LÀN
SÓNG VÀ HẠT TỬ CHUYỂN HÓA LẪN NHAU
-
Tinh thần biến vật chất:
Sự
giao biến giữa làn sóng và hạt tử phản ảnh trong sanh mạng
của con người là hiện tượng từ tinh thần biến thành vật
chất. Trước tiên, chúng ta nên tìm hiểu chữ “biến”,
“biến” như thế nào?
Theo
khí công là dùng ý niệm lực, gọi là “ý đến thì khí
đến; khí đến thì làn sóng tin tức liền đến”. Khí này
có thể điều chỉnh kết nội bộ của vật thể, hoặc phóng
lớn rút nhỏ, hoặc dời chỗ, hoặc biến hình, tụ hợp và
tan rã… toàn nhờ ý niệm lực để điều khiển.
Nếu
nói từ vật sanh tinh thần thì “vật chất là đệ nhất
tánh”, thuộc quan điểm duy vật; vậy, từ tinh thần biến
vật chất thì “tinh thần là đệ nhất tánh”, thuộc quan
điểm duy tâm. Khí công là nhấn mạnh quan điểm sau, chú trọng
tác dụng của ý niệm, ví như một nhà khí công biến rượu
thành nước, hoặc dùng ý niệm dời đi sỏi mật trong thân
của bệnh nhân… những hiện tượng kỳ lạ chân thật này
đều thuộc tinh thần biến vật chất, đối với nhà khí
công cũng thuộc việc thường thôi.
- Ẩn
công với hiển công:
Chúng
ta cần phải thăm dò phần lý luận của khí công, hãy so sánh
sự khác biệt giữa cơ niệm lực và ý niệm lực.
Học
thuyết ẩn hiển nhắc nhở con người khi nhận xét sự vật,
nên chú ý nguyên tắc thống nhất và đối lập tánh ẩn với
hiển, ví như nói có cơ điện lực (hiển tánh lực mà ngũ
giác quan có thể thấy) thì ắt phải có ý niệm lực (ẩn
tánh lực mà ngũ giác quan chẳng thể thấy).
Hãy
xem biểu đồ so sánh như sau:
|
Hiển
tánh lực
|
Ẩn
tánh lực
|
|
Cơ
điện lực
|
Ý
niệm lực
|
|
Vật
thể vận động
|
Tinh
thần vận động
|
|
Thật
tử vận động
|
Hạt
tử vận động
|
|
Ngũ
giác quan thấy được
|
Ngũ
giác quan chẳng thể thấy được
|
|
Dùng
sức trao truyền
|
Dùng
sức cảm ứng
|
|
Hoằng
quán động thái
|
Hoằng
quán tịnh thái
|
|
Thể
xác điều khiển
|
Tâm
lực điều khiển
|
|
Dựa
theo 3 định lực của Newton
|
Dựa
theo 3 ẩn tánh, hiển, trung của vô cực
|
- Hiện
tượng chuyển hóa của tâm pháp vô cùng:
Hiện
tượng của tâm pháp vô cùng, cần phải xem theo thật tế
có thể thông qua ý chí lực tiến hành ý niệm hoạt động
để sanh ra ý niệm năng hay không? Khi bắn ra một làn sóng
tin tức, ảnh hưởng vật chất thật tử sanh ra biến hóa,
quá trình này tức là phát công. Phương pháp phát công muôn
muôn ngàn ngàn của nguyên lý này, gọi là tâm pháp vô cùng.
Nguyên
tắc chuyển hóa của hai tánh ẩn hiển này đến cấp bậc
cao, có đủ thứ chuyển hóa, đều thuộc về một nguyên lý,
cũng là tâm pháp vô cùng, ví như Đạo Giáo xử dụng bùa
chú, thủ ấn, vật tin tức, bí quyết… dùng nhiều phương
cách thúc đẩy ý niệm năng bắn ra làn sóng tin tức để
biến đổi sự kết cấu vật chất của thế giới thật tử.
Vì
sự nhận thức của loài người đối với khoa học vũ trụ
còn kém, đối với không gian bốn chiều mà cao hơn tầng lớp
của không gian ba chiều này, thật chẳng thể lý giải; hể
mở miệng liền lọt vào tư duy tầm thường của phàm phu
tục tử, đâu thể nhảy ra ngoài khuôn khổ của không gian
ba chiều để nhận thức pháp vô cùng tận trong thế giới
trong sạch từ không gian bốn chiều trở lên! Sự cảm nhận
này chẳng thể hồ đồ, trái lại cần phải có cao độ cảnh
giác mới được.
- Khoa
học Tây phương với kỹ thuật khí công:
Nói
“phạm vi vật chất thật tử vận động chỉ thích hợp
trong không gian ba chiều” là lý luận của khoa học Tây phương,
còn “phạm vi về ẩn tánh vận động thích ứng nơi không
gian bốn chiều” là triết lý của khoa học Đông phương.
Đông
Tây phương mỗi mỗi đều có quy luật và phạm vi khác biệt
để thích ứng với lý luận của họ, dùng khoa học Tây phương
xác định kỹ thuật khí công của triết lý Đông phương,
ấy tức là dùng khoa học hiện đại để xác định triết
lý linh học, thật là bất khả tư nghì, chẳng biết dựa
vào đâu mà đoán mò, có thể gọi là mắt mù.
Sở
dĩ, chúng tôi muốn nắm vững và phát triển khoa học hiện
đại, chỉ vì muốn cho lý luận Đông Tây song song cùng tiến
vào vũ trụ vô cực mà thôi.
Đứng
trên vũ trụ vô cực để đối chiếu đặc điểm khác biệt
giữa không gian ba chiều với khí công học của thời gian
bốn chiều như sau:
| Khoa
học hiện đại: |
Khí
công học: |
| Thích
hợp với không gian 3 chiều |
Thích
ứng với không gian 4 chiều |
| Suy
lý bằng logic |
Lãnh
hội bằng linh cảm |
| Cảm
nhận bằng ngũ giác quan |
Cảm
nhận siêu ngũ giác quan |
| Cơ
điện động lực |
Ý
niệm động |
| Dưới
tốc độ ánh sáng |
Siêu
tốc độ ánh sáng |
| Xử
dụng máy móc |
Xử
dụng tâm linh |
| Dùng
máy vi tính |
Dùng
trí óc con người |
| Có
thể tái diễn nhiều lần |
Tùy
duyên chuyển biến |
| Thích
hợp thế giới hiển tánh |
Thích
hợp thế giới ẩn tánh |
| Chỉ
dùng duy vật luận |
Kiêm
dùng duy tâm luận |
Theo
đặc điểm khác biết kể trên thì hiện tượng khí công
chẳng thể đi theo đường lối toán lý Tây phương để tìm
sự phát triển, ấy là tiến vào khu đen tối. Thế thì, khí
công cần phải tiến lên tầng lầu trên theo đường lối
khoa học vũ trụ để tìm tòi tư tưởng hướng dẫn của
triết lý, từ trên tầng lầu cao nhìn xuống mới có thể
dùng khách quan phán đoán vị trí, thứ lớp, đặc điểm,
quan hệ hợp lý giữa khí công và khoa học hiện đại.
- Quá
trình về 5 giai đoạn tiến hóa:
Quá
trình phát triển từ khoa học đến không gian bốn chiều,
có thể chia ra làm 5 giai đoạn, ấy là:
1.
Con người: Là người địa cầu thuộc không gian ba chiều,
dùng ngũ giác quan cảm nhận sự vật.
2.
Năng nhận: Nhà khí công đạt mức độ, gồm có tánh ngộ
triết lý Đông phương và trí thức toán lý khoa học Tây phương.
3.
Kỳ nhân: Nhà khí công cao cấp hơn năng nhân, cũng là người
công năng mức độ, đã khai ngộ tâm lý.
4.
Siêu nhân: Người có công năng đặc biệt siêu việt kỳ nhân.
5.
Linh nhân: Có thể ra vào thế giới ẩn hiển, hư thật, có
công năng chuyển hóa không thời gian hay phi hành, ẩn hành,
sống tự do nơi thái dương hệ.
- Giả
thuyết về chu kỳ của văn minh địa cầu:
Từ
khi địa cầu hình thành đến nay, đã trải qua nhiều chu kỳ.
Vì văn minh địa cầu có tánh chu kỳ tuần hoàn, nghĩa là
từ xã hội nguyên thủy đã mang đến thời kỳ văn minh rồi.
Đời sống văn minh chúng ta hiện nay thuộc chu kỳ vòng thứ
8, đồng thời đã phát triển gần đến tột đỉnh.
Giả
thuyết này đã được nhà khảo cổ và những tài liệu đã
phát hiện chứng minh, đồng thời cũng được sự chú trọng
của giới học thuật cao cấp.
Theo
sự phát hiện của nhà thám hiểm và khảo cổ, cho những
di tích kỳ quan và sự vật thời thượng cổ mà khoa học
không thể giải thích là sự sáng tạo bởi người văn minh
của chu kỳ trước.
Cũng
như sự truyền thuyết của vương quốc Lan-Tế-Tư (dịch âm)
đã chìm mất nơi biển Đại Tây Dương, là một vương quốc
có công năng kỹ thuật khoa học cao đã tồn tại trong chu
kỳ văn minh trước. Kim Tự Tháp của Ai Cập và Kim Tự Tháp
dưới đáy biển Mexico, đều thuộc về kiến trúc công năng
cao cấp do người văn minh chu kỳ trước sáng tạo.
Thời
gian cách nhau của mỗi vòng chu kỳ có dài có ngắn, quy luật
phát triển đại khái giống nhau, đều từ thời đại thạch
khí, mộc khí, thiết khí, đồng khí; tiến triển cho đến
thời kỳ chăn nuôi và nông nghiệp, dần dần từ thời đại
nhân lực, thủ lực nhảy vọt đến cơ khí bốc hơi, cho đến
cơ giới hóa, điện tử hóa, thời đại điện tử vi tính
mà đạt đến tột đỉnh của văn minh.
Sự
phát triển của mỗi chu kỳ văn minh khoảng mấy chục ngàn
năm, đồng thời phát triển từ chậm đến nhanh, cũng như
phát hiện máy bốc hơi cách đây mới mấy trăm năm, mà kỹ
thuật của loài người đã nhảy qua nhiều giai đoạn, thẳng
đến điện toán vi tính và thời đại thái không.
Vậy
sau thời đại điện toán sẽ là thời đại gì? Ấy là thời
đại trí óc, thời đại ý niệm, thời đại bộc phát tiềm
năng trong cơ thể con người; nghĩa là thời đại công năng
ẩn tánh đặc biệt, từ thời đại kỹ thuật của không
gian ba chiều, nhảy vào thời đại ẩn tánh của không gian
bốn chiều, cũng là thời đại khoa học vô cực.
- Kỳ
quan trong đột biến:
Nơi
giai đoạn cuối của mỗi chu kỳ, trong cả trăm tỷ người
văn minh, sẽ xảy ra một lần sàng lọc lớn trong đột biến,
qua sự sàng lọc chia ra làm 3 loại người.
Nếu
chẳng thể tiến vào thái dương hệ, gia nhập hàng ngũ của
sinh linh cao ấp nơi hành tinh thì sẽ ở lại trên địa cầu,
lui vào hàng ngũ loài người văn minh thấp kém, trở lại cuộc
sống nguyên thủy, sống theo cuộc sống dã man.
Đối
với những người chẳng thể tiến hóa cũng chẳng thể thoái
hóa, sẽ chết đi trong đột biến. Do đó loài người trong
đột biến sẽ xuất hiện 3 tình trạng: 1- Tiến vào vũ trụ
vô cực. 2- Trốn vào rừng sâu. 3- Tử vong.
Loại
thứ nhất có thể dùng phương thức hư hóa, quang hóa… nhờ
ý niệm lực chuyển hóa vật chất thật tử của cơ thể
thành làn sóng tin tức của hư tử, xử dụng xích lực vạn
hữu lìa khỏi địa cầu, tiến vào hàng ngũ của người thái
dương hệ.
Loại
thứ nhì trong đột biến trải qua nhiều tai nạn, may mắn
sống sót. Vì mất đi kỹ thuật hiện đại, dần dần trở
thành cuộc sống nguyên thủy, quần áo rách hết mặc lá cây.
Lương thực ăn hết rồi ăn cỏ, không có nhà ở, ở trên
cây và dưới hang. Không có xe cộ, tập đi bộ, sống không
nổi thì chịu chết. Người sót lại thì làm người nguyên
thủy, đi vào cuộc sống bộ lạc.
Còn
có một số siêu nhân, linh nhân, dù chưa thể ẩn bay tiến
vào vũ trụ vô cực, nhưng họ có công năng đặc biệt, có
thể tự khống chế cuộc sống, ăn mặc đi ở chẳng bị
chết đói, chết rét, chết nóng… vẫn ở lại địa cầu,
tự do sống nơi khu đột biến giữ trạng thái linh nhân, giống
như những nhân vật Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế và Đại
Dũ… trong lịch sử Trung Quốc. Vì họ đã nắm vững ý niệm
năng, có công năng đặc biệt, nên dẫn dắt dân chúng kháng
lại tai biến, giúp đỡ họ tránh khỏi tai nạn và dạy bảo
họ tiếp tục sinh sống.
Tình
trạng xuất hiện tai biến trong suốt chu kỳ văn minh trước,
sau này nhờ người nguyên thủy ghi truyền lại như thần thoại.
Do đó, có những câu chuyện như: Bà Nữ Hoa bổ thiên (chống
bão lụt), Đại Dũ tri thủy (đào sông thoát nước), Ông Công
dùng đầu chạm núi (chống động đất), Hậu Nghi dùng tên
bắn mặt trời (chống tiểu hành tinh va chạm địa cầu) và
Phục Hy vẽ bát quái đồ (linh nhân dùng dấu hiệu ghi lại
những trí huệ cao tột để truyền lại đời sau).
Do
kỳ quan này có thể tưởng tượng mỗi cuối chu kỳ văn minh
đều sẽ xuất hiện tai biến, khiến văn minh đột nhiên giải
thể, rồi đi vào thời kỳ hổn loạn, giữa người tiến
hóa và thoái hóa; giữa thần và người sống chung trên địa
cầu.
Nói
“thần” là chỉ những linh nhân không thể rời khỏi địa
cầu, “người” là chỉ thoái hóa, như dã nhân có thể thích
ứng hoàn cảnh khó khăn, bắt đầu lại cuộc sống của thời
nguyên thủy. Sau đó linh nhân dần dần lìa khỏi hoặc chết
đi, dã nhân cũng từ từ tiến vào thời đại nóng mục, từ
xã hội nô lệ tiến bước đến thời đại văn minh.
Chúng
ta có thể tưởng tượng rằng sau kỳ quan đột biến, những
linh nhân thống lĩnh người thoái hóa, trạng thái công năng
giữa họ chênh lệch rất nhiều, con cháu siêu nhân tự nhiên
trở thành chủ nô lệ; người thoái hóa bất giác hình thành
nô lệ, sau đó diễn biến từ, chênh lệch rút bớt, dần
dần nói đến bình đẳng, rồi tiến vào văn minh cận đại
thành xã hội dân chủ.
Theo
quy luật thiên nhiên, hiển thịnh ẩn suy, công năng của siêu
nhân dần dần tiềm ẩn, người thoái hóa đến cực điểm,
rồi từ từ thông minh trở lại, ra sức kháng cự lại chủ
nô lệ, nên xuất hiện giai cấp đấu tranh, rồi xuất hiện
trang sử mới trong chu kỳ, về sau nhân loại sáng lập văn
tự, từ đó ghi lại hiện tượng tượng diễn biến trong
lịch sử cho đến ngày nay.
Từ
sự diễn biến của hành tinh, cho đến diễn biến chu kỳ
tuần hoàn của các sinh linh và chu kỳ văn minh của người
địa cầu, sự thịnh suy tuần hoàn là quy luật tự nhiên,
không cần phủ nhận hay đề xướng, chẳng thể cho là chơn
hay giả.
Như
những sự vật do ngũ giác quan cảm nhận cho là giả, người
siêu ngũ giác quan lại thấy có sự thật khách quan; cũng như
giữa khỉ và vượn với loài người vì tầng lớp cấu tạo
sinh mạng có cao thấp, nên sự cảm nhận chẳng đồng, tranh
luận với nhau không có ý nghĩa.
Quan
điểm khái niệm của sách này, chẳng phải chỉ muốn độc
giả dùng để tham khảo, mà hy vọng có thể kích phát tiềm
năng của mọi người, phổ biến tác dụng của huệ nhãn
thông linh.
Bởi
vì chơn lý luôn từ chỗ sai lầm qua sự biến chứng mà sanh
ra, mong độc giả cùng nhau đi đến giác ngộ.
- Ẩn
năng tại sao có thể tiềm tàng?
Nguyên
lý vô cực cho chúng tôi biết “hiển thịnh thì ẩn suy”,
công năng do ngũ giác quan cảm nhận thuộc hiển, siêu ngũ
giác quan cảm nhận thuộc ẩn. Người giả man thời thượng
cổ ăn thịt sống uống máu tươi, hiển suy thì ẩn thịnh.
Khi ấy chẳng ai dự báo khí trời, chỉ dùng siêu ngũ giác
quan đã sẵn tự đi cảm nhận.
Sau
này biết con mắt để quan sát hiện tượng trên trời để
phán đoán mưa gió khí trời, thì công năng đặc biệt bị
thoái hóa tiềm ẩn. Hiện đại có kỹ thuật dự báo thời
tiết, người ta luôn cả kỹ thuật quan sát bằng mắt cũng
buông bỏ.
Có
lẽ người thời nay cho rằng sự cảm nhận của ngũ giác
quan trực tiếp phương tiện, đối với cuộc sống hàng ngày
trong xã hội đã đủ dùng, những công biết xa thấy xa, dời
vật bằng ý niệm… cũng từ từ thoát hóa tiềm ẩn.
Cũng
như đứa bé chưa ra đời, ở trong bào thai tự phải dùng
công năng ấn tánh, sự hoạt động trong bào thai đâu thể
sử dụng hiển tánh của ngũ giác quan! Nhưng đứa bé ra đời,
ẩn hiển liền chuyển hóa, công năng của họ lập tức chuyển
biến; khi đứa bé lần đầu tiên mở mắt ra, xem vật gì
cũng không rõ, nhưng những ngày tháng về sau, công năng hiển
tánh dần dần phát triển, thì công năng ẩn tánh đã sử
dụng trong bào thai của mẹ dần dần mất.
Lại
nữa, những động vật nhỏ sống dưới mặt đất, dưới
đáy biển chẳng thể hoàn toàn sử dụng ngũ giác quan, nên
công năng ẩn tánh vẫn được giữ lại phần nào để sử
dụng.
Đối
với tuyết nhân và dã nhân, do nhà thám hiểm đã phát hiện,
họ chẳng có cuộc sống văn minh xã hội, nên công năng hiển
tánh rất ít, chủ yếu dùng công năng ẩn tánh để sinh sống,
bao gồm dùng “tin tức cảm ứng” để liên hệ với nhau,
ẩn hình, ẩn bay, chống tránh tai họa, tuyệt thực, chống
tuyết, công năng miễn dịch, tha tâm thông…
Đó
là nguyên nhân vì sao họ có thể sống trong vùng sâu núi tuyết,
quần áo lương thực không đảm bảo, dưới thiên tai bệnh
hoạn bao quanh… Từ việc này cũng có thể giải thích tại
sao nhà khoa học thám hiểm trải qua mấy chục năm cũng không
thể bắt sống một tuyết nhân và dã nhân. Thế thì, chứng
tỏ họ có công năng đặc biệt để ẩn bay trốn thoát. Lý
luận này xin dành cho người nghiên cứu khảo sát để làm
tài liệu tham khảo.
Biểu
đồ ẩn hiển của khoa học vũ trụ:
Vật
lý sinh mạng công trình học
Sinh
lý học
(hiển) |
Tự
nhiên kích phát
Công
năng
(ẩn) |
| sinh
vật học |
Nhân
công kích phát |
|
|
|
|
Triết
lý sinh mạng công trình học ẩn tánh
| Khí
công học (hiển) |
Linh
học (ẩn) |
- Điều
kiện công năng ẩn tánh:
Nhà
khí công có thể thông qua một phương thức đào tạo trẻ
em xuất hiện công năng ẩn tánh, có một phương pháp rất
phương tiện và giản dị. Ấy là cho trẻ em tập đứng im
như ngốc, trước tiên cho các em thư giãn như nhập tịnh,
nhắm mắt nhìn vào trong cơ thể, nhìn mãi nhìn mãi có thể
thình lình quên mình, mà xuất hiện công năng nhìn thấu vật
chất, nhìn xa, cảm nhận tin tức bằng ý niệm, cho đến dùng
ý niệm làm công tác khác thường.
Còn
có điều kiện nào nữa để kích phát công năng ẩn tánh
hay không? Có, bất cứ người lớn trẻ em đều phải dựa
theo những điều như sau:
1.
Tin thì có, thành thì linh.
2.
Tịnh thư giãn vào tịnh, do tịnh sanh huệ.
3.
Niệm trong sạch, ấy là xả trừ tạp niệm, trong tâm bình
thản chẳng có áp lực, gánh vác chẳng mong cầu.
4.
Ngơ ngốc tức là lúc luyện công được quên mình, trở thành
ngơ ngốc, hiển suy thì ẩn thịnh, công năng tự hiện.
Độc
giả có thể dựa theo 4 điều kiện này tập thử xem!
- Đường
lối thông linh:
Kỹ
thuật đã có một đường lối thông linh, có thể đột phá
sự bế tắc, loài người hiện đang đi trên con đường này,
tiến vào vùng sâu của vũ trụ.
Nhân
tiện đề cập đến, trong cuối chu kỳ văn minh lần trước
của địa cầu, đã có nhiều kỳ nhân, siêu nhân dựa theo
con đường thông linh này, bước vào không gian bốn chiều
gia nhập vào hàng ngũ sinh linh cao cấp. Thế thì, cuối chu
kỳ văn minh này cũng sẽ có một số kỳ nhân, linh nhân, siêu
nhân thông qua tin tức cảm ứng, đi trên con đường thông
linh này.
Sự
tiến vào hành tinh nơi không gian bốn chiều, sinh sống nơi
thái dương hệ, ấy là lý tưởng của nhà khoa học ngày đêm
mơ ước. Vậy con đường thông linh ở đâu? Nhà khoa học
trước tiên nghĩ đến là máy móc, phi thuyền, vật phi hành,
dĩa bay hành tinh… Nhưng theo triết lý Đông phương thì cho
rằng con đường này chẳng thể đi được.
Qua
lại giữa hành tinh thái dương hệ, thuộc không gian bốn chiều
là chiều thời gian, thuộc ẩn tánh, hư tánh. Nếu chỉ dùng
khoa học cao tột hiện đại, những máy móc vận tải cấu
tạo bằng vật chất hiển tánh thì không thể đưa con người
đến không gian ẩn tánh được.
Nói
theo thuật ngữ khoa học Tây phương chẳng siêu việt tốc
độ ánh sáng thì không thể lìa khỏi địa cầu. Cho dù ông
đi đến hỏa tinh, thủy tinh thì sinh sống bằng cách nào?
Chẳng thể theo cách sống thông thường của địa cầu để
sinh sống tại đó.
Sau
cùng phải nhờ con đường do công năng của bản thân người
từ hiển chuyển thành ẩn, khiến thể xác và thể vận tải
(dĩa bay hoặc phi thuyền) đều trở thành làn sóng tin tức,
dùng tốc độ siêu ánh sáng trong một niệm ẩn bay đến chỗ
mục đích, chẳng kể hành tinh xa cách mấy cũng được. Cũng
như chẳng cần ăn cơm, không sợ lạnh, có trạng thái công
năng đặc biệt kéo dài cuộc sống cho đến trẻ mãi không
già.
Ấy
là việc sau khi con người đã có công năng ẩn tánh, sử dụng
ý niệm lực có thể điều khiển ý niệm năng, ẩn hiển
chuyển hóa, hư thật, giao biến, thời không dời đổi, trải
thành con đường thông linh. Đây chỉ là lý tưởng bước
đầu do sự chỉ dẫn của triết lý.