vào sự luyện
tâm có thể có những tác động trên sức khoẻ. Nó đã cho
thấy rằng, thí dụ, bằng vào việc áp dụng những kỷ năng
thiền tập thích hợp, chúng ta có thể kiểm soát, điều khiển
hơi thở của chúng ta và làm tăng hay giảm nhiệt độ cơ
thể của chúng ta.
Xa
hơn nữa, cũng đúng như thế khi chúng ta có thể áp dụng
những kỷ năng thiền tập khác nhau trong thời gian của trạng
thái tỉnh thức, trên căn bản sự thấu hiểu sự liên hệ
tế nhị giữa tâm và thân thể, có thể chúng ta thực tập
những thiền định khác nhau trong khi chúng ta trong những
trạng thái của giấc mộng. Sự liên hệ của những khã năng
của những thực tập như thế là ở tại một trình độ
nhất định nó có thể cách ly tất cả những cấp độ của
nhận thức tâm lý với tất cả những trạng thái vật
lý và hướng đến tại một cấp độ tinh vi, tế nhị hơn
của tâm và thân thể. Trong một ngôn ngữ khác, chúng ta có
thể cách ly tâm chúng ta với cơ thể vật lý thô thiển. Chúng
ta có thể, thí dụ, tách rời tâm độc lập với thân
thể chúng ta trong thời gian ngũ và có thể làm thêm những
việc mà chúng ta không thể làm trong thân thể thông thường.
Tuy vậy, chúng ta có thể không được đền trả cho những
việc làm như thế.
Vì
vậy chúng ta có thể thấy ở đây dấu hiệu rõ rệt của
một sự liên kết gần gũi giữa thân thể và tâm: chúng
có thể bổ sung cho nhau. Trong ánh sáng của vấn đề này,
chúng tôi rất vui để thấy rằng một số khoa học gia
đã tiến hành những sự nghiên cứu đầy ý nghĩa, đáng chú
ý trên tâm/thân/sự liên hệ và sự quan hệ mật thiết của
chúng cho sự hiểu biết của chúng ta về tính tự nhiên của
tinh thần và vật chất được tốt đẹp. Ban của chúng tôi
là bác sĩ Benson [Herbert Benson, MD, Associate Professor of Medicine,
Harvard Medical School], trong vài năm nay đã và đang tiến hành
những thí nghiệm trên những thiền giả Tây tạng. Những
thí nghiệm tương tự như thế cũng đang được tiến hành
ở Czechoslovakia. Đánh giá cho những tìm tòi của chúng ta cho
đến bây giờ, chúng tôi cảm thấy tin tưởng rằng vẫn có
một khối lượng lớn việc sẽ được hoàn tất trong tương
lai.
Với
sự thẩm thấu và sáng suốt mà chúng ta có được từ những
nghiên cứu như thế, không nghi ngờ gì nữa là sự hiểu biết
của chúng ta về tâm và cơ thể, và cũng là của sức khỏe
tâm lý và vật lý, sẽ được giàu có một cách bao la hơn.
Một số khoa học gia hiện đại diễn tả đạo Phật không
như là một tôn giáo mà là một khoa học về tâm, và dường
như có được một vài sở cứ cho lời tuyên bố này.
http://lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/mind.shtml

MỤC
TIÊU CỦA ĐỜI SỐNG
Một
câu hỏi lớn nhấn mạnh kinh nghiệm của chúng ta, cho dù chúng
ta có nghĩ về nó một cách có ý thức hay không: Mục tiêu
của đời sống là gì? Chúng tôi đã suy nghĩ về câu hỏi
này và muốn chia sẻ những suy tư của chúng tôi trong hy vọng
rằng chúng có thể trực tiếp, thực tiển, lợi ích đến
những ai đấy đọc đến.
Chúng
tôi tin tưởng rằng muc tiêu của đời sống là để được
vui tươi-hạnh phúc. Ngay từ khoảnh khắc của sự sinh, mỗi
người chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Chẳng
cần biết điều kiện xã hội hay sự giáo dục (học vấn),
hay hệ tư tưởng ảnh hưởng đến điều này. Từ cốt tủy
của mỗi chúng ta, chúng ta chỉ đơn giản khao khát sự toại
ý. Chúng tôi không biết rằng trong vũ trụ, với vô lượng
thiên hà, tinh tú và hành tinh, có một ý nghĩa nào sâu xa hơn
không, nhưng tối thiểu, rõ ràng rằng loài người chúng ta,
sống trên trái đất đối mặt với công việc để tạo dựng
một đời sống vui vẻ cho chính chúng ta. Vì vậy, thật là
quan trọng để khám phá điều gì sẽ mang đến mức độ
hạnh phúc to lớn
LÀM THẾ NÀO
ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC HẠNH PHÚC
Trong
sự bắt đầu, có thể chia những loại hạnh phúc và khổ
đau thành hai loại chính: tinh thần và vật chất. Đối với
cả hai, chính yếu là tâm chúng ta, hay tư tưởng chúng ta đã
cố gắng một ảnh hưởng lớn nhất trong hầu hết mọi hoạt
động của chúng ta. Ngoại trừ chúng ta hoặc là bệnh hoạn
nghiêm trọng hay bị tước đoạt những sự căn bản cần
thiết, những điều kiện vật lý của chúng ta đã hoạt động
thứ yếu trong đời sống. Nếu thân thể mãn nguyện, chúng
ta phớt lờ nó. Tâm chúng ta, tuy thế, đã ghi nhận mọi sự
kiện, cho dù nó nhỏ đến thế nào. Vì vậy chúng ta nên dành
hết những cố gắng quan trọng nhất của chúng ta để mang
đến sự yên bình của tâm hồn. "Tâm hoà bình, thế giới
thanh bình".
Trong
kinh nghiệm hạn hẹp của chính mình, chúng tôi đã tìm thấy
một mức độ tĩnh lặng to lớn nhất của nội tâm đến
từ sự phát triển của tình thương và từ bi.
Càng
quan tâm đến hạnh phúc của người khác, sự an lành cát
tường của chính ta càng trở nên lớn hơn. Trau giồi một
cảm giác gần gũi, ấm áp cho người khác thì tự động tâm
tưởng chúng ta sẽ được thoãi mái. Điều này giúp dứt
bỏ bất cứ sự sợ hãi hay bất ổn mà chúng ta có thể có
hay làm chúng ta căng thẳng, để đối phó với bất cứ chướng
ngại nào mà chúng ta chạm trán. Nó là cội nguồn căn bản
của thành công trong đời sống.
Khi
chúng ta vẫn còn sống trên cõi đời này, cuộc đời tạm
bợ này, thế giới này chúng ta sẽ phải vẫn còn chạm trán
với những chướng ngại, khó khăn. Nếu tại những thời
điểm như vậy, chúng ta mất hy vọng và trở nên thiếu nghị
lực, chúng ta đã làm giảm mất khã năng đối phó với khó
khăn của chúng ta. Mặt khác, nên nhớ rẳng, không chỉ riêng
cá nhân chúng ta mà mỗi người đã và đang phải chịu đựng
khổ đau, Viễn cảnh thực tế hơn sẽ tăng cường sự quyết
định và khã năng để vượt qua chướng ngại. Thực vậy,
với thái độ này, mỗi chướng ngại mới có thể được
xem như một cơ hội khác tốt hơn để phát triển tâm chúng
ta!
Vì
vậy chúng ta có thể phấn đấu dần dần để trở nên từ
bi hơn, yêu thương hơn, chúng ta có thể phát triển cả sự
cảm thông chân thành với khổ đau của người khác và đồng
thời sẽ giúp để tiêu trừ nổi đau của họ. Như một kết
quả, sự tịch tĩnh và nội lực của chúng ta sẽ được
tăng trưởng
TÌNH THƯƠNG
CẦN THIẾT CHO CHÚNG TA
Một
cách căn bản, nguyên nhân vì sao yêu thương và từ bi mang
đến hạnh phúc to lớn thì đơn giản rằng đấy là bản
tính tự nhiên của chúng ta ấp ủ chúng trên tất cả những
thứ khác. Sự cần thiết cho tình thương là nền tảng căn
bản cho sự tồn tại của loài người. Nó kết quả từ sự
liên đới sâu sắc mà chúng ta chia sẽ với những người
khác. Tuy nhiên khã năng và sự thiện nghệ của cá nhân có
thể, nếu bị bỏ rơi cô đơn, người ấy sẽ không thể
sống sót. Tuy nhiên, sự mạnh mẽ và độc lập của một
người có thể cảm nhận trong thời gian thành công và phát
đạt; khi họ quá trẻ hay quá già, hay bệnh hoạn người ta
phải cần nhờ sự giúp đở hổ trợ của người khác.
Dĩ
nhiên, sự lệ thuộc lẫn nhau, là luật căn bản của tự
nhiên. Không chỉ trong chủng loại cao cấp của đời sống
mà trong những côn trùng nhỏ bé cũng có xã hội hợp quần.
Ai có thể không có bất cứ tôn giáo, luật lệ, hay giáo dục,
mà có thể sống sót, nhưng bởi nhờ cộng tác lẫn nhau căn
cứ trên một sự thừa nhận bẩm sinh của tính chất liên
kết. Những hiện tượng vật chất ở trạng thái tinh vi nhất
cũng bị chi phối bởi sự phụ thuộc lẫn nhau. Tất cả những
hiện tượng từ hành tinh chúng ta đang sống đến đại dương,
mây mưa, rừng rậm và bông hoa ở xung quanh chúng ta, khởi
lên, vươn lên trong sự lệ thuộc một quy luật tinh vi của
năng lượng. Không có những tác động hổ tương cụ thể,
chúng sẽ tan rã và tàn hoại.
Điều
ấy cho thấy rằng, vì sự tồn tại của chính loài người
thì rất tuỳ thuộc vào sự hổ trợ của những thứ khác
rằng sự cần thiết của tình thương dựa trên nền tảng
căn bản của sự tồn tại của chúng ta. Vì vậy chúng ta
cần một sự cảm nhận thành thật của trách nhiệm và chân
thành quan tâm đến quyền lợi của kẽ khác.
Chúng
ta phải nghĩ loài người thật sự là gi? Chúng ta không giống
như những sản phẩm máy móc. Nếu chúng ta đơn giản là thực
thể máy móc tồn tại, thế thì những máy móc chính nó có
thể làm nhẹ bớt tất cả những khổ đau và đáp ứng nhu
cầu của chúng ta.
Tuy
nhiên chúng ta không là những tạo vật vật chất duy nhất,
thật sai lầm để đặt tất cả những hy vọng cho hạnh phúc
với sự phát triển bên ngoài đơn thuần. Thay vì vậy, chúng
nên suy nghĩ về cội nguồn và tự nhiên của chúng ta để
khám phá những gì chúng ta đòi hỏi.
Bỏ
qua một bên những câu hỏi phức tạp của sự hình thành
và phát triển của vũ trụ chúng ta, chúng ta có thể ít nhất
đồng ý rằng mỗi chúng ta là sản phẩm của bố mẹ chúng
ta. Tổng quát, sự thụ thai phát sinh không chỉ trong bối cảnh
của khát dục nhưng từ sự quyết định của bố mẹ chúng
ta muốn có con. Những quyết định như thế phát sinh trong
trách nhiệm và vị tha của bố mẹ và nguyện ước yêu thương
nhân ái để chăm sóc con cái cho đến khi chúng có thể tự
lo liệu cho đời sống chính chúng nó. Vì vậy, ngay từ khoảnh
khắc đầu tiên của sự thụ thai, tình yêu thương của bố
mẹ chúng ta đã thẩm thấu trực tiếp trong sự sáng tạo.
Hơn
thế nữa, chúng ta hoàn toàn tuỳ thuộc trên sự chăm sóc
của những bà mẹ ngay từ những buổi sớm nhất của sự
khôn lớn. Căn cứ vào một số nhà khoa học, trạng thái tinh
thần một sản phụ, tĩnh lặng hay náo động, có một ảnh
hưởng trực tiếp đến đứa bé chưa sinh.
Sự
biểu lộ tình thương cũng rất quan trọng ở đời thời điểm
sinh sản. Việc sớm nhất chúng ta làm là bú sửa từ bầu
vú của những bà mẹ, chúng ta cảm thấy gần một cách tự
nhiên với bà mẹ, và bà mẹ phải cảm thương chúng ta để
dưỡng nuôi một cách đúng mức; nếu bà mẹ cảm thấy giận
hờn hay bực bội dòng sữa có thể không tuôn chảy thoãi
mái.
Rồi
thì đấy là thời điểm của sự phát triển của bộ não
từ lúc mới sinh cho đến ít nhất là ba hay bốn tuổi, suốt
trong thời gian này
Trẻ
con không thể sống sót nếu không có sự chăm sóc của những
người khác, vì vậy tình thương là chât dinh dưỡng quan trọng
nhất. Hạnh phúc của trẻ thơ, sự làm lắng dịu nhiều sợ
hãi và phát triển khoẻ mạnh của sự tự tin, tất cả tuỳ
thuộc trực tiếp trên tình thương.
Ngày
nay, nhiều trẻ thơ đã lớn lên trong những ngôi nhà không
hạnh phúc. Nếu chúng tiếp nhận ảnh hưởng cụ thể, sau
này chúng sẽ kém thương mến bố mẹ chúng và không hiếm
xãy ra, chúng sẽ khó thương mến người khác. Đây là điều
rất buồn.
Khi
trẻ thơ lớn hơn và đến trường, sự hổ trợ cần thiết
cho chúng là những giáo viên. Nếu giáo viên không chỉ truyền
đạt sự giáo huấn hoàn toàn lý thuyết nhưng cũng đảm đương
trách nhiệm việc chuẩn bị cho học sinh một cuộc sống,
học sinh của các giáo viên ấy sẽ cảm thấy tin tưởng và
tôn trọng và những điều chúng được dạy bảo sẽ để
lại những ấn tượng không thể phai mờ trong tư tưởng chúng.
Trái lại, những chủ đề được giảng dạy bởi một giáo
viên không biểu hiện một sự quan tâm đúng đắn đến học
sinh toàn bộ tốt đẹp sẽ chỉ liên quan như tạm thời và
không được ghi nhớ lâu dài.
Một
cách đơn giản, nếu một người bệnh và được chửa trị
trong một bệnh viện bởi một bác sĩ chứng tỏ một cảm
giác ấm áp của tình người, bệnh nhân sẽ cảm thấy thoãi
mái và bác sĩ khao khát cống hiến một sự điều trị tối
ưu, bất chấp trình độ, kỷ năng của bác sĩ như thế nào.
Trái lại, một bác sĩ thiếu vắng tình người và hành động
biểu hiện thiếu thiện cảm không kiên nhẫn hay liên hệ
một cách vô tình, bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu, lo âu;
ngay cả nếu đấy là một bác sĩ có một kỷ năng cao cấp
nhất và chứng bệnh đã được chẩn đoán và toa thuốc được
cho một cách đúng mức. Thông thường những bệnh nhân cảm
thấy bị đối xử khác biệt với sự đầy đủ chất lượng
cho sự khỏi bệnh của họ.
Ngay
cả chúng ta tham dự vào cuộc đối thoại hằng ngày, nếu
một vài người phát biểu với cảm giác nhân tính chúng ta
thích thú để lắng nghe và trả lời một cách thích hợp;
toàn bộ cuộc đối thoại trở nên hứng thú, dù là đề
tài có thể không quan trọng. Trái lại, nếu một người phát
biểu lạnh lùng hay lỗ mãng, chúng ta cảm thâý không thoãi
mái và mong cuộc đối thoại chóng chấm dứt, cũng như những
hành động liên hệ. Từ những sự kiện tấm thường cho
đến những sự kiện quan trọng nhất, sự ảnh hưởng và
tôn trọng người khác là quan trọng cho hạnh phúc của chúng
ta.
Gần
đây, khi gặp những nhà khoa học, họ nói rằng tỉ lệ những
bệnh tâm thần đã cao đến mức 12% dân số. Rõ ràng rằng
qua sự thảo luận chúng ta thấy rằng nguyên nhân chính của
sự căng thẳng không phải là sự thiếu thốn nhu cầu vật
chất nhưng là sự thiếu vắng sự quan tâm của người khác.
Vì
vậy, khi chúng ta có thể thấy từ mọi thứ chúng tavđã viết
như thế, một sự việc dường như đối với chúng tôi: cho
dù chúng ta có để tâm đến nó một cách liên tục hay không,
từ ngày chúng ta sinh ra, sự cần thiết của ảnh hưởng của
con người là ở trong máu của chúng ta. Ngay cả nếu ảnh
hưởng đến từ động vật hay ai đấy mà chúng ta thông thường
nghĩ là kẽ thù, cả thiếu niên và người lớn sẽ hướng
về phía ấy một cách tự nhiên.
Chúng
tôi tin rằng không ai sinh ra mà không cần đến tình thương.
Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù một vài trường phái
của tư tưởng hiện đại cũng tìm hiểu như thế, loài người
không thể được định nghía như chỉ là đơn thuần vật
lý duy nhất. Không có đối tượng vật chất, tuy vậy xinh
đẹp hay giá trị, có thể làm chúng ta cảm thấy tình thương,
bởi vì cá tính sâu sắc và bản tính thật của chúng ta thì
căn cứ trên tâm tính bản nhiên.
PHÁT TRIỂN
LÒNG TỪ BI - THƯƠNG YÊU
Một
vài người bạn của chúng tôi đã từng nói rằng, trong khi
từ bi và yêu thương là tốt đẹp và diệu kỳ, vậy mà họ
không thấy thật sự liên hệ nhiều. Họ nói rằng, thế giới
chúng ta, không phải là một nơi mà những sự tin tưởng như
thế có nhiều ảnh hưởng hay năng lực. Người ta nói rằng
giận hờn và căm ghét mới là một phần lớn tự nhiên của
loài người và loài người sẽ luôn luôn bị khống chế bởi
chúng. Chúng tôi không đồng ý như thế.
Loài
người chúng ta đã tồn tại trong hình thể như hiện tại
đã hàng trăm nghin năm. Chúng tôi tin rằng nếu trãi qua thời
gian này tâm tư con người bị khống chế bởi giận ghét và
căm thù là chính yếu, thì toàn bộ dân số con người sẽ
giảm xuống. Nhưng hôm nay, bất chấp tất cả những cuộc
chiến tranh, chúng ta lại thấy rằng dân số của nhân loại
đã đông đảo hơn bao giờ hết. Điều này chỉ rõ ràng cho
chúng tôi rằng từ bi và thương yêu chiếm ưu thế trên hoàn
cầu. Và điều này, tại sao những sự kiện không hài lòng
lại là những "tin tức", bởi vì những hành động từ bi
thương yêu đã chiếm phần lớn trong cuộc sống hằng ngày
là tất nhiên và vì vậy, nó bị lãng quên một cách rộng
rãi.
Hơn
thế nữa chúng tôi đã từng thảo luận những lợi ích tinh
thần chính yếu của từ bi, không những thế nó còn góp phần
cho một thân thể cường tráng. Theo kinh nghiệm cá nhân của
chúng tôi, một tinh thần ổn định và một thân thể khoẻ
mạnh thì liên hệ trực tiếp với nhau. Không cần hỏi, giận
dữ và dễ bị khích động làm chúng ta dễ mắc phải bệnh
tật hơn. Trái lại, nếu tâm hồn tĩnh lặng, thanh bình và
tràn ngập những tư tưởng tích cực, thân thể sẽ không
sa sút và làm mồi cho tật bệnh một cách dễ dàng.
Nhưng
dĩ nhiên, cũng đúng rằng tất cả chúng ta đều có một tính
vị kỷ bẩm sinh đã ngăn trở tình yêu thương của chúng
ta đến người khác. Vì vậy, khi mà chúng ta khao khát một
hạnh phúc chân thực, điều được mang đến chỉ do một
tâm hồn tĩnh lặng, và một sự yên bình của tâm hồn như
thế chỉ có thể có được với một thái độ từ bi, làm
thế nào chúng ta có thể phát triển điều này? Một cách
rõ ràng, nó không đủ khi chúng ta chỉ đơn giản nghĩ về,
từ bi là tốt đẹp thế nào!
Chúng
ta cần có sự cố gắng phối hợp để phát triển nó; chúng
ta phải dùng tất cả những sự kiện trong đời sống hằng
ngày để chuyển hoá tư tưởng và thái độ của chúng ta.
Trước
nhất, chúng ta phải hiểu rõ ràng về, từ bi thương yêu là
nghĩa thế nào, với chúng ta. Rất nhiều dạng của cảm giác
từ bi thương yêu bị lẫn lộn với khao khát, thèm muốn,
dục vọng và vướng mắc. Chẳng hạn, tình thương của ba
mẹ dành cho con cái thường gắn liền với những nhu cầu
của những cảm xúc của chính họ, vì vậy nó không là lòng
từ bi thương yêu hoàn toàn. Một thí dụ khác, trong hôn nhân,
tình yêu giữa chồng và vợ- đặc biệt là lúc mới bắt
đầu, khi mỗi người chưa biết sâu sắc những cá tính của
nhau - nó tuỳ thuộc vào sự ái luyến hơn là tình yêu chân
thật. Sự khao khát của chúng ta quá mạnh rằng người mà
chúng ta yêu mến xuất hiện được tốt đẹp như lòng chúng
ta mong đợi, trong khi thật sự người ấy thì quá tiêu cực.
Thêm nữa, chúng ta có xu hướng thổi phồng những phẩm cách
tích cực nhỏ. Vì vậy khi thái độ của người phối ngẫu
thay đổi, thì người kia thường chán nản, thất vọng và
thái độ cũng thay đổi luôn. Điều này cho thấy rằng tình
yêu đã được thúc đẩy bởi nhu cầu cá nhân hơn là bởi
sự chăm sóc chân thành cho cá nhân của người khác.
Lòng
từ bi thương yêu chân thật không chỉ là một sự đáp ứng
tình cảm mà là một nguyện ước vững chắc đặt nền tảng
trên lý trí. Vì vậy, một thái độ từ bi thương yêu đúng
đắn hướng đến những người khác không thay đổi ngay cả
nếu họ đối xử tiêu cực.
Dĩ
nhiên, phát triển từ bi thương yêu như thế này thì không
dễ dàng! Như đã nói lúc bắt đầu, chúng ta hãy theo dõi
những điều sau:
Cho
dù người ta xinh đẹp và thân hữu hay không quyến rũ và
không thân thiện, một cách căn bản họ cũng là người, chỉ
giống chính mình. Giống như ai khác, họ muốn hạnh phúc và
không muốn khổ đau. Xa hơn nữa, người ta có quyền để
vượt qua khổ đau và để được hạnh phúc bình đẳng với
mọi người. Bây giờ, khi chúng ta đã nhận ra rằng, tất
cả chúng sinh thì bình đẳng cả với khao khát cho hạnh phúc
và quyền để đạt được điều ấy, chúng ta tự động
cảm thấy sự xúc cảm và gần gũi với tất cả.
Xuyên
qua thói quen của tâm chúng ta với cảm giác vị tha bao la,
chúng ta phát triển một cảm nhận trách nhiệm cho người
khác: nguyện ước để giúp đở họ hành động vượt qua
những chướng ngại của họ.
Mặc
dù nguyện ước này được lựa chọn, nhưng nó được hướng
đến tất cả mọi người. Cho đến khi nào người ta vẫn
là người thì kinh nghiệm vui mừng hay đau khổ cũng như chúng
ta mà thôi, không có một căn bản nào phân biệt giữa họ
hay để thay đổi sự quan tâm đến họ dù họ cư xử tiêu
cực.
Hãy
để chúng tôi nhấn mạnh rằng, nó là năng lực trong chúng
ta, hãy cho kiên nhẫn và thời gian, để phát triển lòng từ
bi thương yêu này. Dĩ nhiên, tính vị kỷ của chúng ta, sự
ái luyến đặc biệt đến cảm giác độc lập, sự tồn tại
của tự ngã, cái tôi làm căn bản chủ yếu để cản trở
lòng từ bi thương yêu của chúng ta.Thực vậy, lòng từ bi
thương yêu chân chính có thể được kinh nghiệm chỉ khi sự
chấp thủ, bám chặc được xoá bỏ. Nhưng điều này không
có nghĩa là chúng ta không thể bắt đầu và làm một chương
trình để phát triển lòng từ bi thương bây giờ.
CHÚNG TA BẮT
ĐẦU NHƯ THẾ NÀO!
Chúng
ta nên bắt đầu bằng việc loại trừ những chướng ngại
lớn nhất đến lòng từ bi thương yêu: giận dữ và thù ghét.
Như chúng ta đã biết, đây là những cảm xúc cực kỳ mạnh
mẻ và chúng có thể khống chế cả toàn bộ tâm tư chúng
ta. Mặc dù vậy, chúng có thể được kiểm soát. Tuy nhiên,
nếu không vậy, thì đây là những cảm xúc tiêu cực sẽ
gây tai hại cho chúng ta và làm cản trở sự mưu cầu cho hạnh
phúc của một tâm thương yêu - nếu không có ảnh hưởng
nào khác trên chúng.
Vì
vậy, khi bắt đầu, thật lợi ích để khám phá giá trị
của giận dữ hay không giận dữ. Thỉnh thoảng, khi chúng
ta thiếu nghị lực trong một hoàn cảnh khó khăn, sự giận
dữ dường như một hổ trợ có ích, xuất hiện để mang
đến thêm năng lượng, sự tin cậy và quyết định.
Vì
vậy, nơi đây, chúng ta phải trắc nghiệm trạng thái của
tinh thần chúng ta một cách cẩn thận. Trong khi đúng là giận
dữ mang thêm năng lượng, nếu chúng ta khám phá tính tự nhiên
của năng lượng này, chúng ta thấy rằng nó là mù quáng:
chúng ta không thể chắc chắn rằng kết quả của nó sẽ
là tích cực hay tiêu cực. Bởi vì sự giận dữ đã làm mờ
tối phần tuyệt hảo của bộ óc chúng ta: sự sáng suốt
của nó. Vì vậy năng lượng của giận dữ hầu như luôn
luôn không đáng tin cậy. Nó có thể là nguyên nhân của một
sự tàn phá rộng lớn , một thái độ đáng tiếc. Hơn thế
nữa, nếu sự giận dữ phát triển đến cùng cực, người
ấy trở nên như một kẻ bị bệnh tâm thần, hành động
trong chiều hướng tổn hại chính tự thân và những người
khác.
Tuy
nhiên, chúng ta có thể phát triển một năng lực tương xứng
nhưng với năng lượng có thể kiểm soát để đối phó với
những hoàn cảnh khó khăn.
Năng
lượng kiểm soát được này đến không chỉ từ thái độ
từ bi yêu thương mà cũng từ lý trí và nhẫn nhục. Đây
là những loại thuốc giải cực kỳ hiệu nghiệm đối với
giận dữ. Kém may mắn thay, rất nhiều người đã phán đoán
sai lầm những phẩm chất này như những dấu hiệu của sự
yếu đuối. Chúng tôi tin tưởng sự ngược lại là đúng:
rằng đây là những dấu hiệu của một sức mạnh từ bên
trong. Từ bi yêu thương là bởi sự dịu dàng, tế nhị, và
hoà bình tự nhiên, nhưng nó cũng rất là mạnh mẽ. Nó là
như thế đó, yếu đuối, đối với những ai mất sự kiên
nhẫn một cách dễ dàng, những ai không vững chắc, và không
kiên định. Vì vậy, đối với chúng tôi sự thức dậy của
giận dữ là dấu hiệu trực tiếp của yếu đuối.
Cho
nên, khi một điều rắc rối khởi lên, cố gắng duy trì khiêm
tốn và giữ một thái độ ngay thẳng và được quan tâm rằng
kết quả sẽ tốt. Dĩ nhiên, những kẽ khác có thể thừa
cơ hội này để lợi dụng, và nếu thái độ duy trì không
giao động của chúng ta chỉ khuyến khích sự gây hấn phi
lý, hãy mạnh dạn đứng vững. Tuy nhiên điều này nên được
thực hiện với từ bi thương yêu, và nếu cần thiết để
bày tỏ quan điểm và làm một biện pháp đối phó mạnh mẽ
của chúng ta, hãy làm như vậy mà không giận dữ hay mục
đích không chính đáng.
Chúng
ta nên nhận thức rằng mặc dù người đối nghịch xuất
hiện để làm tổn hại chúng ta, cuối cùng, những hành động
phá phách sẽ chỉ tổn hại chính họ. Để kiểm soát lại
sự vị kỷ của chính chúng ta, sự thôi thúc để trả đủa,
chúng ta nên nhắc lại niềm mong ước được thực tập từ
bi thương yêu và đảm đương trách nhiệm để giúp đở ngăn
ngừa người khác phải khổ đau vì hậu quả những hành động
của họ.
Vì
vậy, bởi vì sự đo lường chúng ta, việc làm đã được
chọn lựa một cách tĩnh lặng, chúng sẽ được ảnh hưởng
hơn, chính xác hơn và sinh động hơn. Sự trả đủa căn cứ
trên năng lượng mù quáng của giận dữ sân hận và hiếm
khi đạt được mục tiêu.
BẠN VÀ THÙ
Chúng
tôi phải nhấn mạnh rằng không chỉ đơn thuần nghĩ từ
bi yêu thương và lý trí và nhẫn nhục là tốt đẹp, thì
sẽ không đủ để phát triển chúng. Chúng ta phải đợi cho
đến khi những khó khăn trỗi dậy và rồi thì mới có dịp
để mà cố gằng thực hành những điều ấy.
Và
ai sẽ tạo ra những cơ hội như vậy? Không phải bạn bè
chúng ta, và dĩ nhiên, đấy là những kẽ thù của chúng ta.
Họ sẽ là những kẽ trao tặng chúng ta những tình huống
khó khăn nhất. Vì vậy nếu chúng ta thực sự ước nguyện
để học, chúng ta nên nghĩ rằng những người thù là những
vị thầy tuyệt hảo của chúng ta!
Cho
một người nuôi dưỡng từ bi và tình thương, sự thực hành
kiên nhẫn và khoan dung là căn bản, và cho điều đó, một
kẽ thù là rất cần thiết, không thể thiếu được. Vì vậy
chúng ta nên cảm thấy biết ơn những kẽ thù của chúng ta,
vì họ là kẽ có thể hổ trợ tốt nhất để chúng ta phát
triển một tâm tĩnh lặng! Cũng vậy, thường có trường hợp
cả cá nhân và trong đời sống cộng đồng, điều đó đã
chuyển hoá tình trạng, những kẽ thù thành những người
bạn.
Vì
vậy sân hận và thù ghét thì luôn luôn tổn hại, và trừ
khi chúng ta đã rèn luyện tâm tính và hành động để giảm
bớt những mãnh lực tiêu cực của chúng, chúng sẽ tiếp
tục để quấy rầy chúng ta và đập phá những cố gắng
để chúng ta phát triển một tâm tĩnh lặng yên bình. Sân
hận và thù ghét là những kẽ thù thật sự của chúng ta.
Đây là những sức mạnh mà chúng ta cần thiết nhất để
đối diện và chiến đấu, nó không là những "kẽ thù" tạm
thời, chúng xuất hiện một cách gián đoạn suốt cuộc đời
chúng ta.
Dĩ
nhiên, thật tự nhiên và đúng đắn rằng tất cả chúng ta
đều muốn mọi người đều là bạn, chúng ta muốn bạn chứ
không muốn kẽ thù. Chúng tôi thường đùa răng nếu bạn
muốn ích kỷ, bạn nên rất là vị tha! Chúng ta nên săn sóc
những người khác, quan tâm đến lợi ích của họ, giúp đở
họ, phục vụ họ, thân hữu hơn, mĩm cười nhiều hơn. Kết
quả? Khi chúng ta cần sự giúp đở, chúng ta sẽ thấy vô
số người giúp đở! Nếu trái lại, chúng ta thờ ơ với
hạnh phúc của người khác, với thời gian chúng ta sẽ là
những kẽ thất bại. Và có phải tình thân hữu được sản
sinh xuyên qua những mối bất hoà và sân hận, ganh tị và
cạnh tranh sôi nổi? Chúng tôi không nghĩ như vậy. Chỉ có
tình cảm mang đến cho chúng ta tình bằng hữu chân thật gần
gũi.
Trong
xã hội vật chất ngày nay, nếu chúng ta có tiền tài và quyền
thế, chúng ta dường như có rất nhiều bạn bè. Nhưng họ
không phải là những người bạn của chúng ta; họ là bạn
của tiền và quyền. Khi chúng ta mất sự giàu có và ảnh
hưởng, chúng ta sẽ rất khó tìm thấy những người như vậy.
Vấn
đề là khi mọi chuyện tốt lành êm xuôi đối với chúng
ta trên thế giới này, chúng ta trở nên tin tưởng rằng chúng
ta có thể tự quán xuyến mọi chuyện và cảm thấy rằng
chúng ta không cần bằng hữu, nhưng khi tình trạng và sức
khoẻ suy đồi, chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng chúng ta sai
lầm. Đấy là khoảnh khắc mà chúng ta học được rằng ai
chính là người thật sự ích lợi và ai là hoàn toàn vô tích
sự. Vì vậy để chuẩn bị cho thời khắc ấy, để hình
thành nên những người bạn chân thành sẽ giúp đở khi chúng
ta cần đến, chúng ta phải phát triển lòng vị tha!
Mặc
dù thỉnh thoảng người ta cười phá lên khi chúng tôi nói
đến điều ấy, nhưng tự chúng tôi luôn cần thêm bạn. Chúng
tôi thích mĩm cười. Bởi vì điều này chúng tôi hiểu biết
làm thế nào để có thêm bạn nhiều hơn và làm thế nào
để mĩm cười nhiều hơn, và trong cá nhân chúng tôi là những
nụ mĩm cười thành thật. Có nhiều loại mĩm cười như là
cười mĩa mai, giả tạo hay xã giao. Rất nhiều những nụ
cười không tạo được cảm giác hài lòng, và thỉnh thoảng
nụ cười ngay cả tạo nên sự nghi ngờ và sợ hải, có đúng
thế không? Nhưng một nụ cười chân thành thật sự trao tặng
chúng ta một cảm giác tươi mát và chúng tôi tin nó là đặc
trưng của loài người. Nếu đây là những nụ cười chúng
ta muốn, rồi thì tự chúng ta phải tạo nên lý do để những
nụ cười thành thật, tươi mát và hạnh phúc có thể xuất
hiện.
TỪ BI YÊU
THƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG CHÚNG TA
Để
kết luận, chúng tôi muốn vắn tắt để mở rộng sự suy
tư của chúng tôi trước chủ đề của bài này và mở rộng
hơn điểm: hạnh phúc cá nhân có thể cống hiến trong một
phương pháp hiệu quả sâu sắc và ảnh hưởng đến toàn
bộ việc cải thiện cộng đồng nhân loại.
Bởi
vì chúng ta cùng chia sẽ bản chất cần thiết của tình thương
yêu, điều ấy là có thể để cảm thấy rằng bất cứ người
nào chúng ta gặp, trong bất cứ tình trạng nào, đều là anh
em, chị em với nhau. Không kể là khuôn mặt ấy mới mẽ hay
khác lạ của trang phục và thái độ như thế nào, không có
sự khác biệt nào quan trong giữa chúng ta và những người
khác. Thật là cạn cợt nếu chỉ dừng lại sự khác biệt
ở bên ngoài bởi vì bản chất tự nhiên của chúng ta là
giống nhau.
Một
cách căn bản, loài người là một và hành tinh nhỏ bé này
là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Nếu chúng ta bảo vệ ngôi
nhà này của chúng ta, mỗi chúng ta cần kinh nghiệm qua một
giác quan của chủ nghĩa vị tha toàn cầu. Chỉ cần cảm nhận
điều này, là chúng ta có thể xoá nhoà động cơ vị kỷ,
là nguyên nhân chúng ta lừa dối, làm thất vọng và hành hạ
kẻ khác. Nếu chúng ta có sự ngay thẳng và trái tim cởi mở,
chúng ta sẽ cảm thấy giá trị của chính nó và sự tin cậy
một cách tự nhiên, và không cần phải sợ hãi kẽ khác.
Chúng
tôi tin rằng ở tại bất cứ giai tầng nào của xã hội-
gia đình, bộ tộc, quốc gia và quốc tế- chìa khoá để một
thế giới hạnh phúc hơn và thành công hơn là sự lớn mạnh
của lòng từ bi thương yêu. Chúng ta không cần để trở nên
sùng đạo hay cần phải tin tưởng ở một học thuyết nào.
Việc
cần thiết cho tất cả chúng ta là phát triển những phẩm
chất tốt đẹp của con người.
http://lamayeshe.com/otherteachers/hhdl/compassion.shtml
