Từ
hai giáo lý được giảng vào Tháng Năm 1987 tại Tu viện Kopan
và Viện Himalayan Yogic, Nepal. Nhà Xuất bản Wisdom xuất bản
lần đầu tiên năm 1993 như một Bản Ghi chép Trí tuệ.
Ý nghĩa tối
hậu của cuộc đời
Trước
hết tôi chân thành cảm ơn mọi người đã tới tham dự khóa
thiền định này. Tôi vô cùng hoan hỉ vì các bạn muốn làm
cho đời mình lợi lạc cho chúng sinh bằng cách phát triển
tâm thức các bạn, vì các bạn quan tâm tới hạnh phúc của
người khác. Tôi chân thành cảm ơn tất cả các bạn.
Bạn
không tham dự những khóa thiền định và thực hành tâm linh
để có một thân thể khỏe mạnh, và thậm chí không phải
để được an bình nhất thời trong tâm thức. Bạn thực hành
tâm linh để có sự an bình vĩnh cửu, với sự giải thoát
tối hậu khỏi những phiền não hay những tư tưởng náo động.
Vào lúc này bạn đã có một thân người quý báu. Ngay cả
việc sử dụng thân người này để đạt được hạnh phúc
tối hậu của sự giải thoát vĩnh cửu khỏi mọi vấn đề
và những nguyên nhân của chúng – những tư tưởng náo động
và kết quả của hành động, hay nghiệp – vẫn không phải
là mục đích tối hậu của việc bạn có thân người quý
báu này. Mục đích thực sự của việc mang thân người quý
báu vào lúc này là để tránh làm tổn hại chúng sinh; và
trên nền tảng của điều đó, làm lợi lạc cho tất cả
chúng sinh, mỗi chúng sinh trong đó đều mong muốn hạnh phúc
và không muốn đau khổ. (Hình trên:
Đức Tara Xanh)
Khi
ở tận đáy lòng, bạn đã có thái độ thuần tịnh là không
muốn làm hại chúng sinh, khi ấy bạn hành động để làm
lợi ích cho họ mà không có sự phân biệt. Bạn không thừa
nhận một vài người, chẳng hạn như những người thân và
bạn hữu, là thân thiết và giúp đỡ họ, nhưng lại coi những
người khác là kẻ thù và không giúp đỡ họ - hay thậm chí
còn làm hại họ. Hơn là những tư tưởng phân biệt này,
bạn có một thái độ thuần tịnh của lòng từ ái, nghĩ
tới việc làm lợi lạc tất cả chúng sinh bao la như không
gian vô hạn. Với thái độ từ ái và bi mẫn này đối với
tất cả chúng sinh, bạn cũng nên hành động để làm lợi
lạc cho họ một cách bình đẳng. Đây là mục đích chính
của việc chúng ta mang thân người quý báu này. Đây là ý
nghĩa tối hậu của cuộc đời.
Hạnh phúc Vĩnh
cửu
Bạn
nên sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, để thành tựu mục
đích tối hậu này. Đây là lý do tại sao bạn nỗ lực để
được khỏe mạnh và trường thọ. Mục đích của mọi việc
bạn làm – ngủ, thức dậy, mặc quần áo, ăn uống, đi đứng,
nằm ngồi, chữa bệnh – là để phát triển thiện tâm đối
với mỗi chúng sinh, và để hành động mang lại lợi ích
đồng đều cho họ. Những sinh loài khác hoàn toàn giống bạn
trong việc mong muốn ngay cả sự an nhàn nhỏ bé nhất và không
muốn chút ưu phiền nào, ngay cả trong giấc mơ. Họ hoàn toàn
giống như bạn.
Cũng
như bạn muốn tiệt trừ mọi nỗi khổ của bạn và đạt
được hạnh phúc, mỗi sinh loài khác cũng vậy. Họ hoàn toàn
giống như bạn. Vì thế, bạn cần tiệt trừ nỗi khổ của
họ và giúp họ đạt được hạnh phúc.
Và
một lần nữa, cũng như bạn, những sinh loài khác mong muốn
hạnh phúc vĩ đại nhất, vĩnh cửu nhất. Khi bạn đi mua sắm,
bạn cố gắng mua được món hàng có chất lượng tốt nhất,
những món hàng bền nhất mà bạn có thể. Giống như thế,
mỗi chúng sinh ước muốn có được hạnh phúc vĩ đại nhất,
vững bền nhất – và hạnh phúc đó có nghĩa là sự đại
giải thoát. Đại giải thoát có nghĩa là giải trừ hai che
chướng: che chướng của những tư tưởng náo động thô nặng
và những che chướng của các dấu vết vi tế trong tâm. Khi
sự ngừng dứt những che chướng này được thiết lập trên
tâm thức thì đây là hạnh phúc thuần tịnh nhất của sự
toàn giác.
Vì
sao hạnh phúc của sự toàn giác thì vĩnh cửu? Đó là bởi
một khi những che chướng, nguyên nhân của đau khổ, đã được
hoàn toàn giải trừ thì đau khổ không thể tái diễn và hạnh
phúc không thể bị hủy hoại. Bởi nguyên nhân của đau khổ
đã bị tiệt trừ nên đau khổ không thể quay đầu trở lại.
Để
ví dụ, vì sao hiện nay tâm thức chúng ta bị những tư tưởng
náo động như tham, sân và si sai khiến? Tâm chúng ta bị những
độc chất này ngăn che là bởi chúng là sự tiếp tục của
những phiền não trong tâm, hay những tư tưởng náo động,
đã hiện hữu ngày hôm qua. Bởi chúng ta không tẩy trừ những
tư tưởng náo động của ngày hôm qua nên sự tiếp tục của
những tư tưởng này – những tư tưởng náo động của ngày
hôm nay – đã phát khởi.
Đời
trước của chúng ta cũng tương tự như thế: Nếu trong đời
trước chúng ta đã hoàn toàn giải trừ những tư tưởng náo
động bằng cách thực hiện biện pháp chữa trị của con
đường trong tâm ta, thì trong đời này chúng ta không thể
bị sinh ra với những phiền não này trong tâm. Không thể có
sự tiến hóa như thế nếu chúng ta đã ngừng dứt sự tiếp
tục của những tư tưởng náo động. Không có gì gây ra những
tư tưởng náo động trong đời này thì sẽ không có những
tư tưởng náo động – và không có bất hạnh hay những vấn
đề trong đời này.
Chẳng
hạn như nếu một miếng vải bị dơ trong nhiều ngày và hôm
qua đã được giặt sạch thì không có sự tiếp tục của
bụi bẩn ngày hôm qua. Cũng thế, một khi những che chướng
của tư tưởng náo động hoàn toàn được giải trừ thì
chúng không thể lại phát sinh bởi không có nguyên nhân, và
không thể xảy ra việc kinh nghiệm đau khổ một lần nữa.
Đây là hạnh phúc vĩnh cửu của giải thoát. Như tôi đã
đề cập ở trên, mục đích tối hậu của việc có được
thân người quý báu này là để giải thoát tất cả các sinh
loài khỏi các che chướng, hay những dấu vết trong tâm, và
dẫn dắt họ tới giải thoát vĩ đại nhất của sự toàn
giác, là hạnh phúc vĩnh cửu, vô song.
Phát triển
tâm
Bây
giờ, để thành tựu công trình vĩ đại này cho chúng sinh,
bạn phải phát triển tâm bạn bằng cách nỗ lực lắng nghe,
quán chiếu và thiền định về các giáo lý. Và để bạn
có thể dẫn dắt chúng sinh tới hạnh phúc vô song này của
sự toàn giác, họ phải đi theo con đường. Vì thế, để
dẫn dắt chúng sinh trong con đường dẫn tới sự toàn giác,
bạn phải biểu thị các giáo lý cho họ. Để biểu thị các
giáo lý, phương tiện dẫn dắt chúng sinh trong con đường
đi tới sự toàn giác, bản thân bạn phải thật thấu suốt,
không chút sai lầm, mức độ của tâm, những đặc điểm
và nghiệp của mỗi một chúng sinh. Bởi chúng sinh có những
mức độ và đặc điểm tâm thức khác nhau nên các phương
pháp mà bạn biểu thị cho họ cũng phải có những loại khác
nhau. Một lần nữa bạn phải nhận thức thật rõ ràng, không
chút sai lầm, tất cả những phương tiện để dẫn dắt chúng
sinh.
Tâm
duy nhất có thể nhận ra tất cả những điều này một cách
viên mãn là tâm toàn trí. Vì thế, để thành tựu công trình
vĩ đại này cho chúng sinh, lợi ích tối hậu này của sự
giải thoát, là điều chúng sinh cần và thiếu, bản thân bạn
cần có tâm toàn trí.
Chẳng
hạn như một vị thầy – dù ở trong một trường học, Đại
học hay Tu viện – giảng dạy những đề tài khác nhau cho
những lớp học khác nhau để dạy học viên kiến thức khoa
học, toán học, kỹ sư, sinh học, y học, tâm lý học hay bất
kỳ môn gì. Mọi người thường chấp nhận rằng một học
sinh càng có giáo dục thì càng dễ tìm việc làm, kiếm sống
và có một đời sống dễ chịu. Mục đích tổng quát của
giáo dục là để có một cuộc sống dễ chịu hơn. Và để
giáo dục người khác, bản thân vị thầy phải được giáo
dục và am hiểu mọi vấn đề mà ông giảng dạy. Bạn càng
ít hiểu biết – hay càng nhiều vô minh – thì khả năng giáo
dục và giúp đỡ người khác của bạn càng bị giới hạn.
Bạn càng hiểu biết thì bạn càng có thể đáp ứng những
ước muốn của người khác.
Nếu
bạn bị mù, bạn không thể dẫn dắt người khác tới nơi
họ muốn. Nếu bạn không có tay thì bạn không thể cứu giúp
mẹ của bạn đang gặp nguy hiểm vì bị rơi xuống một vách
núi, hay bị một con sông cuốn trôi và bị chết đuối. Giống
như thế, để hướng dẫn chúng sinh một cách hoàn hảo tới
hạnh phúc vô song của sự toàn giác, trước hết bạn nên
có tâm toàn trí.
Bởi
có tâm toàn trí, bạn cũng có năng lực toàn hảo và lòng
đại bi đối với mọi chúng sinh. Nhờ có lòng đại bi không
phân biệt này, bạn sẽ không bị lâm vào tình cảnh là cứu
giúp người này mà không giúp đỡ người khác. Hành động
của bạn không có sự phân biệt. Và với tâm toàn trí, bạn
sẽ có năng lực khám phá mọi phương tiện thiện xảo để
hướng dẫn chúng sinh.
Phát triển
lòng bi mẫn
Làm
thế nào để có thể phát triển lòng bi mẫn? Làm thế nào
để sự tương tục tâm thức này trở thành tâm toàn trí?
Thậm chí bạn có thể hình dung điều này nhờ ví dụ đơn
giản này: Khi bạn học thuộc lòng điều gì, vào lúc đầu
tâm bạn hoàn toàn không biết gì hết. Ngay lúc bắt đầu,
thậm chí bạn không biết mẫu tự abc; nhưng với sự giúp
đỡ của một thầy giáo và nhờ nỗ lực, dần dần bạn
bắt đầu học tập. Khi bạn tiếp tục, bạn học càng ngày
càng nhiều hơn. Tâm có bản tánh là có thể phát triển sự
hiểu biết. Tâm có khả năng hiểu biết những hiện tượng
thô sơ và ngay cả những điều vi tế nếu bạn cố gắng
làm việc này một cách đúng đắn.
Giờ
đây bạn có lòng bi mẫn đối với một vài chúng sinh, mặc
dù bạn không hoàn toàn phát triển lòng bi mẫn, có nghĩa là
lòng bi đối với mọi sinh loài. Tuy nhiên, bạn có thể phát
triển lòng bi nhỏ bé hiện có đối với những chúng sinh
này để lòng bi ấy trở nên mỗi lúc một to lớn hơn. Bạn
có thể phát triển lòng bi đối với những chúng sinh này.
Bằng cách thấu hiểu các giáo lý và thực hành thiền định,
bạn cũng có thể phát triển lòng bi đối với chúng sinh mà
hiện nay bạn không cảm thấy bi mẫn. Theo cách này lòng bi
có thể phát triển.
Với
lòng bi mẫn bạn có đối với người khác, với sự hiểu
biết trong hiện tại về những ước muốn của họ và các
phương pháp để đáp ứng những ước muốn đó, bạn có
một vài khả năng để giúp đỡ chúng sinh. Thậm chí vào
lúc này, với thân người này, với sự hiểu biết và lòng
bi bạn đã có, bạn có một vài năng lực để giúp đỡ những
người khác. Bởi sự hiểu biết của bạn về tất cả chúng
sinh và bởi lòng bi đối với họ phát triển nhờ thực hiện
phương cách chữa trị của con đường trong tâm bạn, dần
dần những che chướng của bạn mỗi lúc một ít đi, và càng
lúc bạn càng hiểu biết hơn. Khi tiến trình này hoàn tất,
bạn sẽ có năng lực toàn hảo và viên mãn để hướng dẫn
chúng sinh.
Phát triển
tâm toàn trí
Làm
thế nào để có thể tách rời tâm thức khỏi những phiền
não? Trong đời sống hàng ngày của bạn, bạn có thể nhận
ra rằng cho dù vào buổi sáng tâm bạn tràn ngập sân hận,
sự sân hận này không kéo dài; tâm bạn không bị sân hận
áp đảo liên tục. Buổi sáng bạn có thể giận dữ với
người nào đó, nhưng vào buổi chiều thì sự giận dữ không
còn nữa – thay vào đó bạn có thể bám luyến hay dửng dưng
đối với người đó.
Thậm
chí bạn không thiền định thì những tư tưởng náo động
cũng phát khởi và chuyển hóa. Điều này chứng tỏ bản tánh
của tâm không đồng nhất với tham, sân, si, kiêu ngạo hay
ganh tị. Tâm bị những độc chất này tạm thời ngăn che,
nhưng tự nó không đồng nhất với các độc chất ấy. Nếu
tự thân tâm thức đồng nhất với sân hận thì nó phải
có tính chất của sân hận một cách tự nhiên và liên tục.
Hoặc tâm có tính chất của tham luyến một cách tự nhiên
và liên tục. Như thế, đối với một đối tượng, sân hận
và tham luyến phát khởi đồng thời.
Nếu
một tấm gương hoàn toàn đồng nhất với bụi bám trên đó
thì bụi không thể bị lau sạch – điều này giống như lau
bụi cho sạch bụi. Bởi gương không đồng nhất mà chỉ bị
bụi che phủ nhất thời nên bạn có thể lau sạch gương bằng
nước và một mảnh vải. Càng lau sạch bụi thì phản chiếu
của gương càng trong sáng hơn. Tương tự như thế, khi bạn
lắng nghe, quán chiếu và thiền định về con đường tuần
tự dẫn tới giác ngộ, khi bạn phát triển thêm nữa những
nhận thức về con đường này, trước tiên những che chướng
của bạn dần dần càng lúc càng yếu đi, và sau đó hoàn
toàn bị giải trừ.
Mahayana,
hay Đại thừa, con đường dẫn tới giác ngộ có năm con đường:
đó là con đường công đức, chuẩn bị, chánh kiến, thiền
định và vô-học. Và con đường Ba la mật có mười cấp
độ hay mười bhumi (địa). Những che chướng nào đó được
tẩy trừ khi bạn thành tựu cấp độ thứ ba, con đường
chánh kiến; và những che chướng lớn hơn nữa được giải
trừ khi bạn đạt được con đường thiền định. Khi một
Bồ Tát đạt tới địa thứ tám của con đường Ba la mật,
che chướng tư tưởng náo động thô sơ hoàn toàn được giải
trừ. Nhờ phát triển tâm tới địa thứ chín và mười, Bồ
Tát tẩy trừ ngay cả những che chướng vi tế, những vết
nhơ trong tâm, hay những dấu vết để lại trong tâm do những
che chướng của tư tưởng náo động như sự vô minh bám chấp
vào cái tôi thì hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó.
Trong
khi cái tôi chỉ đơn thuần được quy gán cho các uẩn bởi
tư tưởng, vô minh bám chấp vào cái tôi như cái gì độc
lập, hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó. Do bởi những
dấu vết để lại trên tâm thức, mọi sự xuất hiện như
hiện hữu tự khía cạnh riêng của nó. Tuy nhiên, ngay cả
những che chướng vi tế này cũng hoàn toàn bị giải trừ
khi tâm được phát triển tới địa thứ chín hay thứ mười.
Khi phương thức chữa trị của con đường hoàn toàn ở trong
tâm thì ngay cả một vết nhơ mỏng manh nhất cũng không còn.
Vào lúc này, sự tương tục của tâm trở thành tâm toàn trí,
hoàn toàn thấu suốt tất cả quá khứ, hiện tại và vị
lai không chút sai lầm; thấu suốt mọi tâm thức và ước
muốn của chúng sinh; và thấu suốt mọi phương tiện khác
nhau để hướng dẫn chúng sinh một cách hoàn hảo.
Những chướng
ngại cho sự thành công
Để
thành tựu điều này, chúng ta phải hoàn tất những chứng
ngộ của con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, hay lam
rim. Việc phát triển tâm bạn trong con đường tuần tự dẫn
tới giác ngộ là điều quan trọng nhất và lợi lạc nhất
đối với bạn, và đặc biệt là đối với những chúng sinh
khác. Tuy nhiên, ngay cả việc thành tựu một vài hạnh phúc
nhỏ bé trong đời này cũng gặp nhiều trở ngại. Ngay cả
việc tìm một việc làm cũng mất nhiều tháng, thậm chí nhiều
năm. Ngay cả trong việc kinh doanh, là công việc nhỏ bé để
đạt được hạnh phúc chỉ cho cuộc đời này, cũng có nhiều
chướng ngại. Vì thế dĩ nhiên là việc phát triển tâm bạn
và thành tựu sự giải thoát vĩnh cửu của tâm toàn trí vì
lợi lạc của tất cả chúng sinh phải có nhiều chướng ngại.
Do đó tất nhiên là có nhiều chướng ngại trong việc phát
triển tâm bạn và thành tựu giải thoát vĩnh cửu của tâm
toàn trí vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Có nhiều chướng
ngại bên trong do những tư tưởng náo động gây ra: tâm bất
mãn; tâm ích kỷ; tâm của những bận tâm thế tục, sự bám
níu vào cuộc đời này và những toàn thiện trong sinh tử.
Bận
tâm thế tục mang lại rất nhiều vấn đề trong đời này:
sợ hãi, lo lắng, ngã lòng, thậm chí tự tử. Tâm bám chấp
này không cho phép những hoạt động hàng ngày của bạn trở
thành đức hạnh, nguyên nhân của hạnh phúc. Hơn nữa, khi
sự bận tâm thế tục xen vào việc bạn tìm kiếm hạnh phúc
trong những đời sau, có nghĩa là nhận một tái sinh tốt lành,
thậm chí sự bận tâm thế tục này không để cho bạn có
đươc hạnh phúc và an bình trong tâm từ giờ này sang giờ
khác trong đời sống hiện tại của bạn.
Cho
dù bạn nỗ lực thực hành Pháp, sự bận tâm thế tục không
cho phép việc thực hành của bạn trở thành Pháp thuần tịnh.
Việc bám níu vào những toàn thiện trong sinh tử cũng khiến
cho bạn tái sinh một lần nữa, vì thế bạn liên tục trải
nghiệm nỗi khổ của cái chết và kinh nghiệm mọi vấn đề
này. Nó không cho phép bạn thành tựu giải thoát vĩnh cửu
khỏi đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ.
Nói
chung, sự vô minh tin rằng cái ta, là cái chỉ đơn thuần được
tư tưởng quy gán cho các uẩn, hiện hữu từ khía cạnh riêng
của nó, là nguyên nhân chính của đau khổ. Vô minh này là
cội gốc của mọi đau khổ. Nhưng cũng có tâm thức ích kỷ
không cho phép bạn có chút bình an trong tâm. Chừng nào bạn
còn liên tục theo đuổi thái độ ích kỷ, bạn sẽ không
có bất kỳ sự buông xả nào, hạnh phúc nào. Ngoài việc
làm hại bạn, thái độ ích kỷ liên tục mang tai họa đến
cho tất cả chúng sinh khác – từ ngày này sang ngày khác,
tháng ngày sang tháng khác, năm này sang năm khác, và đời này
sang đời khác. Nó không cho phép những hoạt động của đời
sống hàng ngày của bạn trở thành nguyên nhân khiến bạn
thành tựu sự toàn giác, tâm toàn trí, vì chúng sinh. Tương
tự như thế, sự tham luyến bám chấp vào những toàn thiện
trong sinh tử không cho phép những hành động hàng ngày của
bạn trở thành nguyên nhân của giải thoát.
Cái
nhìn đầy ảo tưởng tin rằng có một cái ta độc lập, mặc
dù đó là một lẽ duyên sinh, không cho phép bạn nhận ra bản
tánh tuyệt đối của cái tôi. Chừng nào bạn còn bám chấp
vào cái tôi như hiện hữu thực sự, bạn không thể nào nhận
ra bản tánh tuyệt đối của cái tôi. Theo cách này, bạn không
có cách nào thoát khỏi đau khổ, thoát khỏi sinh tử. Việc
theo đuổi vô minh bằng cách này không cho phép những hành
động trong đời sống hàng ngày của bạn trở thành một
phương cách chữa trị cho sinh tử, cho nguyên nhân của đau
khổ và mọi vấn đề về hậu quả.
Nương tựa
Đức Tara
Có
rất nhiều chướng ngại bên trong đối với việc phát triển
tâm thức của bạn, và những chướng ngại bên trong này tạo
ra nhiều chướng ngại bên ngoài. Vì thế, để bạn có thể
thành công trong việc thực hành Pháp và thể nhập con đường
tuần tự dẫn tới giác ngộ, bạn phải nương tựa vào một
Bổn Tôn đặc biệt hay một vị Phật, chẳng hạn như Đức
Tara. Mọi công hạnh của chư Phật đã hiển lộ trong Đức
Tara, Đấng Giải Thoát chúng sinh - phương diện nữ của chư
Phật – để giúp chúng sinh hoàn thành mỹ mãn hạnh phúc
nhất thời và tối hậu.
Nhiều
yogi Ấn Độ đã nương tựa Đức Tara. Nhờ nương tựa Đức
Tara, họ đã hoàn tất con đường và thực hiện những tác
phẩm vĩ đại cho việc giảng dạy và cho chúng sinh, dẫn dắt
vô số chúng sinh trong con đường dẫn tới hạnh phúc nhất
thời và tối hậu. Chẳng hạn như đại học giả Lạt ma
Atisha, người đã hoàn tất toàn bộ con đường tuần tự
dẫn tới giác ngộ, đã nương tựa Đức Tara.
Lạt
ma Atisha được Yeshe O, vị vua Pháp của Tây Tạng thỉnh mời
để thiết lập lại và truyền bá Phật Pháp ở Tây Tạng.
Lạt ma Atisha cũng biên soạn Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ,(1)
là tác phẩm đã lập ra thuật ngữ con đường tuần tự dẫn
tới giác ngộ. Nhờ lắng nghe, quán chiếu và thiền định
về Ngọn Đèn Soi Đường Giác ngộ, rất nhiều người đã
đạt được giác ngộ.
Ngoài
việc làm lợi lạc cho những hành giả Tây Tạng đang thực
nghiệm và thành tựu con đường dẫn tới giác ngộ, ngày
nay, thậm chí bản văn của Lạt ma Atisha cũng mang lại lợi
ích rộng rãi ở Tây phương. Ánh sáng của giáo lý lam rim
này đã xua tan rất nhiều vô minh, ngay cả trong tâm thức của
nhiều ngàn người đang sống ở Tây phương. Bởi Ngọn Đèn
Soi Đường Giác ngộ hợp nhất mọi giáo lý của Đức Phật
thành một thực hành tuần tự mà nhờ đó ai cũng có thể
đạt được giác ngộ và nhiều hành giả đã có thể sử
dụng nó để tu hành tâm thức trong con đường dẫn tới giác
ngộ.
Mặc
dù Lạt ma Atisha đã thị tịch rất lâu ở Tây Tạng, ngài
vẫn làm lợi lạc chúng ta bằng cách cho ta cơ hội để hiểu
biết những giáo lý của con đường tuần tự dẫn tới giác
ngộ. Việc thấu hiểu và thực hành con đường này mang lại
cho bạn lòng tin và nhiều hạnh phúc. Nhờ hiểu biết nguyên
nhân của hạnh phúc, bạn có cơ hội để đạt được bất
kỳ hạnh phúc nào bạn ước muốn. Đây là những công hạnh
của Lạt ma Atisha làm lợi lạc tất cả chúng sinh.
Lạt
ma Atisha có thể hiến tặng những lợi lạc bao la này cho chúng
sinh và các giáo lý nhờ tin tưởng vào Đức Tara. Trong suốt
cuộc đời của Lạt ma Atisha, Đức Tara luôn luôn cho ngài
những lời chỉ dạy. Khi Lạt ma Atisha phải quyết định về
việc thực hiện những công trình cho chúng sinh – chẳng hạn
như du hành sang Tây Tạng - ngài luôn luôn cầu xin Đức
Tara, và sau đó làm theo những chỉ dẫn của Tara. Giống như
thế, thời nay ngay cả những yogi Tây Tạng đang thể nhập
con đường tuần tự dẫn tới giác ngộ, đạt được thành
công to lớn trong việc phát triển tâm thức của họ, cũng
nương tựa vào Đức Tara.
Những lợi
ích của thực hành Tara
Đức
Tara nhanh chóng giúp bạn thành công trong việc đạt được
hạnh phúc tối hậu của giác ngộ. Bạn nhận lãnh rất nhiều
công đức tốt lành, hay nguyên nhân của hạnh phúc; nó ngăn
cản một tái sinh đau khổ trong đời sau của bạn; bạn nhận
nhập môn từ hàng triệu vị Phật; và bạn thành tựu giác
ngộ. Tuy nhiên, bên cạnh những điều này, thực hành Tara
có nhiều lợi lạc khác. Việc trì tụng lời cầu nguyện
Hai mươi mốt Đức Tara (2) với lòng sùng mộ vào lúc bình
minh hay chạng vạng tối – hay tưởng nhớ Đức Tara, hát
tụng những bài nguyện và tụng các thần chú bất kỳ lúc
nào vào ban ngày hay đêm – che chở bạn khỏi nỗi sợ và
những hiểm nguy, và đáp ứng mọi ước nguyện của bạn.
Nếu bạn cầu nguyện Đức Tara, Ngài sẽ đặc biệt cứu
giúp bạn thật nhanh chóng.
Cũng
có nhiều lợi lạc nhất thời nhờ thực hành Tara, hoặc bằng
cách trì tụng thần chú Tara hay lời cầu nguyện Hai mươi
mốt Đức Tara. Đức Tara có thể giải quyết nhiều vấn đề
trong đời bạn: cứu bạn khỏi bị chết sớm; giúp bạn khỏi
bệnh; khiến bạn thành công trong việc kinh doanh; giúp bạn
tìm được việc làm; làm bạn giàu có. Khi bạn có một vấn
đề thực sự nghiêm trọng, chẳng hạn như một chứng bệnh
đe dọa sinh mạng, nếu bạn nương tựa Đức Tara, thì rất
thường là bạn sẽ được gỡ ra khỏi vấn đề đó; bạn
sẽ khỏi chứng bệnh đó. Nếu bạn ăn phải chất độc,
nếu bạn nương tựa Đức Tara, chất độc sẽ không làm tổn
hại bạn. Nhờ thực hành các lời cầu nguyện và thần chú
của Đức Tara, những cặp vợ chồng khó có con sẽ có thể
có một đứa con – trai hay gái như họ mong muốn. Đây là
những kinh nghiệm hết sức thông thường. Nhờ các thực hành
Tara, bạn có thể có được mọi hạnh phúc của đời này
mà bạn ước muốn.
Nếu
bạn tụng lời cầu nguyện Hai mươi mốt Đức Tara mỗi buổi
tối một lần thì không thể xảy ra việc bạn bị chết đói
– tôi có thể bảo đảm điều này! Đó cũng là một kinh
nghiệm hết sức thông thường đối với các cư sĩ, tăng
và ni khó khăn về tài chánh và gặp những vấn đề như thế
đã được cứu thoát nhờ thực hành Tara. Trong kinh nghiệm
riêng của tôi, tôi đã từng thấy nhiều trường hợp những
người đã trì tụng và nương tựa Đức Tara và được cứu
thoát khỏi nguy cơ chết sớm vì bệnh tật mà không cần dùng
thuốc.
Ý nghĩa của
TARE
Thần
chú Tara là OM TARE TUTTARE TURE SOHA. Để giải thích
ý nghĩa của TARE TUTTARE TURE: TARE có nghĩa là giải thoát khỏi
samsara (sinh tử). Từ Samsara này có nghĩa là những uẩn: sắc
uẩn, hay thân thể vật lý; thọ uẩn; tưởng uẩn, hành uẩn,
và thức uẩn. Những uẩn này mà cái tôi được quy gán, được
tạo nên bởi những chủng tử ô nhiễm của nghiệp và những
tư tưởng náo động (tư tưởng rối loạn). Dưới sự sai
khiến của nghiệp và những tư tưởng náo động, thức uẩn
trong đời trước xoay tròn tới đời này. Bởi những uẩn
này bị ô nhiễm do chủng tử nghiệp và những tư tưởng
náo động, trong việc gặp gỡ những đối tượng ưa thích
và không đáng ưa, những tư tưởng náo động khác nhau như
tham và sân xuất hiện. Khi chủng tử của những tư tưởng
náo động hiện diện, một lần nữa bạn tạo nghiệp. Nghiệp
và những tư tưởng náo động lại tạo nên thức uẩn để
xoay vòng, hay kết hợp với các uẩn trong đời sau.
Mặc
dù thân thể thô nặng này không tiếp tục sang đời sau, nhưng
thức uẩn thì đi tiếp tới đời sau. Từ đời này sang đời
khác, nó liên tục xoay tròn (luân hồi). Từ đời này sang
đời sau, từ đời trước tới đời hiện tại, thức uẩn
xoay tròn. Nó kết hợp với những uẩn này trong hiện tại,
sau đó hợp nhất với những uẩn trong đời sau. Đây là lý
do tại sao những uẩn này được gọi là samsara (sinh tử),
hay hiện hữu luân hồi.
Vì
thế, TARE cho thấy Mẹ Tara giải thoát chúng sinh khỏi sinh
tử, khỏi nỗi khổ thực sự, hay thoát khỏi những vấn đề.
Bạn có thể liên kết điều này với những nỗi khổ đặc
biệt của nhân loại: sinh, lão, bệnh và tử; gặp những đối
tượng không ưa thích và kinh nghiệm sự thù ghét; không tìm
được những đối tượng ưa thích hay tìm được chúng nhưng
không hài lòng. Cho dù bạn vui hưởng bao nhiêu lạc thú chăng
nữa thì cũng không có sự mãn nguyện. Cho dù bạn theo đuổi
dục vọng tới đâu chăng nữa thì bạn cũng chẳng mãn nguyện
chút nào.
Cũng
thế, chẳng có gì là chắc chắn trong sinh tử. Bạn phải
liên tục lìa bỏ thân xác, và liên tục nhận thân thể khác.
Cũng giống như thế, bạn liên tục kinh nghiệm nỗi khổ của
việc kết hợp với một thân thể khác.
Bà
mẹ trong đời hiện tại của bạn đến từ mẹ của bà,
tức bà của bạn; bà của bạn đến từ bà mẹ khác; và
bà mẹ đó đến từ bà mẹ khác. Cha của bạn thì cũng thế.
Bạn có thể thấy thân thể mà bạn đang có này là một tập
hợp của tất cả tinh dịch và máu huyết đã tiếp tục từ
cha mẹ cho tới con cái trong vô số thế hệ không thể tưởng
tượng nổi từ khi trái đất này tiến hóa, từ khi nhân loại
bắt đầu. Tập hợp của tinh dịch này đi tới bạn qua cha
bạn, ông của bạn, ông cố của bạn, và v.v.. Máu huyết
thì cũng thế, nó đến với bạn qua mẹ bạn, bà của bạn,
và v.v.. Bởi thân thể mà bạn hiện có này là một tiếp
nối của toàn bộ tinh dịch và máu huyết từ tất cả những
chúng sinh này, do đó không có chút thực chất nào để bám
chấp, không có lý do gì để dính mắc vào thân thể này,
vào sinh tử này. Chất thừa thãi từ mọi nhà vệ sinh trong
một thành phố lớn đều tập trung vào một ống cống lớn
– thân thể chúng ta cũng giống như ống cống lớn này.
Bởi
liên tục kết hợp với thân xác như thế, bạn liên tục
kinh nghiệm những vấn đề. Nếu bạn ở địa vị cao, bạn
rơi xuống địa vị thấp. Điều này liên tục xảy ra. Khi
bạn sinh ra, bạn sinh ra một mình không có ai làm bạn đồng
hành; khi bạn chết, bạn cũng chết một mình. Ngay cả thân
thể này cũng không đồng hành với tâm thức; tâm thức phải
đi một mình sang đời sau. Tất cả những điều này là những
vấn đề của nỗi khổ thực sự. Nếu bạn nương tựa vào
Đức Tara bằng cách quy y Ngài và làm những thực hành Tara
– chẳng hạn như trì tụng thần chú hay các bài tán thán
– với TARE, Đức Tara sẽ giải thoát bạn khỏi tất cả
những đau khổ thực sự này.
Ý nghĩa của
TUTTARE
Từ
thứ hai, TUTTARE, giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ hãi. Có
tám nỗi sợ liên quan tới những nỗi nguy hiểm bên ngoài
đến từ lửa, nước, không khí, đất, và cũng từ những
việc chẳng hạn như những kẻ trộm cướp và thú vật nguy
hiểm. Tuy nhiên, những hiểm nguy chính yếu đến từ tham,
sân, si, kiêu ngạo, ganh tỵ, bủn xỉn, nghi ngờ và tà kiến.
Tám tư tưởng náo động này mà bạn có trong tâm là những
nguy hiểm chính yếu. Nhờ nương tựa Đức Tara và thực hành
Tara, bạn được giải thoát khỏi tám nguy hiểm bên trong này,
tám tư tưởng náo động này. Theo cách này, bạn cũng được
giải thoát khỏi những nguy hiểm bên ngoài, bởi những nguy
hiểm bên ngoài này đến từ những tư tưởng náo động bên
trong.
Từ
thứ hai, TUTTARE, giải thoát bạn khỏi tám nỗi sợ, giải
thoát bạn khỏi nguyên nhân thực sự của đau khổ: nghiệp
và những tư tưởng náo động hoàn toàn-sinh khởi. Hoàn
toàn-sinh khởi có nghĩa là những tư tưởng náo động mang
lại mọi khổ đau. Bằng cách nương tựa Đức Tara và thực
hành Tara, bạn được giải thoát khỏi nguyên nhân thực sự
của đau khổ: đây là ý nghĩa của TUTARE.
Ý nghĩa của
TURE
Từ
thứ ba, TURE, giải thoát bạn khỏi bệnh tật. Trong Bốn Chân
lý Cao quý (Tứ Diệu Đế), TURE biểu thị sự ngừng dứt
của đau khổ (Đạo Đế), là Pháp tối hậu. Về mặt giải
thoát khỏi bệnh tật, bệnh tật thực sự mà ta có là sự
vô minh (si) không biết bản tánh tuyệt đối của cái ta, và
mọi tư tưởng náo động phát khởi từ sự vô minh này. Đây
là những bệnh tật thực sự, trầm trọng mà ta mắc phải.
Với sự ngừng dứt tất cả những bệnh tật này của những
tư tưởng náo động, mọi đau khổ thực sự, mọi vấn đề
là hậu quả, cũng được ngừng dứt. Bởi giải thoát chúng
ta khỏi bệnh tật, TURE thực sự giải thoát chúng ta khỏi
nguyên nhân thực sự, những tư tưởng náo động, và cũng
giải thoát ta khỏi những đau khổ thực sự.
Làm
thế nào chúng ta có thể thành tựu Pháp tối hậu này, sự
ngửng dứt thực sự nguyên nhân và kết quả của đau khổ?
Điều gì có thể dẫn dắt ta tới trạng thái này, sự ngừng
dứt đau khổ, là ý nghĩa của TURE? Bạn thành tựu điều
này bằng cách thực hành con đường chân chính. Như được
biểu lộ trong những con đường của Thừa Thấp của các
vị Thanh Văn và Độc Giác, và trong con đường Đại Thừa,
con đường chân chính là trí tuệ trực tiếp nhận thức tánh
Không. Đây là Pháp tuyệt đối. Việc thể nhập trí tuệ
này trong tâm ta dẫn ta tới trạng thái ngừng dứt đau khổ.
Con đường chân chính này được bao hàm trong TUTARE, giải
thoát ta khỏi tám nỗi sợ hãi – từ giải thoát gián tiếp
biểu thị con đường chân chính. Và như tôi vừa giải thích,
từ thứ ba, TURE, giải thoát bạn khỏi bệnh tật thực sự,
là những tư tưởng náo động.
Để
kết luận, nhờ nương tựa (quy y) Đức Tara, làm các thực
hành Tara chẳng hạn như trì tụng thần chú Tara, và thực
hành con đường được bao hàm trong thần chú đó, bạn có
thể thành tựu trạng thái toàn giác với bốn kaya (thân),
là sự ngừng dứt, giải thoát khỏi hai che chướng. Tóm lại,
OM TARE TUTTARE TURE SOHA có nghĩa là “Con đảnh lễ Đấng Giải
thoát, Mẹ của tất cả các Đấng Chiến Thắng.” Tara là
mẹ của tất cả các Đấng Chiến Thắng, hay chư Phật. Tại
sao chư Phật được gọi là các Đấng Chiến Thắng? Đó là
bởi các Ngài chiến thắng hai che chướng.
Mẹ Tara
Đức
Tara được gọi là Mẹ là bởi bà mẹ sinh ra những đứa
con. Ý nghĩa thực sự của Tara là trí tuệ siêu việt của
đại lạc và tánh Không bất-nhị, là trí tuệ thấu suốt
chân lý tuyệt đối và tương đối của mọi sự hiện hữu.
Đây là guru (Đạo sư) tuyệt đối, guru đích thực – và
chúng ta nên thấu hiểu ý nghĩa đích thực này của guru. Mặc
dù chư Phật có những phương diện (diện mạo, hình tướng)
khác nhau và những danh hiệu khác nhau, nhưng tất cả chư Phật
đều được sinh ra từ trí tuệ siêu việt của đại lạc
và tánh Không bất-nhị này, là Pháp thân. Trong thực tế,
mỗi vị Phật là hiện thân của guru tuyệt đối này: một
hiển lộ trong nhiều; nhiều hiển lộ trong một. Guru tuyệt
đối hiển lộ trong tất cả những phương diện khác nhau
này của Phật; tinh túy của tất cả chư Phật là guru tuyệt
đối. Ý nghĩa thực sự của guru, guru tuyệt đối, hiển lộ
trong diện mạo (hình tướng) bình thường là guru chân lý-tương
đối, vị Lạt ma mà từ ngài bạn trực tiếp nhận những
giáo lý.
Như
Khedrup Sangye Yeshe đã giải thích: “Trước guru, thậm chí
danh hiệu ‘Phật’ cũng không có.” Toàn bộ Guru Puja biểu
lộ rằng nền tảng là guru, Pháp thân, trí tuệ siêu việt
của đại lạc và tánh Không bất-nhị. Ngay từ lúc khởi
đầu, trong khi kinh nghiệm đại lạc, chúng ta hiển lộ như
guru-deity (Bổn Tôn-Đạo sư). Ngay cả việc tiền-phát triển
ruộng công đức cũng xuất phát từ đại lạc và tánh Không
bất khả phân, và từ ruộng công đức này chúng ta nhận
lễ nhập môn; chúng ta khẩn cầu được ban phước (gia trì)
để phát triển những chứng ngộ của con đường tuần tự
tới giác ngộ từ lúc bắt đầu cho tới khi chấm dứt; và
chúng ta cũng thực hiện bốn loại cúng dường (ngoài, trong,
bí mật và tuyệt đối). Chúng ta tu hành tâm thức với những
thiền định này, là những gì xuất phát từ đại lạc và
tánh Không bất-nhị.
Trước
tiên chúng ta gặp guru bên ngoài và riêng rẽ. Sau khi nhận
giáo lý, ta lắng nghe, quán chiếu và thiền định về con đường
do guru này biểu lộ. Trên nền tảng của lòng sùng mộ đúng
đắn đối với guru, dần dần chúng ta thể nhập phương cách
chữa trị của con đường và giải trừ những che chướng
của ta. Khi những che chướng của ta hoàn toàn được giải
trừ, chúng ta gặp gỡ guru trong tâm thức.
Trên
nền tảng thể nhập Ba nguyên lý của Con Đường, chúng ta
nhận lãnh bốn nhập môn viên mãn Yoga Tantra Tối thượng,
là những nhập môn chắc chắn gieo trồng những chủng tử
của bốn thân trong tâm thức chúng ta. Điều này cho phép ta
thực hành sự hợp nhất tịnh quang và huyễn thân. Bằng cách
dần dần thể nhập con đường này, chúng ta có thể hoàn
toàn cắt đứt ngay cả quan điểm nhị nguyên vi tế, ngừng
dứt ngay cả những tâm thô nặng của những thị kiến trắng,
đỏ và tăm tối, là những thị kiến còn vi tế hơn những
tâm thức thô nặng vừa đề cập nhưng thô lậu hơn khi so
sánh với tâm vi tế của tịnh quang.
Khi
bạn thành tựu Pháp thân, trí tuệ siêu việt của đại lạc
và tánh Không bất-nhị, bạn đã thành tựu guru (Đạo sư).
Bạn đã thành tựu ước muốn được biểu lộ trong lời
nguyện hồi hướng thường dùng của chúng ta: “Nhờ tất
cả những công đức này cầu mong con nhanh chóng thành tựu
sự giác ngộ của Đức Phật-Đạo sư, và dẫn dắt mỗi
một chúng sinh tới sự giác ngộ của Đức Phật-Đạo sư.”
Trong thực tế, nhờ tu hành tâm thức của bạn trong những
thiền định này, phát triển tâm bạn trong con đường, dòng
tương tục của tâm bạn trở thành dòng tương tục của guru.
Trong tương lai, bạn thực sự trở thành guru mà bạn đã quán
tưởng.
Vì
thế, tất cả chư Phật đều sinh ra từ guru tuyệt đối,
trí tuệ siêu việt của đại lạc và tánh Không bất-nhị,
là ý nghĩa thực sự của Mẹ. Trí tuệ siêu việt này, tâm
vi tế hoàn toàn thuần tịnh này, hiển lộ trong phương diện
(hình tướng, diện mạo) nữ nhân này, là vị được quy gán
là “Tara”.
Thường
thì trẻ con cảm thấy gần mẹ hơn cha. Khi chúng gặp rắc
rối gì, hầu hết trẻ con kêu đòi mẹ chúng. Tôi không hiểu
biết về phương Tây, nhưng ở phương Đông thì ngay cả những
người trưởng thành, khi bị đau khổ hay gặp những vấn
đề nghiêm trọng, họ đều nương tựa mẹ của họ.
Cha
tôi chết khi tôi còn nhỏ, và tôi không nhớ chút gì về diện
mạo của ông. Người ta nói ông có một bộ râu ở cằm,
ông đọc các bản văn rất hay và ít nói. Tất cả những
gì tôi có thể nhớ rõ ràng là chiếc chuba (áo choàng dài)
bằng da cừu của cha tôi. Mọi người trong gia đình ngủ dưới
chiếc chuba vĩ đại ấy – nó là chiếc mền của chúng tôi.
Cả nhà cố gắng để nằm dưới nó. Tôi có thể nhớ điều
đó thật rõ ràng. Tôi được giới thiệu với chiếc chuba
của cha tôi – đó là tất cả những gì tôi nhớ.
Vì
thế mẹ tôi là người lớn duy nhất trong nhà. Chị tôi, vì
lớn hơn một chút, có thể giúp đỡ mẹ tôi chút ít bằng
cách đưa súc vật của chúng tôi ra núi và dẫn chúng về
nhà. Nếu không, những đứa trẻ khác trong nhà – tất cả
có ba đứa, kể cả tôi – thật là vô dụng. Bởi chị tôi
phải trông coi súc vật nên một mình mẹ tôi phải cáng đáng
mọi công việc khó nhọc.
Một
hôm mẹ tôi phải đi vào rừng để lấy củi. Chúng tôi chờ
ở ngoài cửa. Bởi không đứa nào trong chúng tôi có thể
nấu nướng, chúng tôi ra ngoài chờ bà về và cho chúng tôi
ít thức ăn. Bà từ rừng trở về thật muộn với một gánh
củi rất nặng. Sau khi về tới nhà, bà không đốt nổi một
ngọn lửa vì bà bị bệnh, rất đau đớn. Lò không có lửa
và không có thực phẩm. Bà nằm xuống cạnh lò sưởi, kêu
gào mẹ của bà: “Ama! Ama!” Lúc đó bà tôi vẫn còn sống,
ở khá gần chúng tôi, có lẽ khoảng năm hay mười phút đi
bộ.
Ba
đứa chúng tôi – tôi, anh Sangye, và một đứa em khác có
bím tóc nhỏ sau lưng, và sau này đã chết – không biết phải
làm gì. Chúng tôi chỉ ngồi quanh lò sưởi nhìn mẹ tôi. Không
có lửa; không ai trong chúng tôi có thể nhóm lửa. Chúng tôi
chỉ ngồi và nhìn mẹ.
Cũng
giống như thế, bằng cách này hay cách khác, ngay cả những
người đã trưởng thành cũng kêu cầu mẹ của họ khi họ
đau khổ hay gặp vấn đề thật sự nghiêm trọng. Tuy nhiên,
Đức Tara thì còn gần gũi, thân thiết với chúng ta hơn mẹ
của ta.
Ý nghĩa của
OM TARE TUTTARE TURE SOHA
Phương
diện nữ này, Đức Tara, Mẹ của tất cả các Đấng Chiến
Thắng, dẫn dắt bạn và chúng sinh thoát khỏi hiểm nguy của
việc bị rơi vào sinh tử hay Niết bàn thấp, và dẫn dắt
bạn tới trạng thái viên mãn của sự giác ngộ, là trạng
thái được bảo đảm bằng năm trí tuệ siêu việt và bốn
thân.
Nghĩa
thô của ba từ TARE TUTTARE TURE này là: “Đối trước Ngài,
hiện thân những công hạnh của tất cả chư Phật, dù con
ở trong hoàn cảnh hạnh phúc hay bất hạnh, con luôn luôn đảnh
lễ với thân, ngữ và tâm con.”
Mọi
con đường (Thừa Thấp, Đại Thừa, Ba la mật Thừa, Mật
Thừa) từ lúc khởi đầu cho tới khi giác ngộ đều được
bao hàm trong TARE TUTTARE TURE. Phương cách chữa trị của con
đường và mọi che chướng mà nó giải trừ đều bao hàm
trong TARE TUTTARE TURE. Đối với lam rim, TARE là con đường tuần
tự của chúng sinh hạ căn; TUTTARE, con đường tuần tự của
chúng sinh trung căn, và TURE, con đường tuần tự của chúng
sinh thượng căn. Mọi đặc điểm chính của những thiền
định lam rim được bao hàm trong thần chú này. Trong thần
chú TAYATA OM MUNI MUNI MAHAMUNIYE SOHA, MUNI MUNI MAHAMUNIYE cũng có
thể có quan hệ với lam rim theo cách này.
Từ
cuối cùng SOHA có nghĩa là thiết lập cội gốc của con đường
trong tim bạn. Nói cách khác, bằng cách nương tựa Đức Tara
và làm thực hành Tara, bạn nhận lãnh những sự ban phước
của Đức Tara trong trái tim bạn. Điều này cho bạn không
gian để thiết lập cội gốc của con đường, được biểu
thị bởi TARE TUTTARE TURE, trong tim bạn. Bằng cách thiết lập
con đường của ba căn cơ chúng sinh trong tim bạn, bạn tịnh
hóa mọi bất tịnh của thân, ngữ và tâm bạn, và thành tựu
thân linh thánh, ngữ linh thánh, và tâm linh thánh của Đức
Tara, được biểu thị bằng OM. Thân, ngữ và tâm bạn được
chuyển hóa thành thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh
thánh của Đức Tara. Đây là ý nghĩa thô của OM TARE TUTTARE
TURE SOHA.
Quán
tưởng Đức Tara
Khi
bạn trì tụng thần chú, hãy quán tưởng Đức Tara trong không
gian trước mặt bạn, ngang với trán bạn, ở một khoảng
cách vừa phải - khoảng bề dài một thân người. Như tôi
đã đề cập khi giảng nghĩa thần chú, trước tiên hãy nghĩ
tới trí tuệ siêu việt của đại lạc của tất cả chư
Phật, trí tuệ ấy hoàn toàn thấu suốt mọi sự hiện hữu.
Hãy nghĩ tới tâm linh thánh này của Pháp thân, guru (đạo
sư) tuyệt đối. Bởi tâm linh thánh của tất cả chư Phật,
guru tuyệt đối, được ràng buộc bởi lòng đại bi đối
với bạn và tất cả chúng sinh, những người bị ngăn che
và đau khổ dưới sự sai khiến của nghiệp và những tư
tưởng náo động, tâm linh thánh ấy hiển lộ trong thân tướng
nữ nhân đặc biệt này của Đức Tara. Điều này xảy ra
là nhờ lòng bi mẫn. Giống như bạn hành động dưới sự
sai khiến của sân hận và tham luyến, chư Phật làm việc
vì bạn và chúng sinh dưới sự hướng dẫn của lòng bi.
Tâm
linh thánh của tất cả chư Phật hiển lộ trong Đức Tara,
phương diện (hình tướng) nữ nhân này. Diện mạo của Ngài
ra sao? Đức Tara mang tính chất của ánh sáng xanh lục, với
một mặt và hai tay. Ngài có vẻ mặt thật an bình và hơi
mỉm cười. Tóc Ngài đen tuyền, một nửa được búi lên
và một nửa buông chùng, và tô điểm một hoa utpala (hoa sen
xanh) trên đỉnh đầu. Đức Tara trang điểm những vật trang
sức quý giá gồm chuỗi hạt, xuyến, băng tay, và v.v.. Đôi
mắt Ngài tràn đầy thương yêu và bi mẫn, không mở lớn
nhưng hơi tròn và trong sáng. Đôi mắt của Đức Tara biểu
lộ lòng bi mẫn đối với bạn, giống như cái nhìn thương
yêu mà một bàn mẹ gởi cho đứa con thân yêu duy nhất của
bà. Bàn tay phải Ngài cầm một cành hoa utpala, trong ấn ban
những chứng ngộ siêu việt. Bàn tay trái cầm một cành hoa
utpala khác, ba ngón tay hướng thẳng lên biểu thị sự nương
tựa Phật, Pháp và Tăng đoàn.
Với
bộ ngực hoàn toàn bày lộ, Đức Tara trang điểm một
chuỗi hạt quý giá, ngoài ra còn có những vòng hoa quý báu
và những khăn choàng cổ khác nhau. Chân phải của Ngài duỗi
ra, và chân trái co lại. Phía sau Ngài là một đĩa mặt trăng.
Đức Tara tô điểm những dấu hiệu thiêng liêng viên mãn
và những minh họa của một vị Phật. Trên trán Ngài có một
chữ OM trắng, tinh túy của thân kim cương linh thánh; ở cổ
Ngài, một chữ AH đỏ, tinh túy của ngữ kim cương linh thánh;
và ở tim Ngài, một chữ HUNG xanh dương, tinh túy của tâm
kim cương linh thánh.
Từ
chữ OM, những tia cam lồ trắng phóng ra, đập mạnh vào trán
bạn, và đi vào người bạn để tịnh hóa mọi che chướng
và nghiệp tiêu cực bạn đã tích tập với thân bạn từ
những tái sinh tự vô thủy cho tới bây giờ. Từ chữ AH ở
cổ họng của Đức Tara, những tia cam lồ đỏ được phóng
ra và đập vào cổ họng của bạn; mọi che chướng và nghiệp
tiêu cực được tích tập với ngữ của bạn được hoàn
toàn tịnh hóa. Kế đó, từ chữ HUNG nơi tim Đức Tara, những
tia cam lồ xanh dương được phóng ra và đi vào tim bạn; mọi
che chướng và nghiệp tiêu cực được tích tập với tâm
bạn từ những tái sinh tự vô thủy tới nay được tịnh
hóa. Nhờ lòng bi mẫn đối với bạn và tất cả chúng sinh,
Mẹ Tara đã tịnh hóa bạn. Hãy tập trung vào điều này khi
bạn trì tụng thần chú OM TARE TUTTARE TURE SOHA. Hoặc nếu bạn
muốn, bạn có thể quán tưởng Đức Tara trên đỉnh đầu
bạn như trong sadhana Tara ngắn gọn. (2)
Khi
bạn chấm dứt việc thiền định, hãy cầu nguyện Đức Tara:
“Không trì hoãn ngay cả một giây, cầu mong con trở thành
Đức Tara và trong mỗi giây giải thoát vô số chúng sinh khỏi
mọi nỗi khổ của họ và dẫn dắt họ tới sự toàn giác.”
Hãy
cầu nguyện được thành tựu ước nguyện này bằng việc
phát triển Bồ đề tâm, ước nguyện thành tựu Tara vì lợi
lạc của chúng sinh. Bởi bạn không theo đuổi tâm ích kỷ
mà đã chuyển hóa thái độ của bạn thành thái độ sử
dụng đời bạn để phụng sự chúng sinh, giúp họ đạt được
hạnh phúc nhất thời và tối hậu, Đức Tara hết sức hài
lòng bạn. Việc bạn thực hành tư tưởng từ bi của Bồ
đề tâm và giới hạnh, có nghĩa là giữ gìn giới nguyện
của bạn, đã làm Đức Tara vui lòng hơn hết. Những thực
hành Đại thừa cốt tủy này là những món cúng dường tuyệt
vời nhất bạn có thể dâng lên Đức Tara; những thực hành
này đưa bạn tới gần Đức Tara hơn, khiến Ngài nhanh chóng
trợ giúp để mọi hoạt động của bạn được thành công.
Việc Đức Tara cứu giúp bạn nhiều hay ít thì tùy thuộc
vào việc bạn thực hành cốt tủy của giáo lý Đại thừa
tới mức độ nào.
Như
thế, do bởi thái độ Bồ đề tâm của bạn, Đức Tara hết
sức hài lòng bạn; Ngài tan thành ánh sáng xanh lục, đi vào
trán bạn, và thấm nhập vào trái tim bạn. Hãy nghĩ: “Thân,
ngữ và tâm tôi đã được ban phước (gia trì) để trở thành
thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh của Đức
Tara.” Nhờ nhận lãnh những sự ban phước của Đức Tara
với một tâm an tĩnh, sùng mộ, bạn gieo trồng chủng tử
để phát triển tâm bạn và thực sự thành tựu Tara.
Sau
khi thấm nhập, nếu bạn muốn, hãy tập trung nhất tâm vào
bản tánh của tâm linh thánh của Đức Tara. Sau đó hãy kết
thúc thực hành của bạn bằng cách hồi hướng công đức
cho sự phát triển Bồ đề tâm và việc thành tựu Tara của
bạn, để dẫn dắt mọi chúng sinh đạt được giác ngộ
của Đức Tara càng nhanh càng tốt.
Để
truy cập một bản in Những Lời Tán thán 21 Đức Tara bằng
Tạng ngữ và Anh ngữ, xin đọc website của FPMT. (2)
Nguyên
tác: “Tara The Liberator” by Lama Zopa Rinpoche
http://www.lamayeshe.com/lamazopa/tara.shtml
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
Xin đọc: “Ngọn
Đèn Soi Đường Giác ngộ”, bản dịch Việt ngữ của Hồng
Như:
(2)
Xin đọc:
-
“Tán Dương 21 Đức Quan Âm Tara”, Việt, Anh và Tạng ngữ,
bản dịch Việt ngữ của Hồng Như:
-
“Phương
pháp Hành trì Lục Quan Âm, Suối nguồn của Vạn Pháp”, bản
dịch Việt ngữ của Tâm Bảo Đàn và Chơn-Pháp Nguyễu Hữu
Hiệu:
-
“Giọt
Bất tử Tuyệt vời: Pháp Hành trì Mạn đà la Trường thọ
của Đức Bạch Quan Âm” bản dịch Việt ngữ của Tâm Bảo
Đàn:
-
“Hai
mươi mốt Đoản kệ Tán thán Quan Âm” bản dịch Việt ngữ
của Tâm Bảo Đàn:
04-02-2009
04:23:46