Việc
học và hành về tánh không là công việc sâu xa lớn rộng.
Ở Tây tạng người ta phải trải qua nhiều năm để học
về Không. Do đó những trình bày sau đây về Tánh không chỉ
là toát yếu sơ lược.
Điều
vô cùng quan yếu là phải hiểu "Tánh không" có nghĩa là gì.
Lại cũng quan trọng để biết Tánh không ở ngay trong tâm
mình, qua kinh nghiệm bản thân. Muốn cảm nghiệm Không tánh,
thực tính của vạn pháp, thì trước hết phải hiểu nó trên
bình diện tri thức. Nếu không hiểu tánh không trên bình diện
tri thức, thì sẽ vô cùng khó khăn để mà có được cảm
nghiệm thực thụ về Không. Hiểu Tánh không trên bình diện
tri thức là một điều kiện chuẩn bị cho việc phát sinh
thực chứng kinh nghiệm về Tánh không bằng trực giác. Vậy
là có hai cách hiểu về Tánh không: hiểu bằng tri thức và
hiểu bằng kinh nghiệm bản thân.
LÀM
THẾ NÀO ĐỂ HIỂU TÁNH KHÔNG TRÊN BÌNH DIỆN TRI THỨC
Khi
mới khởi sự tra tầm về Không, ta cần phải biết những
mục đích và lý do tại sao phải làm việc ấy, những lợi
ích phát sinh do thực chứng Tánh không, và những lỗi lầm
do không thực chứng. Nếu hiểu được mục đích và lợi
ích của việc thực chứng Tánh không, thì ta sẽ có được
tâm mong muốn quyết liệt phải làm mọi nỗ lực đưa đến
sự thực chứng ấy.
Vì
chưa thực chứng Tánh không, vì hành động do ngu si không biết
thực chất của mọi sự, mà chúng ta luôn luôn tạo ác nghiệp.
Hậu quả là ta phải kinh quá những khổ đau bất tận do nghiệp
ác đem lại. Chính vì lý do này mà Phật dạy nguyên nhân khiến
hữu tình phải kinh quá những khổ đau, bất toại ý, là do
chúng không thực chứng Tánh không.
Gốc
rễ mọi thống khổ của chúng ta là ngã chấp (ôm giữ cái
ta). Bao lâu ý niệm sai lầm về ngã còn tồn tại trong dòng
tâm thức ta, thì ta vẫn còn bị vướng vào chu kỳ sinh tử.
Phương pháp thù thắng nhất để nhổ tận gốc rễ thói chấp
ngã và do đó tận diệt khổ đau, chính là chánh kiến sâu
xa về Không.
Theo
giáo lý Phật, nhờ thực hành Pháp ta có thể thành đạt hai
kết quả chính. Kết quả đầu tiên là tự giải thoát khỏi
đau khổ; kết quả thứ hai và tối hậu là giác ngộ hay Phật
quả. Nhưng nếu không thực chứng Tánh không thì ta không thể
đạt đến cái nào trong hai kết quả ấy.
Ngay
cả trong truyền thống Tiểu thừa của Phật giáo, ở đây
chỉ cốt nhấn mạnh về giải thoát, cũng không có cách nào
khác hơn để đạt giải thoát nếu không thực chứng Tánh
không. Trong truyền thống đại thừa, ta tìm cầu Giác ngộ
hay Phật quả để làm lợi ích cho hữu tình. Nhưng trước
khi đạt giác ngộ tối hậu nhờ thực hành con đường đại
thừa, hành giả cũng phải thực chứng Tánh không cái đã.
Sự chứng đắc của tâm Phật toàn tri là tùy thuộc vào việc
thực chứng Tánh không.
Trong
đời sống hàng ngày phần đông chúng ta giải quyết những
vấn đề rắc rối của mình bằng những phương tiện bên
ngoài. Tập trung giải quyết vấn đề bằng cách ấy thì nhiều
nhất cũng chỉ có lợi tạm thời cho ta trong cuộc đời ngắn
ngủi hiện
tại.
Nhưng
nếu ta thực chứng Tánh không, tập trung nỗ lực vào nội
tâm để làm việc ấy, thì ta sẽ đạt đến những lợi ích
lâu bền. Sự thực chứng Tánh không sẽ nhổ tận gốc rễ
mọi đau khổ và vấn đề nội tâm của chúng ta.
Như
đã nói trước đây, mọi vấn đề và đau khổ đều tùy
thuộc vào tâm mà có ra. Sự thực chứng Tánh không hủy diệt
những lo sợ của ta và có thể chấm dứt nỗi khổ sinh tử
trong đời ta. Khi thực chứng Tánh không, ta có thể giải quyết
tất cả mọi vấn đề của mình. Những bồ tát đã thực
chứng tánh không thì dù thân thể có bị cắt xẻ thành từng
mảnh vụn, các ngài vẫn không cảm thọ đau đớn.
Nhờ
thực chứng Tánh không mà ta vượt qua được những nỗi đau
khổ và vấn đề rắc rối trong hiện tại, và cuối cùng
còn đạt đến giải thoát vĩnh viễn khỏi khổ đau. Hiện
tại trong cuộc đời ta phải chịu những nỗi khổ ngoài tầm
kiểm soát bởi vì ta thiếu thực chứng về tánh không. Bằng
kinh nghiệm bản thân chúng ta có thể thấy rằng từ những
vị vua lớn nhất, những người có quyền lắm của trở xuống
cho đến những kẻ khốn cùng, tất cả đều phải bị những
nỗi lo sợ bất mãn, không có ai là hoàn toàn giải thoát.
Không ai muốn kinh quá những nỗi khổ già, bệnh, chết, thế
nhưng những khổ này vẫn giáng xuống đầu ta một cách tự
nhiên. Đối với những cái khổ này thì chúng ta không thể
tránh được.
Nhiều
người không thích nghe giáo lý về Tánh không, bởi vì Tánh
không và những hiện tướng mà ta thường thấy thì rất khác
nhau. Lại nữa, tánh không vô cùng thâm thúy và bởi thế,
đối với một số người, nó rất khó hiểu thấu. Sau khi
giác ngộ, đức Phật đã tuyên bố:
"Pháp
mà Ta đã tìm được thật giống như vị Cam lồ bất tử.
Nhưng Pháp vi diệu như cam lồ này không phải mọi người
đều thấu hiểu được, bởi vì nó quá sâu xa."
Mặc
dù Tánh không thông thường rất khó chấp nhận, khó hiểu
thấu, nhưng nếu trong những đời trước chúng ta đã tạo
những khuynh hướng tâm linh (chủng tử) tốt lành và đã phát
triển sự quen thuộc với những khía cạnh của Tánh không,
thì dĩ nhiên ta có thể thực chứng một cách dễ dàng hơn
những người khác.
Nhiều
năm về trước có một bậc thầy trong Phật giáo nổi tiếng
nhờ ngài đã thực chứng Tánh không. Ngài đã thực chứng
được nhờ trực giác, và được một ông vua mời về làm
thầy. Vua theo dõi lời dạy của bậc thầy về Tánh không,
thực chất của mọi hiện tượng. Mặc dù bậc thầy dạy
về Chân không, vị vua đã phát sinh một hiểu biết sai lạc
vì tính chất vi tế của vấn đề này.
Vua
khởi sự nghĩ rằng bậc thầy này có những quan điểm sai
lạc. Nếu ông ta bảo rằng tuyệt đối không có gì hiện
hữu, và nếu cứ để cho ông tiếp tục giảng dạy sai lệch
như vậy cho thần dân của mình, thì ông ta sẽ dẫn nhiều
người đi sai hướng, phá hoại đời sống tinh thần của
họ. Vì lý luận như thế, nhà vua đã sai chém đầu bậc thầy.
Vài
năm sau, vua khởi sự theo học một bậc thầy khác. Lần này
trong lúc khởi đầu sự tu tập, nhà vua không được chỉ
giáo về Tánh không. Ngài được dạy những giáo lý về vô
thường, những lỗi lầm của vòng luân hồi sinh tử, bản
chất của những khổ đau bất toại. Bằng cách giải thích
về vô thường vi tế và những giáo lý căn bản khác, vị
thầy thứ hai này giúp cho trí tuệ của vua tăng trưởng. Nhờ
giảng dạy cách ấy mà khi vị thầy này khởi sự dạy về
Tánh không, thì không có sự hiểu lầm nào phát sinh nữa.
Nhà vua cuối cùng đạt thực chứng về tánh không, và nhờ
tuệ trực giác, vua nhận ra rằng cái Không này chính thực
là cái Không mà bậc thầy trước kia đã giảng. Khi nhận
thức được điều ấy, vua ngập tràn hối hận vì đã vô
cố hủy hoại mạng sống của thầy mình, một bậc đã giác
ngộ.
Ngay
cả khi đọc chương này, có thể nhiều người cũng hiểu
lầm về ý nghĩa của Tánh không. Lúc đầu rất có thể có
những hoài nghi hoang mang về Tánh không sinh khởi, nhưng nếu
liên tục học hỏi thì giáo lý này sẽ trở nên rất sáng
sủa. Mặc dù đôi khi có những hiểu lầm có thể phát sinh,
điều thực quan trọng là phải học giáo lý về tánh không.
Cũng thực quan trọng để biết mục đích của việc học
Tánh không, những lợi ích do sự học này và sự thực chứng
về Tánh không mang lại. Chính nhờ thực chứng tánh không
mà ta có thể thực sự đạt đến giải thoát khỏi khổ đau
bất mãn.
Tánh
không là gì ?
Tánh
không là sự kiện rằng tất cả hiện tượng đều không
có thực hữu nội tại. Muốn hiểu tánh không, ta phải xử
dụng những đường lý luận và ví dụ như Phật đã dạy.
Nếu không có những lý do và ví dụ thì thực vô cùng khó
hiểu tánh không; bởi thế ta cần phải dựa vào những ví
dụ này.
Mọi
cái không có thể chia thành hai loại: không của người (nhân
không) và không của các hiện tượng (pháp không). Nhân không
là con người không có thực hữu nội tại, pháp không là
sự thiếu thực hữu nội tại ở nơi bất cứ hiện tượng
nào khác ngoài con người.
Khởi
thủy học về Tánh không thì ta nên quán sát một con người
không có thực hữu nội tại như thế nào. Một người có
hai bản chất, bản chất tuyệt đối và bản chất tương
đối. Ta hãy xem xét điều này bằng một ví dụ về một
con người tên Xoài. Anh Xoài có hai bản chất, bản chất tối
hậu của anh và bản chất tương đối. Bản chất tuyệt đối
hay tối hậu của Xoài là trống rỗng, không thực hữu nội
tại, còn tên Xoài là thuộc bản chất tục đế.
Khi
ta biết bản chất tục đế thì điều này sẽ giúp ta biết
được bản chất của chân đế. Cái căn cứ để gán tên
Xoài là năm uẩn làm nên anh Xoài. Xoài được làm nên bởi
năm nhóm là sắc (thân), thọ (cảm giác), tưởng (ý), hành
(những khuynh hướng nội tâm) và thức (cái biết). Tập hợp
của năm uẩn làm nên thân tâm của anh Xoài là cái căn bản
để đặt tên Xoài. Như vậy, Xoài là một hiện tượng được
đặt tên căn cứ vào năm uẩn của anh ta.
Nếu
tra xét kỹ ta không thể tìm thấy anh Xoài nào trong từng mỗi
uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, hay thức. Sau khi thiết lập
rằng riêng từng uẩn một không có uẩn nào là anh Xoài thực
sự, ta lại phải xác định rằng sự tập hợp của năm uẩn
ấy cũng không phải Xoài nốt. Ta có thể làm việc này bằng
cách nhận ra rằng chính vì không có một uẩn nào trong tập
hợp của năm uẩn được gọi là Xoài, cho nên cái nhóm gồm
tất cả những vật phi-Xoài ấy cũng không thể là Xoài.
Một
khi đã hiểu rõ ta không thể
xem
Xoài là tập hợp của năm uẩn hay bất cứ một uẩn nào
trong đó, kế tiếp ta nên hỏi, có thể nào Xoài hiện hữu
ở ngoài hay khác với năm uẩn hay không? Vì chính từ cơ sở
năm uẩn mà Xoài đã được gán tên ấy, nên Xoài không thể
được tìm thấy ở đâu khác ngoài năm uẩn, hoặc riêng rẻ
hoặc tập hợp. Nhờ xử dụng những phương pháp lý luận,
kiểm soát chặt chẽ, mà ta thấy không thể tìm ra Xoài, Xoài
không hiện hữu từ trong bản chất. Bây giờ ta nên quán xét
điều này chứng tỏ cái gì - sự kiện rằng sau khi tra tầm,
ta không tìm thấy một anh Xoài hiện hữu tự nội?
Khi
ấy ta sẽ khám phá rằng Xoài chỉ là do tâm phân biệt đặt
ra, thuộc tính chất của tục đế hay sự thật tương đối.
Bởi vậy, Xoài thiếu sự thực hữu tự nội; Xoài chỉ là
một nhãn hiệu do tư tưởng phân biệt bày đặt. Nói tóm,
chính vì khi tra tầm ta không thể tìm thấy đâu là Xoài, nên
điều ấy chứng tỏ Xoài không có một hình thái hiện hữu
tự nội nào cả. Xoài chỉ là một hiện tượng thuộc phạm
trù "con người" do tâm phân biệt đặt tên.
Nếu
anh Xoài thực sự có ra như một thực thể biệt lập, thì
sau khi tìm tòi ta phải thiết lập được sự hiện hữu nội
tại của xoài. Tuy nhiên thực tế không phải vậy, ta không
tìm ra được một anh Xoài nào hiện hữu nội tại biệt lập.
Bởi thế kết thúc sự tra tầm này ta phải chấp nhận rằng
Xoài không thể nào hiện hữu một cách biệt lập tự nội.
Mặc dù hình thức lý luận này lúc đầu khi mới xem qua có
vẻ trùng lặp khô khan, song nó rất cần thiết cho ta nếu
ta muốn tránh rắc rối khi thiết lập hiện hữu của Tánh
không.
Nếu
tập hợp năm uẩn của Xoài là anh Xoài, thì phải có một
uẩn nào trong đó là xoài thực sự. Ví dụ nếu ta có một
xâu chuỗi tràng một trăm hạt, nếu tập hợp 100 hạt mà
là tràng hạt, thì phải có một hoặc một số hạt trong đó
là chuỗi tràng. Nhưng sự thực không phải vậy. Do thế, nội
cái tập hợp 100 hạt không phải là tràng hạt. Cũng vậy,
nội tập hợp năm uẩn của Xoài không phải là anh Xoài, vì
trong năm uẩn đó không một uẩn nào là anh Xoài thực sự.
Ta
nên quán sát ví dụ này, luận cứ này trong một thời gian
dài, xét xem ý nghĩa và ví dụ có tương ứng với nhau không.
Có thể khi mới xem qua ví dụ này, ta thấy nó dường như
hoàn toàn vô nghĩa. Nhưng nếu tra tầm kỹ trong một thời
gian lâu dài, ta sẽ tìm được ý nghĩa sâu xa.
Trong
những bản kinh luận thuộc trường phái Trung đạo, còn có
những giải thích thêm nữa về những luận chứng lô gích
để hiểu tánh không. Chẳng hạn, nếu nội cái tập hợp
năm uẩn của Xoài mà là Xoài thực, thì hệ luận sẽ là
nội sự tập hợp những bộ phận của một chiếc xe đã
là xe. Nếu những bộ phận của xe mà là xe, thì một đống
những bộ phận ấy đang nằm giữa đất là xe hay sao?
Đối
với những người đã nghiên cứu nhiều về tánh không, thì
những gì được nói ở đây thật rõ ràng không còn có hoài
nghi gì nữa. Nhưng nhiều người vẫn còn tin rằng riêng tập
hợp của năm uẩn - như trong ví dụ về anh Xoài - cũng đã
là Xoài thực thụ. Ngay cả vài trường phái Phật giáo tiểu
thừa cũng tin như vậy. Trung luận (Prasangika), trường phái
Phật giáo cao nhất, thể hiện cái nhìn tuyệt đối của Phật,
thì không bao giờ chấp nhận rằng anh Xoài chỉ là tập hợp
của năm uẩn của anh, cũng không chấp nhận bất cứ một
uẩn nào trong đó thực sự là Xoài. Điểm này rất quan trọng
cần biết để khỏi hiểu lầm giáo lý về tánh không. Ngay
cả khi bậc thầy giải thích Tánh không một cách chính xác
rõ ràng, người học vẫn còn có thể hiểu lầm những gì
vị ấy nói. Bởi vậy ta cần thụ giáo về tánh không với
một bậc thầy giỏi, và còn phải nghiên cứu, quán sát và
thiền định nhiều về tánh không thì mới thấu hiểu được
ý nghĩa vi diệu của nó.
Ta
nên xét xem có những lỗi lầm gì khi tin tưởng rằng năm
uẩn của Xoài chính là Xoài. Nếu chắc chắn năm uẩn của
Xoài là Xoài, thì dĩ nhiên nói như thế không có lỗi gì cả.
Nhưng nếu suy sét thật kỹ ta sẽ thấy rằng sự tin rằng
Xoài là tập hợp của năm uẩn của anh ta rõ ràng có nhiều
lỗi về lý luận. Ta nên luyện tập các phương pháp lý luận
này để đạt đến một tri kiến về tánh không. Nếu có
thể, ta cũng cần xử dụng những ví dụ liên hệ đến những
kinh nghiệm của bản thân ta.
"Phật
Giáo Truyền Thống Đại Thừa"
Thích
nữ Trí Hải dịch