Trước
hết chúng ta phải hiểu Tâm là gì? Trong tiếng Hán,
Tâm là trái tim. Từ cái nghĩa tâm là trái tim, rồi sau mới
suy diễn ra tâm là tấm lòng, cho rằng tâm là tấm lòng suy
nghĩ. Một bài thơ chữ Hán nói về tâm theo nghĩa này như
sau:
三點如星像
橫鉤似月斜
披毛從此得
做佛也由他
“Tam
điểm như tinh tượng,
Hoành
câu tợ nguyệt tà.
Phi
mao tùng thử đắc,
Tố
Phật dã do tha”
Bài
thơ này ví von cũng rất hay. Chữ Tâm 心 trong chữ Hán được
mô tả có ba chấm như ba ngôi sao (Tam điểm như tinh tượng),
còn móc câu nằm ngang như ánh trăng nghiêng (Hoành câu tợ
nguyệt tà). Phi mao tùng thử đắc, tố Phật dã do tha: Mang
lông đội sừng tức làm thân trâu, ngựa… là do tâm này,
mà Phật cũng từ nó.
Định
nghĩa tâm xét theo nghĩa tiếng Phạn thì có khác. Theo tiếng
Phạn, tâm (citta) có nghĩa là tích tập. Định nghĩa
này được thấy trong kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của
Bát-nhã (quyển 6): tích tập danh tâm 積集名心. Nó do gốc
động từ là CI (cinoti): tích chứa, tích lũy, tăng trưởng
và cũng có nghĩa là quán sát, tri nhận, cảm nhận. Đây là
định nghĩa đặc biệt trong thuật ngữ Phật giáo, đặc biệt
là Đại thừa. Nghĩa thông thường của nó, được nói là
do gốc động từ cit hay cint (cintayati): tư duy, suy tưởng.
Tâm là cái tư duy.
Nói
tâm là cái tích tập: tích tập gì?
Một
cách tổng quát, đó là kinh nghiệm hay nhận thức được tích
lũy. Vậy tâm là kinh nghiệm đời sống; tất cả những gì
đã từng trải, bằng hành động và nhận thức, tích lũy
lại thành tâm. Nếu diễn tả ra trong cuộc đời con người,
từ khi bắt đầu biết suy nghĩ, biết hành động và có ghi
nhớ, cho đến khi chết; tất cả những ghi nhớ trong óc não
còn lại đó gọi là tâm. Chính những ghi nhớ đó tác thành
một con người hoặc thiện hoặc ác tùy theo kinh nghiệm môi
trường, hoàn cảnh. Vì thế, ta nói tâm hướng dẫn đời
sống con người.
Như
vậy, tâm đó chính là nghiệp, là hành vi của con người,
vì những năng lực tạo ra hành vi của con người không bao
giờ mất. Chúng ta không nói tới luật bảo tồn năng lượng,
nhưng phải biết rằng không có cái gì mất đi trong hành động
của chúng ta.
Kinh
nói: bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm. Thế giới này
không sanh cũng không diệt, không có cái gì xuất hiện hoàn
toàn mới mẻ cũng không có cái gì biến mất đi hoàn toàn.
Chúng sanh luân hồi vô thủy, chỉ là sự biến đổi từ trạng
thái này sang trạng thái khác, như gạo biến thành cơm, cơm
biến thành những dưỡng chất trong dạ dày, tiêu hóa, rồi
thải ra, thành da, máu thịt,… khi chết, da máu thịt này biến
thành phân tro, phân tro này đem bón trở thành cây trái, rau
cỏ…, trở lại làm thực phẩm cho người và vật, theo một
quá trình sanh diệt, sống chết nữa nữa. Như vậy, chúng
ta thấy rằng, thân này chết nhưng nó không mất mà trở thành
những cái khác, biến thành phân tro, đất…, những cái này
cũng không mất mà trở thành máu thịt của con người, tức
là không có cái gì sanh và cũng không có cái gì hủy diệt
mà chỉ có sự biến thái.
Tâm
cũng vậy, nó tích lũy. Những gì được làm, được nói năng,
suy nghĩ, hoặc thiện, hoặc bất thiện, thảy đều không mất;
mà tự chúng là sự biến thái của tâm từ một trạng thái
này sang trạng khác. Nghiệp là nguồn năng lượng được
tích chứa trong kho chứa gọi là tâm, phát hiện ra ngoài thành
hành vi của thân, khẩu; hướng thân, khẩu đến mục tiêu,
theo hướng được định bởi lực đẩy ban đầu từ tâm.
Kho chứa ấy không phải nằm im lìm bất động, vì nguồn
năng lượng trong nó, mà Duy thức gọi là chủng tử (hạt
giống, tức hạt năng lượng; cũng gọi là tập khí hay công
năng sai biệt, tức một loại công năng hay năng lượng có
thế lực đặc biệt tác thành những hiện tượng sai biệt
mà ta biết đó là thân, tâm, thế giới), những hạt giống
năng lượng này tồn tại trong trạng thái sanh và diệt trong
từng sát- na, tạo thành hình ảnh như một dòng thác chảy
liên tục. Kinh nói: Nhất thiết chủng tử như bộc lưu.
Những
hành vi của thân và khẩu chỉ là những vận động tự nhiên
của thân và khẩu, do tác động hỗ tương giữa trong và ngoài,
không mang giá trị đạo đức, không xác định thiện hay ác
gì. Nhưng khi có nguồn lực từ tâm điều khiển nó theo hướng
thiện hay bất thiện, bấy giờ hành vi của thân hay khẩu
bị nhuốm màu hoặc thiện, hoặc bất thiện, ta gọi là nghiệp
thiện và nghiệp bất thiện. Hành vi ấy huân tập trở lại
tâm, nghĩa là tác động trở lại tâm và biến đổi nó. Đó
là sự tích lũy nghiệp. Theo ý nghĩa này mà ta hiểu câu kinh
sau đây: “Tam giới duy tâm”, ba cõi duy chỉ là
một tâm. Ý nghĩa ấy cũng phù hợp với điều mà Phật nói
trong các kinh điển Nguyên thủy: “Chúng sanh là kẻ thừa
tự của nghiệp” tức hành vi của chính nó. Nói cách
khác, thế giới được thành hình tốt hay xấu, thảy đều
là sự biến thái của những gì, của tất cả hành vi, được
tích lũy bởi tâm, chứa đựng trong tâm.
Chúng
ta nhớ rằng, khi được phân tích, tâm có ba tầng. Tầng
trong cùng, ta hãy gọi là tầng đáy; thứ đến, tầng hoạt
động luôn luôn là chấp ngã và một tầng khác hoạt động
bên ngoài, là các hoạt động của ý thức cùng với các giác
quan. Chúng ta không nhận thức được tâm như là thấy sắc,
nghe tiếng, nắm bắt ảnh tượng ý niệm, tư duy; chỉ biết
rằng nó tồn tại qua những hoạt động của nó gọi là tâm
sở.
Điều
đó có nghĩa, tuy rằng gọi tâm là cái tích tập, nó cụ thể,
nó tồn tại đó nhưng không thể nhận thức được nó mà
phải từ những hoạt động của nó thì mới biết nó là
cái gì.
Ba
tầng tâm thức có khi được gọi chung thành một là tâm-ý-thức.
Như trong kinh Trung A-hàm (kinh số 17), Phật nói: “Người
mà tâm-ý-thức luôn luôn được huân tập bởi tín, tinh tấn,
đa văn, bố thí, trí tuệ; người ấy do nhân duyên này tự
nhiên thác sinh lên cõi trên, sinh vào thiện xứ…”;
hoặc Tạp A-hàm (kinh số 289): “Tâm-ý-thức, trong một
ngày đêm, từng thời khắc, thoáng chốc sinh, thoáng chốc
diệt, biến đổi không ngừng…”; hoặc như kinh Hoa
Nghiêm (Phật-đà-bạt-đà-la, quyển 23): “Các dòng nước
dục, hữu, kiến, vô minh, tiếp nối chảy liên tục, làm nảy
sinh hạt giống của tâm-ý-thức trên mảnh đất ba cõi…”
Luận Câu-xá (quyển 4) nói: “Nó tập khởi nên được
gọi là tâm. Nó tư duy trù lượng nên được gọi là ý. Nó
phân biệt nhận thức nên được gọi là thức… Tâm, ý và
thức, ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy khác nhau
nhưng thể là một.”
Trong
đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam phương gọi
là thức Hữu phần hay Hữu chi (bhavaṅga); các nhà Du-già hành
hay Duy thức luận, gọi nó là thức A-lại-da (ālaya)
hay thức thứ tám. Không thể nhận thức được tự thể của
nó đã đành, cho đến các hình thái hoạt động của nó cũng
không thể dễ dàng nhận biết. Duy chỉ có thể biết rằng
nó tồn tại là do quan sát sự tồn tại của thiên nhiên,
của vũ trụ, của thân và tâm. Khi nhìn cây, lá cây, mọi
người đều biết rằng lá cây đó là do nhiều phân tử hợp
thành, nhưng cái gì kết các phân tử đó lại với nhau được?
Phải có một lực nào đó kết dính lại. Vậy, lá cây đó
tồn tại và lay động như một toàn thể do bởi một năng
lực nào đó. Lực đó, trong Phật giáo nói chung, được hiểu
là tâm, tức kho chứa tích lũy nhiều đời nhiều kiếp của
vô số hạt giống năng lực của nghiệp, để rồi đến khi
chín muồi, nghĩa là sau một quá trình đã được xử lý,
các hạt giống năng lực hay năng lượng ấy biến chuyển,
và biến thái thành thân, tâm và thế giới; chúng được duy
trì do lực tương tác, tức hỗ tương tác dụng theo quy luật
duyên khởi.
Chính
qua hoạt động của lá cây và sự tồn tại của lá cây mà
chúng ta biết rằng có một cái tâm. Đây là cái nghĩa mà
chúng ta đã nói nhiều lần; chính cái nghĩa đó gọi là duy
tâm, là do tâm. Tâm như vậy gọi là tâm biến, nhưng nghĩa
này chưa tận cùng.
Thân
thể chúng ta, trong điều kiện nào đó thì những cái như
ngón tay, sợi tóc… gắn kết lại với nhau, nhưng tới một
lúc nào đó thì nó rã ra, cho dù có lấy keo dán nó cũng không
dính lại, như khi chết chẳng hạn. Vậy khi nào rã ra và sau
khi rã ra thì nó trở thành đất, thành bụi… vẫn còn đó
nhưng qua trạng thái khác.
Tóm
lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ: tâm là sự tích
tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà kinh nghiệm là hoạt động của
nghiệp, nghiệp tạo ra thế gian, nhưng cái tâm thì chúng ta
không thể hiểu được, không thể biết được, vì không
thấy được mà phải nhìn qua những hiệu quả của nó, tức
là những công dụng, tác dụng mà nó gây ra trên mọi thứ
tồn tại trong đời. Tác dụng của nó là duy trì sự tồn
tại, duy trì mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của
các pháp.
Muốn
biết rõ tâm và tại sao gọi nó là tâm thì phải qua một
tầng nữa, tức là tại sao gọi là nó kho chứa của nghiệp?
Nên
biết, đó là tầng thứ hai, gọi tên là ý. Tâm, có
nghĩa là là tích tập; còn ý thì có nghĩa là gì? Nói vắn
tắt, ý là cái hoạt động tư lương. Tư lương là gì? Những
cái mà ta gọi là tư duy, tư tưởng… những hoạt động của
tâm lý, nói chung là suy lường, đắn đo ước lượng, phán
đoán, v.v., gọi là tư lương; đây là nói theo nghĩa rộng
nên hơi mơ hồ, không xác định. Thu gọn lại, tư lương là
hoạt động của một cái tôi.
Chúng
ta biết mình đang tồn tại, đang hiện hữu, vì biết rằng
có một cái tôi: Tôi đi, tôi đứng, tôi ngồi… Từ cái tâm
tích lũy này, rõ ràng có thêm một tầng nữa, khiến nó lộ
lên mặt biểu hiện một chút, đó là cái (chủ thể) chấp
ngã. Trong nhiều tín ngưỡng tôn giáo, cái ngã hay tự ngã
này được hiểu là linh hồn nằm trong thân, hoặc nó lớn
bằng thân, hoặc nhỏ như hạt cát. Lớn bằng cái thân cho
nên nếu vừa bứt một sợi tóc, vừa chích kim dưới bàn
chân thì cả hai nơi đều cảm giác đau cùng một lúc. Có
cảm giác đó, là do có linh hồn. Khi hồn lìa khỏi xác, xác
chết nằm trơ không hay biết gì. Hoặc là linh hồn giống
như hạt cát, như một nguyên tử trong thân có vận tốc thật
nhanh. Cả hai nơi lại cùng đau một lúc, đó là do linh hồn
vận chuyển rất nhanh. Trong Phật giáo không có linh hồn
như vậy được thừa nhận.
Bây
giờ sang tầng thứ ba để sẽ hiểu rõ hơn về hoạt
động của thức. Nhưng tầng thứ ba này nếu không có
hai tầng đầu thì cũng không thể hiểu nó được, vì tất
cả đều phải quan hệ với nhau. Như do quan hệ với toàn
thể xe mà cái khoanh tròn kia được gọi là bánh xe.
Gọi
nó là thức, vì nó nhận biết đối tượng. Điều này ta
có thể kinh nghiệm và chứng minh được bằng hoạt động
của sáu thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đây là tầng
ngoài cùng của cơ cấu tâm thức, gọi là thức thường nghiệm
tức là những hoạt động nhận thức mà ta có thể kinh nghiệm
được bằng giác quan thường nhật. Tầng này được gọi
chung là thức. Tầng thứ hai trung gian, như đã biết, gọi
là ý, hay là thức thứ bảy. Nó cũng được gọi là thức,
vì nhận thức về sự tồn tại của một tự ngã, một cái
tôi. Tầng trong cùng, gọi là thức thứ tám, mà nhận thức
của nó là duy trì mối quan hệ tồn tại của thân, tâm và
thế giới. Hai tầng sau này thuộc về thức siêu nghiệm, tức
không thể nhận biết được bằng kinh nghiệm giác quan thường
nhật. Chính yếu thường chỉ là dựa trên chính hoạt động
của sáu thức tầng ngoài để khám phá ra hai tầng kia.
Đứng
trước một cái gì đó mà biết rằng, cái trước mắt mình
là một cái cây hay một đóa hoa, nghĩa là đóa hoa xuất hiện
trong con mắt rồi cái biết khởi lên, cái biết qua con mắt
thì cái biết này gọi là nhãn thức, còn nghe những âm thanh
trầm bỗng đô, rê, mi, fa… mà biết âm thanh này cao thấp,
hay dỡ thì cái biết qua lỗ tai này gọi là nhĩ thức. Còn
cái biết trong cùng như đọc sách mà biết rằng đây là Nguyễn
Huệ đánh Nam dẹp Bắc, đây là vua Lê Chiêu Thống chạy trốn
sang Tàu, thì đó cũng là cái biết. Cái biết này dựa trên
ấn tượng quá khứ; ấn tượng này do từ sách vở gợi lên
hay do kinh nghiệm mà mình đã từng trải. Cái biết này không
do mắt thấy tai nghe mà là do sự ráp nối của thức bên trong,
gọi là ý thức. Tức là qua cái biết của con mắt, của lỗ
tai, để lại; tất cả những cái biết này ghi dấu trong tâm,
được tích lũy lại, rồi dựa trên đó mà ráp lại, thì
cái biết đó gọi là cái biết của ý.
Thành
ra, cái biết của ý thức phải dựa trên nền tảng, là kinh
nghiệm tích lũy; tức dựa trên cái tâm, là thức thứ tám.
Nhưng nó cũng phải y trên một cơ quan ráp nối, có thể gọi
là trung tâm xử lý dữ liệu, để ráp nối cái này với cái
kia. Con bò ráp nối dữ liệu tích lũy theo kiểu nó; con chuột
ráp nối cảnh theo cách của nó, để nó nhìn và hiểu thực
tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài; mặc dù mắt tai
mũi lưỡi giống nhau nhưng sự ráp nối khác nhau.
Ta
hãy lấy thí dụ về máy vi tính. Các dữ liệu được nhập
thông qua bàn phím và con chuột là sáu thức. Chúng được
lưu trữ như là các chủng tử được tích chứa trong kho chứa
thức thứ tám (thức a-lại-da). Tại đó, chúng được đưa
vào trung tâm xử lý để chờ xuất. Trung tâm xử lý dữ liệu
đó là thức thứ bảy. Từ đó, cũng thông qua bàn phím và
con chuột là sáu thức bên ngoài mà chúng được xuất, để
cho ra trên màn hình nhiều thứ khác nhau, tức là toàn thể
thế giới, thân và tâm của mọi loại chúng sanh.
Như
vậy, ta hãy hỏi thêm lần nữa: thức là gì? Thức là
nhận thức, là nhận biết. Ban đầu, chỉ như là sự thấy
biết của con mắt: chỉ nhìn và thấy biết, nhưng không phân
biệt cái được thấy ấy là gì. Ta thường gọi đó là cái
biết trực giác; thuật ngữ Phật học gọi là thức hiện
lượng vô phân biệt. Nhưng khi nói: “Tôi biết tôi đang nhìn/
hay đang thấy” thì lúc đó rõ ràng có một cái tôi đang
chủ trì sự thấy. Song, tất cả mọi cái thấy và biết đều
phải thấy, biết về một cái gì. Con mắt thấy, tất phải
có cái gì để mà thấy.
Theo
cách hiểu thông thường, cái thấy hay biết nào cũng là sự
tích hợp của hai yếu tố: thức và cảnh, tức chủ thể
nhận thức và đối tượng tương ứng của nó. Nhưng chúng
ta biết rằng, thức không tự biết nó là cái gì cả, như
lưỡi dao bén không thể tự cắt đứt chính nó. Chỉ khi nào
tự ngã hay cái tôi xuất hiện như là chủ thể nhận thức,
bấy giờ thức mới nhận biết được nó và đồng thời
đối tượng của nó. Thêm bước nữa, ta cũng không biết
cái tôi ấy là gì, tồn tại như thế nào. Nhưng do thấy kết
quả, rồi suy luận ra có thức đang thấy, đang biết; từ
những kinh nghiệm được tích lũy bởi thức, người ta suy
nghĩ ra có cái linh hồn, như là chủ thể của sinh mạng và
nhận thức. Thật ra đây là một quá trình, một chuỗi quan
hệ.
Cho
nên, chúng ta nói rằng có một cái thức để biết, và nghĩ
nó là linh hồn, thì thật sự không bao giờ có cái linh hồn
thường hằng bất biến như được quan niệm trong nhiều tín
ngưỡng, tôn giáo. Ta biết có một cái tôi tồn tại, ấy
là do quan hệ; quan hệ giữa trong và ngoài, nội giới và ngoại
giới; nói gọn, thức và cảnh, chủ thể và đối tượng
của nó. Nhưng nếu chỉ y nơi sự quan hệ của hai cái thôi
thì cũng không đủ để hiểu được hoạt động của nhận
thức và quá trình hình thành, xuất hiện cái tôi.
Cái
mà ta gọi là cái biết thì thực sự ta không biết nó là
cái gì cả vì nó vô hình và không bao giờ chúng ta kinh nghiệm
được, mà chỉ biết được qua hành vi của nó. Vậy cái
mà chúng ta kinh nghiệm được, nắm bắt cụ thể được như
nắm viên bi trong tay, và soi vào trong gương mà thấy được,
cái đó gọi là con mắt, tức là căn. Con mắt mà ta thấy
được, nắm được, đó là phù trần căn, tức khối thịt
và các mô, cùng thủy tinh thể, tạo thành nhãn cầu, con ngươi.
Phù trần căn mà hỏng, bấy giờ nhận thức con mắt không
thể khởi lên vì khuyết duyên. Phù trần căn chưa hư, sắc
ngoại cảnh xuất hiện và được phản chiếu lên đó, thuật
ngữ duy thức gọi là đới bỉ tướng. Nhưng phù trần căn
thì không bị biến đổi theo cảnh sắc; do đó, đới bỉ
tướng là ảnh tượng được ghi dấu lên một loại sắc
vi tế, minh tịnh, nhạy cảm, thuật ngữ gọi là tịnh sắc.
Chính loại tịnh sắc này mới có thể bị kích thích bởi
ngoại cảnh. Như vậy, khi cảnh phản chiếu lên phù trần
căn, ghi ấn tượng lên tịnh sắc căn, bấy giờ thức xuất
hiện. Không có căn, không có cảnh, thì cũng không có thức.
Căn,
cảnh và thức, ba cái hòa hiệp thành một tổ hợp ba,
gọi là xúc. Giống như 2 O2 và 1 H liên kết thành một
phân tử nước H2O; Nếu thiếu một nguyên tử, thì cũng không
thành phân tử nước được. Từ xúc khởi lên thọ, cảm
giác thích ý hay không thích ý. Tiếp theo thọ là tưởng; các
ấn tượng nhận thức được cấu trúc lại thành khái niệm,
thành ý tưởng, làm cơ sở cho tư duy và ngôn ngữ; rồi từ
đó khởi lên phán đoán, và nhận thức. Đó là quá trình
nhận thức một đối tượng, được phân chia thành nhiều
giai đoạn.
Ba
cái: căn, cảnh, thức hợp lại, quan hệ tổng hợp với nhau,
mới thành ra hiệu quả nhận thức. Khi chúng ta chia ra thì
đây là thức, đây là căn, đây là cảnh; còn nếu trong tự
thể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử như những dữ
liệu được lưu trong bộ nhớ của máy vi tính. Tự bản chất,
chúng là những dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng
do kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung điện;
rồi tùy theo lập trình mà chúng được đưa vào bộ vi xử
lý để xử lý, cho ra kết quả với nhiều hình thái khác
nhau trên màn hình: núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu,
ghét… đủ mọi cảnh đời.
Tất
cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật học gọi sự
ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi nói thêm là phân biệt
vọng tưởng. Phân biệt, nghĩa là cấu trúc lại thực tại.
Như ta gõ bàn phím để nạp dữ liệu, đưa vào xử lý, rồi
cho ra kết quả trên màn hình. Trên đó, chỉ là hệ thống
kết cấu của những cột đèn vi tính sắp thành hàng ngang
và dọc, mà mật độ được tính trên từng phần vuông. Mỗi
cọc có ba bóng đèn nhỏ bật sang ba màu căn bản. Tùy theo
lệnh từ bàn phím, sau khi đã được xử lý, các dữ liệu
được bố trí theo một cấu trúc xác định, theo đó, bóng
đèn nào có xung điện để được thắp sáng. Mật độ xung
điện có và không tạo thành sự chớp nháy liên tục thay
nhau của các bóng đèn, với các màu được thắp sáng pha
trộn, phản chiếu lẫn nhau, tạo thành vô số hình ảnh và
âm thanh. Như vòng hào quang sau tượng Phật tại các chùa.
Do sự chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng đèn được
bố trí thành vòng tròn, ta thấy vòng hào quang sau tượng Phật
đang xoay, mà thực tế thì tất cả đều đứng im tại vị
trí cố định của nó.
Như
vậy, mối quan hệ kết cấu của căn, cảnh và thức hiện
hành từ chủng tử riêng biệt của chúng, hòa hiệp với nhau
tạo thành hình ảnh thế giới mà ta thấy, ta nghe, v.v… Thế
giới xuất hiện theo sự cấu trúc của căn, cảnh thức ấy
là thế giới tồn tại do bởi phân biệt. Tất cả tồn tại
do phân biệt kết cấu đều có thể nói là vọng tưởng,
vì nó không phản ảnh trung thực tồn tại, nó như là nó.
Chúng
ta học để hiểu được bản chất của thực tại cũng giống
như người kỹ sư hiểu rõ cấu tạo của vi tính, cơ bản
là hiểu rõ, trong một giới hạn nào đó, quy luật vật lý,
nguyên tắc nhị phân, nguyên tắc xung điện như thế nào…
thì có thể xử lý công việc theo ý của mình. Đó là do trình
độ hiểu biết những nguyên tắc của tồn tại, của quan
hệ các hình ảnh như quan hệ của ánh sáng với những xung
điện.
Tóm
lại, nếu nhận thức được thực tại, thấy được thực
tại, hiểu rõ được chân lý thì có thể biến đổi được
thế gian này, làm cho nó tồn tại hay làm cho nó hủy diệt;
đó chính là nói rằng Ma hay Phật cũng đều do tâm, ba cõi
duy chỉ một tâm, là nói theo ý nghĩa này. (http://www.phatviet.com)