Niềm
tin là đức tính cao quý, cần thiết và rất quan trọng
trong đời sống của người Phật tử. Niềm tin đóng một
vai trò quan trọng mà ai cũng có để giúp người ấy đến
với Phật quả. Trong Kinh Hoa Nghiêm Ðức Phật từng dạy rằng:”
niềm tin là mẹ đẻ của công đức”. Ðạo Phật là đạo
Giác Ngộ, muốn đạt được giác ngộ hành giả phải có
niềm tin chân chính, mà niềm tin chân chánh ấy phải có cơ
sở thực tế và trí tuệ đúng như thật.
Trên
tinh thần đó, đối với hệ thống Kinh Ðiển do Ðức
Phật truyền dạy trong 49 năm, người học Phật phải có cơ
sở để chứng tín rằng đó là lời Phật dạy, cơ sở đó
chư Tổ Ðức gọi là Pháp Ấn . Trong Phật Giáo có hai
loại Pháp ấn: Nhất Pháp Ấn và Tam Pháp Ấn. NHẤT PHÁP ẤN
là nói đến Kinh Ðiển liễu nghĩa của Bắc Truyền Phật
Giáo. Nhất Pháp Ấn là Thật Tướng Ấn tức là lấy
thật tướng của các pháp làm gốc, nên nói nghĩa lý thật
tướng của các pháp là ấn tín của hệ thống tư tưởng
Phật giáo Ðại Thừa. Bất cứ giáo lý nào không dựng lập
trên quan điểm này, thì Phật giáo Ðại Thừa đều xem là
tà thuyết.
TAM
PHÁP ẤN là dành riêng cho Kinh Ðiển bất liễu nghĩa của
Nam Truyền Phật Giáo. Bài viết này sẽ trình bày sơ lược
về TAM PHÁP ẤN.
Ấn
(印¡) có nghĩa là con dấu, hay con mộc, để chứng nhận
chính thức cho một tổ chức, một đoàn thể nào đó, thứ
hai, ấn là nói lên chủ trương, đường hướng được
đưa ra trong tổ chức đó. Chữ ấn ở đây được dùng như
một danh từ trừu tượng để làm tròn hai nhiệm vụ : chứng
tín cho những Kinh điển hiện hành là lời Phật dạy, thứ
hai là chỉ cho tư tưởng chủ đạo của Kinh Ðiển Nam Truyền
Phật Giáo. Tam Pháp Aán đó là:
Chư
Hành Vô Thường
Chư
Pháp Vô Ngã
Niết
Bàn Tịch Tĩnh
Kinh
điển của Tiểu Thừa Phật giáo được ấn định bởi ba
Pháp Ấn trên, nếu không như thế thì chính là tà thuyết.
I/CHƯ
HÀNH VÔ THƯỜNG :
Các
hành vô thường ( Phạn: Anitya sarvasamskarah, Pali: anicca, E: impermanence),
còn gọi là Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết
hữu pháp vô thường ấn, gọi tắt là Vô Thường ấn): Tất
cả các pháp hữu vi ở thế gian đều vô thường, dời
đổi, biến chuyển, sinh diệt không ngừng. Chúng sinh không
nhận biết điều này nên đối với vô thường mà lầm chấp
là thường, nên triền miên thống khổ, vì thế Phật nói
vô thường để phá chấp thường của chúng sinh.
Vô
thường là là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều
kiện, tức là thành, trụ, hoại, không arises, dwells, passes
away, emptiness ). Từ tính vô thường ta có thể suy ra hai đặc
tính kia là Khổ ( dukkha) và Vô ngã ( anatman). Vô thường là
tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì
không có sự tồn tại, vô thường cũng chính là khả năng
dẫn đến giải thoát . Có tri kiến vô thường, hành giả
mới bước vào Thánh đạo. Vì thế tri kiến vô thường được
xem là tri kiến của bậc Dự lưu. (Impermanence is the basis
of life, without which existence would not be possible; it is also the
precondition for the possibility of attaining liberation. Without recognition
of anitya there is no entry into the supramundane path, thus the insight
leading to “ stream entry”).
* Vô
thường có hai loại:
a).
Sát na vô thường, chỉ cho sự biến hóa trong từng sát na,
có sinh, trụ, dị, diệt.
b)
Tương tục vô thường, chỉ trong một thời kỳ có 4 tướng
sinh, trụ, dị, diệt nối tiếp nhau.
* Có
ba loại vô thường:
a)
Niệm niệm hoại diệt vô thường: trong từng sát na nhỏ nhất
đều ẩn chứa sự hoại diệt vô thường.
b)
Hòa hợp ly tán vô thường: mọi sự vật hiện tượng hòa
hợp để rồi ly tán, tan rã, vô thường.
c)Tất
cánh như thị vô thường : chân lý về sự vô thường trong
cuộc đời này là như thế. Sự vô thường luôn luôn
có mặt.
Trong
Kinh Niết Bàn ( quyển 4) Phật nói về Vô thường như sau:
Chư
hành vô thường
Thị
sinh diệt pháp
Sinh
diệt diệt dĩ
Tịch
diệt vi lạc
Các
hành vô thường
Là
pháp sinh diệt
Sinh
diệt hết rồi
Tịch
diệt là vui.
Thiền
Sư Vạn Hạnh đời nhà Lý ( 1010 -1225) trước giờ thị tịch
đã nhắc nhở chúng đệ tử về sự vận hành của vô thường
qua bài kệ :
Thân
như điện ảnh hữu hoàng vô,
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm
vận tịnh suy vô bố úy,
Thịnh
suy như lộ tháo đầu phô”.
Thân
như bóng chóp chiều tà
Cỏ
cây tươi tốt qua thu rụng rồi
Xá
chi suy thạnh việc đời
Thạnh
suy như hạt sương rơi đầu cành.
Kinh
Kim Cang cũng nói :
Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn bào ảnh
Như
lộ diệc như diễn
Ứng
tác như thị quán.
(Tất
cả pháp hữu vi, như chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, ảnh
tượng, sương mai, điện chớp, rất cần phải có cái nhìn
như thế)
Các
pháp thế gian thuộc hữu vi
Như
đêm đông giấc mộng đông thùy
Như
đồ giả dối không bền chắc
Như
bọt nước tan mất cấp kỳ.
Như
bóng trong gương nào phải có
Như
sương giọt nắng chẳng còn chi
Như
luồng điện chớp làm gì có
Nhận
xét như vầy mới thật tri.
Nhận
thức được như thế để không khỏi đau khổ, lo âu, sợ
hãi khi vô thường đến.
II/
CHƯ PHÁP VÔ NGÃ:
Các
pháp vô ngã ( Phạn : Niràtmànahsarva-dharmàh), còn goiï là nhất
thiết pháp vô ngã ấn, gọi tắt là Vô ngã ấn). Tất cả
các pháp hữu vi ở thế gian nói chung đều là vô ngã, không
có chủ thể nhất định, chúng sinh không rõ biết nên đối
với tất cả pháp lầm chấp là có chủ thể, vì thế Phật
nói Vô ngã để phá trừ chấp ngaõ của chúng sinh.
Vô
ngã (Nonself- Anatman) là một giáo lý căn bản của Ðạo Phật,
cho rằng, không có một Ngã ( atman), một cái gì trường tồn,
bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong mọi
sự vật. Theo Ðạo Phật, cái ngã, “cái tôi” cũng chỉ
là một tập hợp của “ năm nhóm” (Ngũ uẩn - Five
aggregates - Skandha), luôn luôn thay đổi, mất mát và vì vậy
“ tôi” chỉ là giả hợp, gắn liền với cái khổ
đau, không có chủ thể nhất định. Ví dụ, con người được
cấu tạo bằng một tổng thể ngũ uẩn : Sắc uẩn, thọ uẩn,
tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
- Sắc
uẩn: chỉ cho phần vật chất, thân thể như mắt, tai,
mũi, lưỡi, đầu, mình, tứ chi
- Thọ
uẩn: là chỉ cho toàn bộ cảm giác, không phân biệt
chúng là dễ chịu hay khó chịu hay trung tánh.
- Tưởng
uẩn: là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu
sắc, mùi vị... kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.
- Hành
uẩn: vận hành của tâm lý, chỉ sự hoạt động của
tâm sau khi có tưởng, ví dụ như đánh giá, vui thích, ghét
bỏ, quyết tâm, tỉnh giác..
- Thức
uẩn: bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác
quan: ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Qua
sự phân tích chi tiết của năm uẩn trên ta không thấy cái
uẩn nào là của ta, vậy mà lâu nay ta lầm tưởng uẩn
này là thật có để rồi ta tự gây đau khổ cho mình và cho
người.
III/
NIẾT BÀN TỊCH TỈNH:
Niết
bàn tịch tĩnh (Phạn: Satamnirvanam, còn gọi là Niết bàn tịch
diệt ấn, Tịch diệt niết-bàn ấn, còn gọi là Diệt, Diệt
Tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất Sinh,, Viên Tịch, Giải thoát,
Vô vi , An lạc , từ phổ biến và gọi tắt là Niết bàn.
Tất cả chúng sinh không rõ biết khổ đau sinh tử cho nên
tạo nghiệp, trôi lăn trong ba cõi, sáu đường, vì thế Phật
nói Niết Bàn tịch diệt cho chúng sinh quy hướng.
Niết
bàn là mục tiêu tối hậu phải đạt được của tất cả
những đệ tử Phật, dù họ thuộc về tông phái nào, Nguyên
Thủy hay Ðại Thừa. Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, Niết bàn
được xem là đoạn tuyệt vòng luân hồi ( Samsara) và đi vào
một thể tồn tại khác ( Nibbana is departure from the cycle of
rebirths and entry into an entirely different mode of existence). Ðó
là sự tận diệt gốc rễ của ba độc: tham, sân và si ( desire,
hatred & delusion). Ðồng thời Niết Bàn có nghĩa là không
còn chịu sự tác động của nghiệp (Karma/action), không
còn chịu quy luật của nhân duyên, ở trạng thái vô vi, tức
là đặc tính thiếu vắng sự sinh, trụ, dị, diệt hoặc thành,
trụ, hoại, không. Còn theo Phật giáo Ðại Thừa, Niết Bàn
được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối
( sự bình đẳng của chúng sinh- Sattvasamata), sự thống nhất
luân hồi với dạng “ chuyển hóa” của nó. Niết bàn được
xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy
mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát
khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng của tham ái.
Có
hai loại Niết Bàn:
a)
Hữu dư Niết bàn :
Tiếng
phạn : Savupadisesa-Nibbana: Niết bàn còn tàn dư, Niết bàn trước
khi tịch diệt. Niết bàn này là trạng thái của các thánh
nhân đã loại bỏ phiền não, không còn tái sinh. Các vị này
còn sống trên đời nên vẫn còn ngũ uẩn, còn có nhân trạng,
nên gọi là “ hữu dư”.
b)Vô
dư Niết bàn :
Tiếng
phạn: Anupadisesa-nibbana: là Niết bàn không còn – ngũ uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới và các căn. Niết bàn Vô Dư
đến với một vị A La Hán sau khi viên tịch, không còn tái
sinh. Loại Niết Bàn này cũng được gọi là Niết Bàn toàn
phần hay Bát Niết Bàn.
Bát
Chánh Ðạo - con đường đưa tới Niết bàn:
Kinh
Tăng Nhất A Hàm ( số 18), các vị Tỳ kheo hỏi Tôn giả Xá
Lợi Phật về Niết Bàn: “ Bạch Ðại Ðức, làm thế nào
để an trụ trong Trung đạo, làm thế nào để tuệ nhãn sanh,
làm thế nào để trí tuệ sinh và làm thế để đưa tới
Niết bàn”. Ngài Xá Lợi Phật trả lời: “ Này chư Hiền
giả, đó là con đường Bát Chánh Ðạo: Chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm và chánh định. Ðó chính là con đường đưa hành
giả vào trung đạo, làm cho tuệ nhãn sinh, làm cho trí tuệ
sinh và làm cho an trụ vào Niết bàn”.
Bát
Chánh Ðạo : con đường tám nhánh giải thoát khỏi khổ đau
để đạt đến Niết bàn, là chân lý cuối trong Tứ
Diệu Ðế. Bát Chánh Ðạo là một trong 37 Bồ Ðề Phần.
Ðó chính là: 1. Chánh kiến: gìn giữ một quan niệm xác đáng
về giáo lý; 2. Chánh tư duy: suy nghĩa hay có một mục đích
đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lý một cách không
sai lầm; 3. Chánh ngữ: không nói dối, không nói lời phù phiếm;
4 Chánh nghiệp: không phạm các giới luật; 5. Chánh mạng:
tránh các nghề nghiệp giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn
bán vũ khí, thuốc phiện; 6. Chánh tinh tấn: siêng năng phát
triển nghiệp tốt, loại bỏ nghiệp xấu; 7. Chính niệm: tỉnh
giác và tu tập trên ba nghiệp: thân, khẩu và ý; 8. Chánh định:
tập trung tâm ý để đạt bốn tầng thiền xuất thế gian.
Bát Chánh Ðạo không nên hiểu là những “ con đường”
riêng biệt mà chính là ba môn học mà hành giả phải thực
hành triệt để xuyên qua Giới ( gồm chánh ngữ, chánh nghiệp
& chánh mạng), Ðịnh ( gồm Chánh tinh tấn, chánh niệm
& chánh định) và Tueä (gồm Chánh kiến & chánh tư duy).
Chánh kiến là điều kiện tiên quyết để đi vào Thánh Ðạo
và đạt đến Niết bàn.
Kết
luận : Trong Kinh Trung Bộ, Ðức Phật dạy: “
Này chư Tỳ kheo, từ xưa cho đến nay, ta chỉ nói lên hai vấn
đề: Khổ và phương pháp diệt khổ”. Khổ là các hành vô
thường, các pháp vô ngã ( pháp ấn thứ 1 và 2), và phương
pháp diệt khổ chính là Niết bàn tịch tĩnh ( pháp ấn thứ
3).
Cuộc
sống hiện nay và ngày mai vô cùng náo động và cuồng nhiệt,
con người luôn đánh mất mình trong mọi sát na của đời
sống vật chất, phù du giả tạm này, để rồi cuối cùng
phải chịu sự chi phối, hành hạ của vô thường, khổ đau,
của sinh tử luân hồi. Tam pháp ấn là giáo lý căn bản
của Phật giáo giúp cho chúng ta suy ngẫm và áp dụng vào trong
đời sống của chính mình, để cho đời mình bớt khổ./.
_____________________________
Tham
khảo từ các tài liệu : Phật Học Phổ Thông ( HT Thiện Hoa);
Từ Ðiển Phật Học ( Chân Nguyên – Nguyễn Tường Bách;
The Encylopedia of Eastern Philosophy and Religion ( Ed. Stephan Schumacher
& Gert Woerner)