PHẦN
CẢM NGHĨ CỦA NGƯỜI BIÊN SOẠN
Hiện
nay các nhà khoa học, triết học và nhà chính trị trên thế
giới đang cố gắng cùng hướng tới mục đích duy nhất “vì
cuộc sống hạnh phúc của nhân loại”, nhưng thật tế chưa
thể đạt được mà ngược lại, sự phát triển khoa học
văn minh càng tiến bộ chừng nào thì thiên tai chiến tranh,
thảm họa do con người gây nên càng nẩy sinh nhiều chừng
nấy.
Tại
sao có những hiện tượng như thế? Nguyên nhân rất đơn giản,
chỉ có hai chữ “ích kỷ”, ví như do khai thác rừng cây
mà dẫn đến thiên tai bão lụt; công nghiệp phát triển, những
nhà máy khiến cho không khí bị ô nhiễm; sản xuất những
sản phẩm mới, chất phế thải làm cho nguồn nước bị ô
nhiễm, khiến cả thế giới lâm vào nguy cơ thiếu nước sạch
để uống…
Vì
mọi cá nhân chỉ biết có mình, vì tranh dành quyền lợi của
mình làm cho anh em ruột thịt cũng cấu xé lẫn nhau, giữa
con người và con người, gia đình này và gia đình nọ, cho
đến dân tộc này và dân tộc nọ, nước này với nước
nọ, từ xung đột đến đổ máu, từ chiến tranh nhỏ đến
chiến tranh lớn… đang xảy ra khắp thế giới, kể cả cơ
quan Liên Hiệp Quốc không giải quyết nổi.
Qua
sự giới thiệu của ký giả Alan Ereira đài BBC, chúng tôi
biết được và phát hiện cuộc sống của một dân tộc thiểu
số ở vùng Nam Mỹ, người Kogi trong cuộc sống của họ hoàn
toàn không biết đến hai chữ “ích kỷ” là gì! Sống một
cách thoải mái, vô tư, hạnh phúc, đối với cái khổ “già,
bệnh, chết” mà mọi người chúng ta đều không thể tránh
khỏi, đều cảm giác lo sợ, họ hoàn toàn không dính mắc.
Nếu
các xã hội văn minh của thế giới chịu bắt chước theo
cuộc sống yên lành, lý tưởng của dân tộc Kogi này thì
tất cả nguy cơ đang diễn ra trước mặt chúng tôi sẽ tự
nhiên chấm dứt, hạnh phúc cũng sẽ không cần tìm mà tự
đến. Không biết các bậc hiền triết nghĩ sao về cuộc sống
của dân tộc Kogi?
PHỤ
LỤC 1:
VÔ
DƯỢC LIỆU PHÁP
Tùy
sự phát triển của văn minh nhân loại, trình độ gánh vác
của tinh thần và lao nhọc của thể xác cũng theo đó gia tăng,
khiến bệnh tật ngày càng phức tạp khó trị. Cách trị
liệu của y học hiện hữu chẳng thể giải quyết sự mâu
thuẫn này. Đối với bệnh ung thư, sida và những bệnh nan
y quái lạ do tinh thần căng thẳng gây nên, cảm thấy vô phương
đối trị.
Đứng
trên lý luận triết học, từ gốc độ vật lý hóa học đến
sinh lý giải phẫu để xem xét, nguyên nhân căn bản không
thể nhận thức bản chất của bệnh tật là do cố chấp
lý luận không gian ba chiều tự tạo chướng ngại. Câu hỏi
cần thiết là tại sao những khu phát triển kinh tế với trình
độ văn hóa càng cao thì càng xuất hiện những bệnh tật
mới lạ và tỷ lệ phát bệnh càng nhiều càng khó trị? Xu
hướng xuất hiện bệnh văn minh ngày càng nhiều, chẳng thể
giải thích.
Do
đó, vô dược liệu pháp ắt được người ta chú trọng,
cuối cùng sẽ kiến lập một thể hệ y học mới.
Theo
hiện tượng mà chúng tôi đã biết, đối với những bệnh
tật có tánh tiềm ẩn trong cơ thể và do tình dục phát triển
quá mạnh, làm cho chức năng của tạng phủ gánh vác không
nổi, cuộc sống thất thường, lâu ngày rồi sinh ra quái bệnh.
Những phương pháp đối trị những bệnh tật kể trên bằng
vô dược liệu pháp vừa giản dị lại mau có công hiệu.
Vô
dược liệu pháp xưa nay các nước đều có, nếu sưu tập
lại có thể thành một hệ thống cụ thể, nay diễn tả theo
từng môn loại, trong đó có cái thì có pháp mà vô lý, có
cái thuộc về bí truyền, khó giải thích theo lý luận khoa
học hiện đại; có cái thuộc bất khả tư nghì, thậm chí
nghiêng về tính cách mê tín, các chuyên gia không dám tiếp
xúc, e sợ ảnh hưởng đến sự nghiêm túc của kỹ thuật
khoa học.
Nhưng
đối với những người mang bệnh đã lâu, bị y học chánh
thống phán đoán cho là không còn hy vọng, chẳng có lối thoát,
vì sự khát vọng cầu sống mà áp dụng vô dược liệu pháp
lại được lành bệnh một cách kỳ lạ.
Do
đó chúng tôi quy nạp tất cả vô dược liệu pháp, phân
ra thứ lớp và môn loại, thành 12 loại như sau:
1-
Khí công liệu pháp:
Khí
công liệu pháp là một điển hình của vô dược liệu pháp,
hiện tượng khí công là hiện tượng hoạt động của tâm
lý và sinh lý đặc biệt, khác hơn người thường. Kỹ thuật
khí công là một thứ kỹ thuật phản nghịch quy luật thường,
kỹ thuật này được biểu hiện ra dưới trạng thái công
năng đặc biệt, là một thứ kỹ thuật mà người thường
không có khả năng xử dụng, chỉ có những người đã thông
qua tu luyện như kích phát, dẫn dụ, truyền thọ, cảm ứng
mới có công năng để xử dụng, ví như xem xa, biết xa, chẩn
đoán bằng xem thấu vật chất như X quang, cho đến
ý niệm dời vật v.v…
Khí
công liệu pháp có sự tồn tại chơn thật, đã được giới
khoa học công nhận, nên xếp loại lớp thứ nhất của vô
dược liệu pháp.
2-
Liệu pháp công năng đặc biệt bẩm sinh:
Có
người sinh ra tự có công năng đặc biệt, có thể gọi là
“khí công sẵn có”. Người có công năng đặc biệt giống
như nhà khí công, cũng là tiềm năng của sinh mạng hiện ra
công năng phản nghịch qui luật thường.
Kỳ
thật, cách đoán bệnh trị bệnh của người công năng đặc
biệt rất đơn giản, khéo hơn nhà khí công và thần hiệu
hơn, các thứ trị liệu khác không thể so sánh, cũng thuộc
một thứ vô dược liệu pháp.
3-
Kinh lạc liệu pháp:
Kinh
lạc gồm châm cứu, điểm huyệt, xoa bóp v.v… Đông y đem
kết hợp với khí công, thì công hiệu trị liệu được tăng
cường nhiều hơn là chỉ dùng mỗi thứ riêng biệt.
Kinh
lạc chẳng thể thấy, chẳng thể mò, mà Đông y lại đặt
ra một hệ thống cụ thể rõ ràng, vẽ ra biểu đồ đầy
đủ mọi kinh lạc trong cơ thể, dù sinh lý giải phẫu tìm
không ra nó, nhưng đại học y khoa phương Tây lại đặt ra
khoa châm cứu, có bằng cấp tốt nghiệp được chính phủ
công nhận, vậy có thể chứng tỏ người xưa dùng siêu ngũ
giác quan để cảm nhận tin tức ẩn tánh trong cơ thể cũng
là điều hợp lý.
4-
Tịch cốc tuyệt thực liệu pháp:
Nguồn
năng lượng của con người là do thức ăn đưa vào bao tử
và ruột, thông qua phản ứng hóa học sinh ra nhiệt lượng
và dinh dưỡng cần thiết của cơ thể, nếu không cần lương
thực bằng vật chất mà được trực tiếp thu hút năng lượng
trong không gian để nuôi dưỡng cơ thể, chẳng cần ăn
cơm thì phương tiện biết bao!
Nếu
thật chẳng cần ăn cơm thì chẳng sanh ra cái khổ “bệnh
từ miệng vào”, có sự kỳ lạ hơn là đang lúc tịch cốc,
sinh lý của cơ thể có thể tự điều chỉnh quân bình mà
lành bệnh và giữ sức khỏe.
Ở
Hàng Châu Trung Quốc, có một nhà khí công tên Trương Vinh
Đường, truyền thọ kỹ thuật khí công tịch cốc rất kỳ
lạ: Ông ấy chẳng cần trực tiếp phát công trị bệnh, bệnh
nhân chẳng cần luyện công, có thể xuất hiện trạng thái
tịch cốc, chẳng cần ăn uống mà khỏe mạnh và làm việc
như thường, đồng thời các thứ bệnh kinh niên cũng được
dần dần giảm bớt và tiêu trừ.
Kỳ
thật đối với phương pháp này cũng chẳng nên nghi ngờ,
các nước tân tiến cũng có áp dụng tuyệt thực liệu
pháp, đều có công hiệu, chỉ là hiện nay chưa được các
học giả xem trọng, lại, đối với người tham ăn cũng không
muốn chấp nhận, nghĩa là chưa đến bước đường cùng thì
đa số bệnh nhân không chịu chọn cách nhịn đói
để chữa bệnh!
Điều
chúng tôi muốn nhấn mạnh là sự phát triển theo qui
luật biến hóa của sinh lý con người, sự phát triển từ
phức tạp đến đơn giản, từ thức ăn hữu hình tiến
đến thức ăn vô hình (năng lượng), dần dần phát triển
tiến hóa, cuối cùng cắt tuyệt nguyên do phát bệnh và giải
quyết vấn đề căn bản của sinh lão bệnh
tử. Do đó, tịch cốc liệu pháp sẽ được chúng ta xem trọng.
5-
Ý niệm liệu pháp:
Ý
niệm là một thứ lực bằng năng lượng, khác với lực cơ
điện, gán tên cho nó gọi là động lực ẩn tánh. Năng lượng
ý niệm đã được nghiệm chứng có sự tồn tại khách quan,
ở đây chúng tôi muốn nói về dùng ý niệm lực có
thể trị bệnh, việc này đã là chuyện thường đối với
nhà khí công.
Trong
thập niên 50, Liên Xô đã áp dụng phương pháp sanh đẻ không
đau, cũng có hiệu quả: Bác sĩ dùng ý niệm cương quyết
bảo người sản phụ rằng việc sinh con vốn chẳng đau đớn,
sở dĩ cảm thấy đau là do tinh thần lo sợ mà ra.
Ý niệm này khi được sản phụ chấp nhận và đủ lòng tin
phối hợp thì sẽ có công hiệu, ý niệm càng kiên cố càng
được hiệu quả. Trường hợp nếu sản phụ cho đó
chỉ là lời an ủi, do không tin mà cảm thấy hoang mang thì
ý niệm lực phát ra chẳng được tiếp nhận, ắt phải thất
bại. Theo đó có thể chứng tỏ sự hiệu ứng của ý niệm
lực.
Tất
cả nhà khí công được hiệu ứng trong trị liệu đều liên
quan đến sự hoạt động của ý niệm. Phương pháp của họ
có ba tầng lớp: Kích phát ngoại khí, bắn ra ý niệm
lực và điều khiển tin tức. Sau khi hiểu được cơ chế
của ý niệm lực, người chẳng biết khí công vẫn có thể
dùng ý niệm để chữa bệnh, chẳng phải chỉ có nhà khí
công mới trị bệnh bằng ý niệm lực; như sự cầu nguyện
của Tin lành, trì chú của Mật tông, tụng kinh của Đạo
giáo, Phật giáo, cho đến hoạt động tế thần của những
bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi v.v… trong lúc vô ý mà lợi
dụng ý niệm lực cũng được phát huy hiệu ứng trị liệu.
6-
Tin tức liệu pháp:
Nội
dung của tin tức có hai: Một thứ có thể thấy nghe, như bùa
chú, đồ hình, vật tin tức của Đạo gia, âm nhạc, chuông
trống, tụng kinh của nhà Phật, dùng các loại tin
tức thông qua sự thấy nghe để thỏa mãn nhu cầu
của con người. Một thứ thuộc vô hình, chẳng thể
thấy nghe, như làn sóng tin tức, quán tưởng sinh linh
trên hành tinh, quán tâm linh của chính mình, thầm tưởng các
thứ bí quyết và khẩu lệnh bằng mật mã.
Người
bệnh nếu có ý niệm tin tưởng mãnh liệt và có người hướng
dẫn, giúp đỡ, hợp tác tăng cường, sẽ hình thành làn sóng
tin tức, điều khiển ý niệm lực để trị bệnh, cũng được
hiệu ứng mau chóng.
Tin
tức liệu pháp xưa nay đã lưu truyền mấy ngàn năm, các nước
đều có, nhất là ở các bộ lạc và dân tộc thiểu số
còn gặp nhiều hơn, nhưng họ thường bị người văn minh
cho là mê tín, nhưng lòng tin của họ rất vững chắc, không
sợ phê phán và ngăn cấm, sự thật hiện nay vẫn còn tồn
tại.
Tin
tức liệu pháp có nhiều hình thức, như rửa tội, xoa đầu
an ủi, ban phước, chiêu hồn, đuổi tà v.v… trong hoạt động
tôn giáo, và tin tức thủy, tin tức nhạc, tin tức viết, tin
tức quạt… của người có công năng đặc biệt và nhà khí
công, có thể điều khiển sinh lý hoạt động của tin tức,
siêu việt thời gian không gian để chẩn đoán, trị liệu
bệnh nhân bất cứ xa gần.
Nói
tóm lại, ý niệm trị liệu mở mang phát triển, ắt sẽ dẫn
ra tin tức trị liệu, nghĩa là thúc đẩy công năng của ý
niệm trị liệu lên tầng lớp cao hơn.
7-
Nhập định tư duy trị liệu:
Tư
duy trị liệu có bốn chữ yếu quyết: Buông, tịnh, hư, rỗng.
Trước tiên buông xã thân tâm của chính mình, nếu đã làm
được thì thân tâm có thể nghỉ ngơi đầy đủ, theo qui
luật điều chỉnh sinh lý. Sau khi buông xã thân tâm rồi có
thể nhập tịnh, do tịnh sanh huệ, do tịnh tăng trí, trạng
thái tịnh có thể khiến sự rối loạn của thân tâm khôi
phục trật tự quân bình mà đạt đến mục đích trị liệu.
Thông
thường trạng thái tịnh khó giữ được thời gian lâu dài,
chân thật thâm sâu, thực hiện “tư duy trống rỗng” chẳng
phải dễ, nên dùng một niệm thay trăm niệm; một niệm còn
thì trăm niệm tiêu; một niệm này tức là niệm của tư duy
siêu phàm. Nói “tư duy” chẳng phải lo nghĩ việc ăn mặc
đi ở, danh lợi thành bại của thế gian, tư duy tức quán
tưởng chơn lý của nhân sinh vũ trụ, giống như tham thoại
đầu của Thiền tông.
Tư
duy sanh ra hiệu ứng, có thể điều chỉnh trạng thái sinh
lý, khiến thân tâm tự nhiên quân bình, trong đó bao gồm dưỡng
sinh, ngộ đạo, mở mang trí tuệ, gọi là minh tâm kiến tánh.
Tư duy chú trọng nhập tịnh, giống như tịnh công của khí
công, từ buông đến tịnh, đạt đến tánh không, quên mình,
Lão Tử gọi là “vô vi”; vô vi mới có thể vô sở bất
vi, quên mình thì quên hết phiền não thế gian, tâm linh sáng
tỏ thì khí huyết điều hòa, bệnh từ đâu đến?
8-
Thiền định liệu pháp:
Tư
duy tiến vào cảnh giới tầng lớp cao hơn tức là tịnh lự,
cũng gọi là “Thiền”. Thiền tọa kéo dài, đạt đến trạng
thái tối cao gọi là thiền định, được nhập thiền định
sẽ siêu thoát tất cả lo âu tính toán của việc thế gian,
gọi là “vô niệm” (chẳng có vọng niệm). Thiền định
đến cảnh giới cao tột, không những có thể tiêu trừ bệnh
tật, còn có thể không nhờ ăn uống mà duy trì sinh mạng
lâu dài cho đến mấy trăm năm.
Liệu
pháp này rất khó thực dụng trong đời sống căng thẳng ngày
nay, luôn cả tuyên truyền cũng khó được người ta tiếp
nhận, nhưng nó thuộc về liệu pháp thượng hạng, người
ham tu hành đa số đều hiểu lý này.
9-
Tâm lý liệu pháp:
Pháp
này xuất phát từ phương Tây, sau này theo khoa học hiện đại
truyền sang phương Đông, Tâm lý học lại hình thành một
môn học trong sách giáo khoa. Tâm lý liệu pháp luôn tồn tại
nơi lâm sàng của bệnh viện, bác sĩ dùng an ủi liệu pháp,
bảo đảm liệu pháp v.v… đều thuộc phạm vi của tâm lý
liệu pháp. Có người cho rằng bệnh nhân ung thư thường chết
vì sợ hãi, chẳng phải vô lý: do tinh thần lo âu ảnh hưởng
sức khỏe, điều đó ai cũng biết, bệnh nhân thiếu lòng
tin thì bệnh khó trị, là dựa trên quan điểm Tâm lý học.
Có
người nói “khí công cũng là tâm lý liệu pháp” ấy là
sai, phải nói là trong khí công liệu pháp có xử dụng tâm
lý liệu pháp, nhưng chẳng đồng nhau. Tâm lý liệu pháp của
phương Tây còn nông cạn, thuộc dạng bị động, họ chẳng
thể dùng nhân tố tích cực trong cơ thể sinh mạng của bệnh
nhân điều khiển tiềm năng sinh lý của họ. Nếu chỉ đơn
thuần xử dụng tâm lý liệu pháp thường không đủ công
hiệu, lại chẳng dễ gì được bệnh nhân tiếp nhận lâu
dài, nếu bệnh nhân cho đó là sự thương xót an ủi thì mất
linh nghiệm.
Tâm
lý liệu pháp phải kết hợp với các liệu pháp khác, khiến
bệnh nhân tin tưởng tự sanh ra hiệu ứng của tâm lý họ,
dùng ý chí lực tự điều chỉnh chính mình, như lời Đông
y nói “thần lãnh hình, linh chủ mạng, khí thống huyết”,
từ đó thần an thì hình bất loạn, tâm bình thì thể tự
hòa, nghĩa là do khả năng của chính mình thực hành tâm lý
liệu pháp, mới trở thành một phương pháp kỳ diệu.
10-
Sám hối liệu pháp:
Trong
cuộc đời của con người, đôi lúc vì làm ra việc xấu việc
lầm rồi ghi nhớ hình ảnh trong tâm, sanh lòng hối hận tự
trách chẳng thể giải tỏa, chôn vùi trong thâm tâm hình thành
một khối độc hại, ảnh hưởng sức khỏe, gọi là tâm
bệnh.
Do
đó, tâm lý liệu pháp kể trên đã phát triển thêm một liệu
pháp gọi là sám hối liệu pháp, cũng như người phương
Tây thú tội trước Hồng y giáo chủ, cầu xin Thượng Đế
xã tội; tín đồ của tôn giáo phương Đông cũng có sự hoạt
động về sám hối, như tụng kinh bái sám để tiêu trừ bệnh
ẩn mật đó, giải tỏa áp lực của tinh thần mà khôi phục
lại sức khỏe.
Sám
hối liệu pháp vô hình để thấy, nhưng thường có công hiệu
chơn thật. Muốn có hiệu ứng chơn thật, cần phải
dùng lòng tin tưởng của mình, cầu trời làm chứng, thành
kính sám hối, mới được công hiệu.
11-
Ngũ hành liệu pháp:
Sự
hình thành của quả địa cầu là nhờ kim, mộc, thủy, hỏa,
thổ, sự sinh tồn của người địa cầu cũng là nhờ nhân
tố của kim mộc thủy hỏa thổ làm hữu cơ phối hợp mà
thành. Khi sự phối hợp của ngũ hành mất qui luật thì sinh
ra bệnh tật.
Ngũ
hành liệu pháp dùng mọi thứ riêng biệt để trị bệnh,
cũng như kim dùng tiếng chuông để thay thế, mộc tức là
ẩn khí của cây cối, thủy là nước suối, như tắm suối
nóng, tắm nước tin tức, tắm hơi… hỏa là ánh sáng, là
quang tuyến, như tắm nắng, trị liệu bằng tia sáng… thổ
là tắm sình, tịnh dưỡng trong hang núi, đi chân không dẫm
trên mặt đất, dạo chơi ngoại ô… Tóm lại, đối với
ngũ hành liệu pháp, Đông y đã nghiên cứu ra một hệ thống
cụ thể, có lý luận hoàn chỉnh, nếu biết cách xử dụng
cũng rất công hiệu.
12-
Thôi miên liệu pháp:
Thôi
miên liệu pháp đối với những bệnh hư tổn có nhiều công
hiệu hơn, có người vì sinh kế mà lao tâm lao lực quá mức,
lâu ngày thành bệnh, nếu được nghỉ ngơi đầy đủ để
giảm bớt mỏi mệt, khôi phục sức khỏe, nhân công liệu
pháp cũng là một trong những pháp đó. Khi vào được trạng
thái thôi miên thì thể xác và tinh thần đều có dịp nghỉ
ngơi và tự điều chỉnh quân bình, khi ngủ một giấc ngon
lành thức dậy thì cảm thấy tinh thần khỏe mạnh.
Người
đủ điều kiện có thể tự mình thôi miên, khỏi nhờ nhà
khí công và thầy thôi miên thì tiện hơn nhiều. Có người
muốn tự thôi miên, đếm hơi thở trong tâm hoặc nghe tiếng
tíc tắc của đồng hồ thường chẳng có công hiệu, ấy
là vì ông chưa đủ khả năng thôi miên. Kỳ thật phương
pháp thôi miên chẳng phải khó học, ai cũng có thể tự học
thử, chủ yếu là luyện tập bốn chữ: “Buông, tịnh, hư,
rỗng”, đã đề cập trong điều “nhập tịnh tư duy liệu
pháp” ở trên, người muốn học thôi miên cứ theo đó thực
hành.
Hiện
nay Trung Quốc dùng cách thôi miên gây mê giải phẫu mà không
cần thuốc mê, hiển nhiên chứng tỏ thôi miên liệu pháp
là một đặc sắc của vô dược liệu pháp.