CHƯƠNG
IV
LUẬT
NHÂN QUẢ
(KARMA)
Mục
đích cơ bản và chủ yếu của chúng ta trong việc luyện tập
Phật giáo là tiến tới sự giác ngộ hoàn toàn và có được
trạng thái thông suốt của một Đ ức Phật. Phương tiện
truyền bá mà chúng ta cần phải có là một thể xác con người
có một tâm hồn lành mạnh.
Hầu
hết chúng ta đều sống một đời sống được gọi là tương
đối lành mạnh. Thật ra , theo kinh Phật,đời sống con người
rất phi thường và kỳ diệu. Nó là kết quả của sự hợp
nhất vĩ đại của nhiều đức tính được tích luỹ trong
chúng ta qua vô số sinh mạng . Mỗi con người đều dành nhiều
nổ lực cho việc đạt được trạng thái này. Tại sao đời
sống con người lại có giá trị đến như vậy? Bởi vì đời
sống cho ta cơ hội tốt nhất để hoàn thiện tâm hồn: Việc
tìm kiếm theo đuổi niềm hạnh phúc của bản thân. Đ ộng
vật không có khả năng theo đuổi những phẩm chất đạo
đức như con người. Chúng là nạn nhân của sự ngu dốt của
chính bản thân chúng. Vì vậy chúng ta nên quý trọng đời
sống quý giá của loài người và đồng thời phải làm tất
cả những gì chúng ta có thể để đảm bảo được rằng
chúng ta sẽ được tái sinh làm con người ở kiếp sau. Dù
rằng chúng ta luôn khao khát đạt được sự giác ngộ hoàn
toàn, chúng ta biết rằng con đường dẫn tới Cõi Phật(Buddhahood)
là một con đường rất dài mà nếu chúng ta muốn vượt qua
được thì chúng ta phải có một sự chuẩn bị đầy đủ.
Như
chúng ta đã thấy, để đảm bảo được rằng kiếp sau được
tái sinh làm loài người với đầy đủ khả năng theo đuổi
việc rèn luyện tâm hồn thì chúng ta phải đi theo một đường
lối đạo đức hợp với luân thường đạo lý. Theo học
thuyết của Đ ức P hật, điều này đòi hỏi chúng ta phải
tránh 10 hành vi phi đạo đức. Những đau khỏâ do từng hành
vi này gây ra sẽ xuất hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
Để tự đưa ra cho bản thân mình nhiều lý do mà chúng ta
nên tránh những hành vi phi đạo đức đó, chúng ta phải hiểu
rõ những nguyên tắc của luật nhân quả.
"Nhân
quả" có nghĩa là "Hành vi", ám chỉ một hành vi nào đó mà
chúng ta tham gia vàovà những tác động ảnh hưởng của hành
vi đó. Khi chúng ta nói về hành vi giết người, chính hành
vi đó sẽ cướp đi sinh mạng của một người. Những điều
liên quan đền hành vi này là những đau khổ mà nó gây ra
cho nạn nhân cũng như những người yêu thương dựa dẫm vào
nạn nhân đó. Nhân quả của hành vi này cũng bao gồm cảnhững
ảnh hưởng tác động lên kẻ giết người. Không phải chỉ
vậy thôi đâu! Thật ra, mầm mống của một hành vi phi đạo
đức sẽ gia tăng phát triển theo thời gian, vì vậy nên sự
thiếu lòng thương hại nơi kẻ sát nhân tàn nhẩn đó được
bắt nguồn từ những quãng đời trong quá khứ của hắn,
khiến hắn xem nhẹ mạng sống của mọi người như mạng
sống của loài vật và côn trùng.
Một
tên sát nhân không chắc là sẽ được tái sinh làm loài người
ở kiếp sau. Chính hoàn cảnh dẫn đến việc giết người
sẽ quyết định mức độ khốc liệt của những hậu quả
mà kẻ giết người sẽ gánh chịu. Một tên sát nhân man rơ,ï
khoái trá khi phạm tội ác, có lẽ sẽ được tái sinh trong
một thế giới tồn tại mà ta gọi là "Địa ngục". Một
trường hợp kém khốc liệt hơn- ví dụ, một kẻ giết người
vì tự vệ- có thể sẽ được tái sinh nơi một "Địa ngục"
chịu ít đau đớn hơn. Những hành vi phi đạo đức gây ra
những hậu qủa không nghiêm trọng lắm có thể làm cho một
người bị tái sinh làm con vật- không có khả năng rèn luyện
tâm hồn.
Khi
người ta được tái sinh làm con người, những hậu quả của
những hành vi phi đạo đức trong kiếp trước sẽ quyết định
hoàn cảnh của người đó ở kiếp tái sinh mới theo nhiều
cách. Giết chóc trong kiếp trước thì kiếp này phải chịu
cuộc đời có tuổi thọ ngắn ngủi hoặc mang nhiều bệnh
tật; giết chóc cũng tạo ra khuynh hướng sẽ tiếp tục giết
chóc ở kiếp sau. Tương tự, trộm cắp ở kiếp trước thì
kiếp này bị nghèo khổ hoặc bị trộm cắp; trộm cắp ở
kiếp trước cũng có khuynh hướng tiếp tục trộm cắp ở
kiếp này. Tội lăng loàn ngoại tình sẽ dẫn đến hậu quả
là kiếp sau phải chịu sự phản bội. Đ ây là một số hậu
quả của 3 hành vi phi đạo đức mà chúng ta phải gánh chịu.
Trong
bốn hành vi phi đạo đức về lời nói thì nói dối dẫn
đến một cuộc đời mà mọi người sẽ đặt điều xấu
cho mình . Nói dối cũng có khuynh hướng là sẽ tiếp tục
nói dối ở kiếp sau, bị mọi người lừa dối hoặc mọi
người sẽ không tin bạn kể cả khi bạn nói thật. Hậu quả
phải gánh chịu ở kiếp sau vì những lời nói gây bất hòa
chia rẽ, bao gồm sự cô đơn và khuynh hướng sẽ tiếp tục
gây hại cho người khác. Những lòi nói thô tục lỗ mãng
thì sẽ bị mọi người phỉ báng coi khinh hoặc sẽ làm một
người có tính tình hung dữ ở kiếp sau. Thói ngồi lê đôi
mách sẽ không được mọi người lắng nghe và sẽ nói nhảm
không ngừng ở kiếp sau.
Cuối
cùng,hậu quả của ba hành vi phi đạo đức về tâm hồn là
gì? Đ ời sống hiện tại chúng ta là kết quả của những
hành vi của chúng ta ở kiếp trước. Hoàn cảnh tương lai
của chúng ta, những thân phận mà chúng ta được tái sinh,
những cơ hội mà ta sẽ có được hoặc không thể có được
để cải thiện tâm hồn mình đều tuỳ thuộc vào những
hành vi của chúng ta ở kiếp này, những hành vi trong hiện
tại của chúng ta.
Mặc
dù hoàn cảnh hiện tại của chúng ta được quyết định
bởi những hành vi, thái độ của chúng ta trong kiếp trước,
chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm về những hành vi phi
đạo đức của chúng ta trong hiện tại. Chúng ta có khả năng
và trách nhiệm điều khiển những hành vi của mình theo xu
hướng đạo đức.
Khi
chúng ta cân nhắc một hành vi nào đó, xem xét có hợp với
đạo đức hay không, chúng ta nên cân nhắc những động cơ
thúc đẩy của hành vi đó. Một người nào đó quyết định
là sẽ không trộm cắp chỉ vì anh ta sợ rằng trộm cắp
sẽ bị bắt và bị trừng phạt bởi pháp luật, vậy thì
quyết định không trộm cắp của anh ta không được xem là
hành vi đạo đức, bởi vì trong trường hợp này những suy
nghĩ đạo đức không tác động lên quyêt định của anh ta.
Một
ví dụ khác, một người quyết định không trộm cắp với
đ?ng cơ là do anh ta sợ dư luận:
"Nếu
mình trộm cắp thì bạn bè và hàng xóm sẽ nghĩ sao về mình?Chắc
là mọi người sẽ khinh bỉ mình lắm! Mình sẽ bị mọi người
ruồng bỏ". Mặc dù quyết định đó được xem là một quyết
định tích cực, nó vẫn không được xem là một hành vi đạo
đức.
Bây
giờ, một người cũng đi đến quyết định là sẽ không
trộm cắp bởi vì anh ta suy nghĩ
rằng
: "Nếu mình trộm cắp thì có nghĩa là mình tham gia vào một
hành vi trái với đạo trời ,trái với đạo làm người!"
Hoặc là: "Trộm cắp là một hành vi phi đạo đức, nó làm
cho người khác chịu tổn thất và đau khổ!". Với những
động cơ suy nghĩ như vậy, quyết định của anh ta trong trường
hợp này được xem là một hành vi đạo đức , hợp luân
thường đạo lý. Theo học thuyết của Đ ức Phật, nếu sự
cân nhắc của bạn dựa trên cơ sở của sự tránh né những
hành vi phi đạo đức thì bạn sẽ không thể vượt qua được
những đau khổ buồn phiền, và quyết định đó không được
xem là một hành vi đạo đức; nếu quyết định của bạn
dựa trên cơ sở hạn chế những hành vi phi đạo đức thì
quyết định đó được xem là một hành vi đạo đức.
Nếu
bạn thấu đáo mọi khía cạnh chi tiết của luật nhân quả
thì bạn được xem như một người có được một tâm hồn
toàn thức thông suốt( giác ngộ). Sự hiểu biết tầm thường
của chúng ta không thể nắm bắt được đầy đủ hoàn toàn
luật nhân quả. Để nắm bắt được mọi lời truyền dạy
của Đức Phật, chúng ta cần phải có được một mức độ
tin tưởng nhất định vào những lời truyền giáo của người!
Khi người nói giết chóc thì phải chịu sự đoản mệnh,
trộm cắp thì phải chịu nghèo túng, thật sự không có cách
nào để chứng minh được những lời người nói là đúng.
Tuy nhiên, những điều đó phải được chúng ta tin tưởng
tuyệt đối. Chúng ta phải có được một niềm tin mạnh mẽ
nơi Đức Phật và học thuyết của người. Chúng ta phải
tiếp thu những lời truyền giáo của người một cách nghiêm
túc với những lập luận chắc chắn. Bằng cách nghiên cứu
những đề tài của Dharma được sáng lập bởi những suy
luận hợp lý- những lời truyền dạy của Đức Phật về
tính tạm thời và trống rỗng của cuộc đời, chúng ta sẽ
khám phá về những điều này ở chương 13- và nhận ra rằng
chúng thật sự đúng đắn thì niềm tin của chúng ta có được
nơi những lời truyền dạy mơ hồ đó-ví dụ, luật nhân
quả sẽ tự nhiên tăng lên . Khi chúng ta muốn tìm kiếm một
lời khuyên, chúng ta tìm gặp một người nào đo ùxứng đáng
cho ta lời khuyên. Lời khuyên của người đó càng rõ ràng
hợp lý thì chúng ta càng trân trọng, tin tưởng vào lời khuyên
đó. Niềm tin của bạn vào những lời khuyên của Đức Phật
cũng sẽ tăng lên theo xu hướng như vậy.
Tôi
tin rằng chúng ta cần phải có một ít sự từng trải và
một ít hứng thú để có được một niềm tin sâu sắc thành
khẩn trong lòng. Dường như có 2 hình thức của sự từng
trải khác nhau. Có ngươiø rất sùng đạo, họ có những kinh
nghiệm mà chúng ta khó có thể có được. Và có những kinh
nghiệm mà chúng ta đạt được qua sự luyện tập hàng ngày.
Chúng ta có thể phát triển những ý thức về sự ngắn ngủi
tạm thời của cuộc đời. Chúng ta có thể nhận thấy được
sự tàn phá của những cảm xúc đau khổ . Chúng ta có thể
có được lòng từ bi quảng đại hơn hoặc lòng kiên nhẫn
mạnh mẽ hơn khi chúng ta phải xếp hàng chờ đợi.
Những
kinh nghiệm như vậy tạo cho chúng ta một cảm giác hài lòng
và thỏa mãn , và lòng tin của chúng ta vào những lời truyền
dạy mà chúng ta đã được nghe cũng tăng lên. Lòng tin của
chúng ta vào những bậc thầy của mình người truyền cho chúng
ta những kinh nghiệm này , cũng tăng lên. Lòng tin vào học
thuyết mà vị thầy của chúng ta đang theo đuổi và chỉ dạy
cũng tăng lên. Từ những kinh nghiệmthực tế, chúng ta có
thể tiên đoán được rằng việc luyện tập của chúng ta
sẽ được đỉnh cao, giống như những người đã được
lưu danh đời đời trong quá khứ.
Những
niềm tin hợp lý như vậy có được nhờ sự luyện tập tâm
hồn , giúp chúng ta cũng cố sự tin cậy vào những lời giãng
của Đức Phật về luật nhân quả. Hơn nữa, những niềm
tin này giúp chúng ta quyết tâm từ bỏ những hành vi phi đạo
đức gây đau khổ cho chúng ta. Niềm tin này giúp chúng ta cố
gắng thiền định và nhận ra là chúng ta đã có lòng tin và
biết được lòng tin đó xuất phát từ đâu. Sự phản xạ
này được xem là một phần trong quá trình thiền định của
chúng ta. Nó cũng cố sự tin cậy của chúng ta vào 3 nơi nương
tựa: Đức Phật, Dharma và Shangha- giúp chúng ta có thêm dũng
khí để tiếp bước.