Ngược
lại, Uchida Michio khi nghiên cứu về sự hình thành TDK đã
trưng ra liên hệ giữa kinh Phật và TDK ở sự tích tì kheo
Bà Tu Mật Đa (Vasumitra) trong Phật Thuyết Sư Tử Nguyệt Phật
Bản Sinh Kinh. «Tì kheo leo lên cây bắt chước tiêng mi hầu
kêu thì tám vạn bốn nghìn mi hầu lông vàng tụ tập lại».
Trong tiền kiếp, tì kheo tên là Liên Hoa Tạng, thân với quốc
vương và các trưởng giả, nhưng vì trễ nãi việc giữ giới
hạnh phải xuống địa ngục A Tỳ thành ngạ quỉ, ăn sắt
uống đồng, sau tám vạn bốn nghìn năm được đầu thai qua
nhiều kiếp thú vật. Đến khi thành mi hầu thì nhờ giữ
giới mới thành tì kheo, sau là Sư Tử Nguyệt Như Lai. Những
chi tiết «ăn sắt uống đồng», «tám vạn bốn nghìn năm»
đều được thấy ở TDK đời Nguyên dẫn ra trong Phác Thông
Sự Thông Giải và thi thoại đời Minh. Uchida nhân đó kết
luận là câu chuyện Sư Tử Bản Sinh Đàm là nguồn cội trực
tiếp của TNK.
Mô
típ con khỉ tu hành còn thấy trong Tiễn Đăng Thi Thoại (Thính
Kinh Viên Ký) của Lý Trinh đời Minh, qua truyện viết về con
khỉ Viễn Tốn mặc cà sa đi tu thành Phật. Nguyên khúc có
vở Long Tế Sơn Dã Hầu Thính Kinh kể chuyện tương tự. Ngay
cả Thất Thê Ký đã dẫn cũng có chương nói về con khỉ
đến nghe kinh ở Hồng Liên Tự.
Liên
hệ giữa Huyền Trang và Tôn Ngộ Không, hay liên hệ giữa
nhà tu hành, việc lấy kinh Phật và con khỉ cũng đã được
thấy trong bài tựa Đại Nhật Kinh của cao tăng Ấn Độ đến
TQ đời Huyền Tông tên Tu Bà Già La17 (Subhakarashinha, 637-735),
tiếng Hán gọi là Tĩnh Giới hay Thiện Vô Úy qua chuyện con
khỉ mất kinh đi đòi. Ngoài ra, sách Đường Triều Danh Họa
Lục của Chu Cảnh Huyền cũng có nhắc đến bức tranh của
tăng Uất Trì Ất chùa Báo Ân Tự (chùa này có liên lạc mật
thiết với Huyền Trang) vẽ hình 12 bộ chúng của Thiên Thủ
Thiên Nhãn Quan Âm trong đó có có con mi hầu tên gọi Tất
Bà Già La Vương. Isobe Akira phỏng đoán Quan Âm có thể đã
đóng vai môi giới để Huyền Trang và mi hầu gặp gỡ nhau.
Ngoài
những mô-típ về khỉ đã kể ra, chúng ta không quên những
chi tiết trong dân thoại và truyền kỳ có liên quan gần xa
tới hành tung của nhân vật Tôn Ngô Không. Xin đơn cử:
1)
Từ
đá nứt ra: Tôn Ngộ Không có nguồn gốc siêu phàm vì
là con thạch hầu sinh ra từ hòn đá đã hấp thụ tinh hoa
nhật nguyệt. Hình thức sinh đẻ nầy gọi là «lưỡng tính
câu hữu» (androgynous) vì sinh ra từ một vật có cả 2 sinh
thực khí nam nữ cùng lúc. Nó tượng trưng cho mô-típ nguồn
gốc linh thiêng của các nhân vật thần bí. Trong các văn minh
như Maya, Incas, Hi Lap, từ những vùng như Caucase cho đến các
đảo Đại Dương Châu, ta đều thấy mô-típ từ đá sinh ra.
Thần thoại Trung Quốc có nói đến vua Vũ nhà Hạ từ trụ
đá sinh ra. Khải, con của Vũ cũng từ đá nứt chui ra sau khi
mẹ là Đồ Sơn Thị (có thuyết cho chính là Nữ Oa, người
luyện đá ngũ sắc vá trời) hóa đá ở Tung Cao Sơn. Núi Trung
Nhạc (Tung Sơn), vùng Hồ Nam, tương truyền hãy còn dấu hòn
đá tên Khai (Khải?) Mẫu Thạch.
2)
Tái
sinh: Tôn Ngộ Không phá phách tức là đứng về phía chống
đối lại trật tự đã an bài. Việc TNK bị giam trong lò bát
quái và dưới núi Ngũ Hành tượng trưng cho sự chết và tái
sinh. Nếu không như thế, sự trở về «chính nghĩa» để
làm người đi lấy kinh của TNK khó giải thích. Na Tra cũng
phải lóc thịt, trả cha mẹ để sau này trở thành Thiện
Tài Đồng Tử, từ nhân vật phản diện đổi qua chính diện.
3)
Ăn
trộm đào tiên: Truyện Đông Phương Sóc kiếp trước ăn
trộm đào tương truyền có chép trong Hán Vũ Cố Sự. Quyển
sách nói trên đã mất, nhưng Lỗ Tấn tìm lại được dấu
vết ở Nghệ Văn Ngoại Uyển và ghi lại dẫn dụng về sự
tích nầy trong tác phẩm Cổ Tiểu Thuyết Câu Trầm của ông.
4)
Hoa
quả có hình người: Đây là một chi tiết thú vị vì
nó đưa ta tiếp xúc với các dân thoại xa xôi hơn. Lý Thời
Trân đã dẫn dụng trong Bản Thảo Cương Mục từ quyển sách
đã thất lạc tên là Quảng Ngũ Hành Ký truyện củ nhân sâm
đời Tùy Văn Đế có cả tứ chi và biết khóc như người
ở vùng Thượng Đảng (Sơn Tây bây giờ). Sách Dị Uyển cuối
thế kỷ thứ 5 đã nói về những «thảo yêu», loại củ
có hình người. Chúng ta biết củ tượng trưng cho sinh thực
khí nam và đào tượng trưng cho sinh thực khí nữ. Kinh Thi
ví người đàn bà có chồng là «đào yêu», tượng trưng
cho sự sung mãn và phồn thực. Hình tượng quả đào trường
sinh của Tây Vương Mẫu ba nghìn năm mới ra quả như Hán Vũ
Cố Sự kể lại có thể đến từ Đại Thực (Ả Rập), vì
sách Thuật Dị Ký (do người thời Đường mạt mượn tiếng
Nhiệm Phường đời Lương (thế kỷ thứ 6) viết, đã tả
những quả có hình người và còn biết cười nữa. Thực
ra những tin tức nầy đến từ Thông Điển của một người
cuối đời Đường tên Đỗ Hựu, lấy tin từ một thân nhân
tên Đỗ Hoàn. Hoàn đã theo Cao Tiên Chi hành quân ở Trung Á
năm Thiên Bảo thứ 10 (751) và bị bắt cầm tù giải về Damascus
(Syria). Mười năm sau, trở lại cố hương, Hoàn viết sách
Kinh Hành Ký có ghi việc này, nhưng sách đã thất lạc. Không
hiểu quả Hoàn muốn nói là quả gì? Mặt khác, cuối thế
kỹ 13, Chu Mật đã viết Quý Tân Tạp Thức, trong đó có nói
về một thứ quả độc tên gọi «áp bất lư» (yabruh?) đến
từ nước Hồi Hồi. Dù không biết đích xác về quả nầy,
nhưng ta thấy rằng vào thế kỷ 13, giao dịch giữa Tuyền
Châu (Zaytoun) và các nước Nam Á, Trung Cận Đông đã rộng
rãi, và người TQ có dịp nghe những chuyện lạ của các vùng
đất đó.
Con
khỉ Ấn Độ Hanumân đã đến Trung Quốc bằng lối nào?
Khi
khảo sát về sự hình thành của nhân vật Tôn Ngộ Không
(TNK), nếu bỏ qua tác phẩm thi ca trữ tình Râmâyana đến
từ Ấn Độ là một điều thiếu sót. Quyển sách nầy đề
cập đến con khỉ anh hùng Hanumân, (đáng lẽ phải đọc là
Hanumat mới đúng văn phạm). Đã lâu, nhà dân tộc học người
Nhật Kumakata Kumagusu (1867-1941) khi đọc xong Râmâyana, có lần
viết về cảm tưởng rằng Hanumân chắc là tiền thân của
Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký. Hồ Thích trong Tây Du Ký Khảo
Chứng cũng đưa ra thuyết Hanumân chính là tổ tiên của TNK.
Ngược lại, trong một bài giảng về truyền kỳ đời Đường,
Lỗ Tấn đã dựa vào cổ thư đã trình bày ở trên (Sơn Hải
Kinh, sự tích con khỉ Vô Chi Kỳ đã bị vua Vũ khi đi trị
thủy xiềng dưới chân núi Quân Sơn) để chủ trương TNK
trong TDK là một con khỉ hoàn toàn Trung Quốc, và con khỉ bị
giam trong núi nầy có thể là tổ tiên trực tiếp của TNK.
Từ đó, không ai chịu ai, nhưng đa số các nhà nghiên cứu
tán đồng lập luận về ảnh hưởng của Hanumân.
Bàn
về nguồn gốc của TNK, nếu chỉ dựa vào một truyền thuyết
duy nhất, ta sẽ dễ lạc đường. Có thể ta phải chấp nhận
yếu tố «khỉ» là chính yếu trong quá trình hình thành nhân
vật TNK, nhưng không nên dừng lại ở đó. Cho nên, bảo Hanumân
có đóng góp phần nào vào sự thành lập hình tượng TNK có
lẽ thỏa đáng hơn, nhất là trên con đường sang Trung Quốc,
Râmâyana có thể biến dạng vì những khó khăn về phiên dịch
và truyền đạt.
Râmâyana
là tác phẩm thơ trữ tình trường thiên, gồm 7 biên 4 vạn
8 nghìn câu (tụng) do thi tiên Vâlmiki soạn lại vào thế kỷ
thứ 2 bằng Phạn ngữ (Sankrit), từ truyện thơ truyền khẩu
ở Ấn Độ suốt thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 4 trước
công nguyên. Xin tóm lược câu chuyện như sau:
Quốc
vương Dasaratha nước Ayodhyâ có ba vợ. Bà cả Kausalyâ sinh
Râma, bà thứ Kaikeyi sinh Bharata, bà ba Sumitrâ sinh đôi Laksmana
và Satrughna...., tất cả có 6 vương tử. Thái tử Râma, bị
mưu kế của bà Kaikeyi ton hót với vua để giành ngôi cho Bharata,
bị phụ vương bắt phải sống trong rừng với vợ là Sita
và em khác mẹ là Laksmana. Quốc vương Dasaratha chết, Bharata
mời anh về làm vua nhưng Râma không muốn trái mệnh cha, trao
đôi hài vàng để em lên làm vua, hẹn 14 năm sau sẽ trở về
ngôi rồi vẫn ở lại trong rừng. Vì vua quỉ Râvana bắt cóc
vương phi Sita, Râma và em phải lên đường đi tìm nàng. Trên
đường, cứu được vua khỉ Sugrivra, nên vua đền ơn bằng
cách cho quân sư của mình là Hanumân dẫn binh hầu tướng
khỉ giúp sức đi tìm vợ. Hanumân trổ tài thần võ diệt
giặc, đoạt lại được nàng Sita đang bị giam ở đảo Lanka
cho Râma, vừa vặn lúc hết thời hạn ước hẹn 14 năm để
về làm vua trở lại.
Nói
về đặc điểm của Hanumân, theo K.C. Aryan (Hanumân in Art and
Mythology), trước hết là cái đuôi dài (các tượng Hanumân
khai quật được ở miền Nam Ấn Độ cũng xác định điều
đó), dù càng về cận đại, hình tượng Hanumân lại càng
được vẽ cho giống người thêm. Theo hai tác giả Joginder
Narula (Hanumân) và Catherin Ludvik (Hanumân) thì Hanumân thông minh
tài trí, hiểu biết sự vật và thời cơ một cách tinh tường.
Ngoài ra còn biết bay bổng tự do trong không trung, thu giãn
thân thể ngắn dài như ý muốn, và có thể biến hóa thành
người. Những chi tiết nầy có thể tăng thêm sức thuyết
phục cho lập luận của Minakata Kumagusu và Hồ Thích, xem Hanumân
là tổ tiên của TNK. Thế nhưng, Râmâyana đã đưa Hanumân
vào Trung Quốc bằng đường nào?
Đường
bộ phía Bắc theo kinh Phật?
Minakata
Kumagusu cũng cho biết tăng nhân người Sogdian (Khang Cư, dân
tộc vùng Trung Á, gốc Ba Tư) Khang Tăng Hội đến Trung Quốc
vào cuối thế kỷ thứ 3 có kể sơ về truyện Râmâyana khi
dịch Lục Độ Tập Kinh, trong đó có truyện hầu vương sai
quân lấy đá lấp biển để cứu một vương phi bị rồng
bắt giam trên đảo. Ngoài ra, Minakata còn nói đến vị tăng
người Kashmir tên Bạt Trừng đã dịch một đoạn Râmâyana
vào cuối thế kỷ thứ 4 với mục đích chống việc sát sinh
gây ra bởi chiến tranh. Truyện Râmâyana còn được nhắc tới
vào hậu bán thế kỷ thứ 5 bởi hai nhà tu ngoại quốc Kiết
Ca Dạ (Kimkaryâ?) và Đàm Diệu trong bản dịch Tạp Bảo Tàng
Kinh, nhưng ngoài việc ca tụng tấm gương trung hiếu của La
Ma thái tử (Râma ) và hoàng tử Bà La Đà (Bharata), không hề
nhắc tới Sita lẫn Hanumân. Nói chung, những bản dịch kể
trên đều không thấy nói đến tài nghệ tuyệt luân của
Hanumân, điểm mà chúng ta chú mục.
Đến
nay, vẫn chưa thấy bản Râmâyana chữ Hán nào nói đến tài
nghệ của Hanumân. Nếu có thì đã thất lạc đâu chăng? Chỉ
biết gần đây, người ta đã phát hiện được bản dịch
Râmâyana ra tiếng Khotan18 và bản văn tiếng Tây Tạng tìm
ra ở thạch động ở Đôn Hoàng (Tunhuang)19, cả hai đều miêu
tả sức mạnh thần thông của Hanumân. Do những điều kiện
địa lý và lịch sử mà ta không còn lạ gì, có lẽ người
Trung Quốc đã tiếp xúc với văn bản viết bằng hai thứ
tiếng trên. Và ta còn có thể giả định rằng những chi tiết
thú vị về sức thần thông của Hanumân nếu không truyền
qua văn bản thì vẫn truyền miệng qua lời kể giữa dân chúng
trong lúc thông thương và giao lưu với nhau, lại hòa quyện
với những cổ tích, dân thoại, Phật điển... về khỉ vượn
đã có sẳn từ lâu đời và rất phong phú ở Trung Quốc.
Hình
tượng con khỉ biết bay có lẽ gây ấn tượng nhiều nhất.
Nhà nghiên cứu Nhật Bản Torii Ryuzô chụp lại bản họa trên
đá đào được trong một ngôi mộ đời Liêu khắc cảnh được
phỏng đoán là «cuộc gặp gở đầu tiên giửa hai thầy trò
Huyền Trang»: một người đầu, tóc, mặt như khỉ, quần
áo chiến đấu, ở trên mây trong tư thế cân đẩu vân, một
người đứng phía dưới chắp tay như bái vọng. Triều Liêu
đã bị diệt vong từ năm Tuyên Hòa thứ 7 đời Tống (1125),
hơn nữa ngôi mộ nầy nằm mãi ở An Sơn (Mãn Châu) và tướng
mạo người mặt khỉ trên mây lại giống Thâm Sa Thần đã
hiện ra và trợ giúp cho Huyền Trang khi đói lạnh ở Lưu Sa
Hà hơn là giống Tôn Ngộ Không (vì mồm không dẩu ra như
khỉ mà tóc lại dựng ngược) nên sử liệu của Torii thật
quá «ngon» để có thể tin.
Nhân
vật Hầu Hành Giả trong thi thoại đời Tống thì đúng là
tiền thân của Tôn Ngộ Không, nhưng trong các tích nầy, có
lẽ vì quá ít yêu quái nên không trổ được hết thần thông
chăng20? Đến bản TDK đời Nguyên mà thông sự họ Phác trích
dẫn trong Phác Thông Sự Ngạn Giải thì đã thấy TNK bay trên
không trung, thần thông biến hóa, trừ yêu diệt quái, đúng
là TNK mà chúng ta mong đợi.
Không
thể phủ định việc Hanumân trong Râmayana đã ảnh hưởng
đến sự thành lập hình tượng nhân vật của Tôn Ngộ Không,
nhưng ta chưa trả lời được câu hỏi tại sao đã theo đường
kinh Phật vào Trung Quốc sớm thế mà Râmâyana lại nằm im
lìm suốt mấy trăm năm, và phải đợi đến đời Tống, đời
Nguyên mới thức dậy để bắt đầu ảnh hưởng vào truyện
Tây Du. Như vậy, giả định về giai thoại truyền khẩu về
Hanumân của tôi cũng không đúng nốt. Chỉ còn một lối giải
thích: có một Hanumân sinh động hơn là trong kinh điển đã
vào Trung Quốc giữa đời Tống và Nguyên, và lần nầy, bằng
đường thủy!
Vâng,
đường thủy đó là đường Nam Hải để đổ bộ lên Tuyền
Châu tỉnh Phúc Kiến.
Đường
thủy phía Nam theo nghệ thuật dân gian?
Râmâyana
đi từ Ấn Độ băng qua Trung Á rồi lên phía Bắc như ta đã
biết, nhưng lại theo một đường khác đi xuống miền Nam
theo ngả Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Căm Bốt, Lào, Việt
Nam, Mã Lai... Nó không những truyền đi bằng văn dịch nhưng
còn qua bích họa ở các chùa chiền, tuồng kịch, ca vũ, sân
khấu bóng ảnh (theater of shadow picture, theater of silhouette),
nghĩa là rất nhiều hình thức nghệ thuật dân gian khác nhau
và thay hình đổi dạng theo thể tài và ngôn ngữ được sử
dụng.
Nhiều
khi Râmâyana thay đổi đến mức lạ lùng như trong bản Tích
Lan, trong đó, Sita không những thuận tình đi theo quỉ vương
Râvana về đảo Lanka21 sống sung sướng mà khi con khỉ Vâlin
(?) đến kiếm mình còn cho bắt và đốt cháy đuôi. Có lẽ
vì Lanka là quốc hiệu của Tích Lan (Sri-Lanka) nên người ở
đây không thích thú gì khi thấy Sita sống trên đảo mình
mà cứ khóc than nhớ chồng. Trong bản Miến Điện, Me Thilda
(Sita) không bị Datagiri (vua quỉ Râvna) bắt về đảo Lanka
mà lại đem về kinh đô của Miến thời đó ở núi Popa. Hanumân
đi đến đó cứu, nhưng khi về lại bị cho lọt xuống hồ
Inpaung22.
Vào
thế ký thứ mười, Râmâyana đã được dịch ra văn tự gốc
Phạn gọi là Kawi ở Java23 và các điêu khắc tráng lệ về
đề tài truyện nầy24 còn được giữ lại trên đảo. Bản
Râmâyana ở Thái Lan có tên là Ramakian25, bản Căm Bốt tên
là Reamker26. Điêu khắc về những truyện nầy có thể xem
ở các chùa (Vat) như Vat Paraoke và Vat Po ở Thái, và trên tường
Angkor Vat và các Bayon ở Căm-Bốt. Còn ở Lào27, Râmâyana đã
được truyền vào từ thế kỷ thứ 7 và Lào vẫn còn giữ
được nhiều bích họa liên quan đến nó ở Vat Pa Ke và Vat
Mai, hai ngôi chùa ở thủ đô Luang Prabang. Ngoài ra, Râmâyana
cũng đã được truyền đến những nước khác trong vùng Đông
Nam Á28 như Phi Luật Tân29 và Mã Lai30…
Riêng
trong Râmâyana của Lào có một chi tiết đặc biệt là Hanumân
lúc nhỏ thấy mặt trời ngỡ là trái cây, bay lên chực hái
ăn nhưng bị lửa đốt cháy tiêu31. Thần mặt trời Surya thương
tình lấy một sợi lông khỉ chưa cháy hết tái tạo thân
thể cho và sai đi giúp Pa Lam (Râma Lào) đi tìm nàng Pommachak
(Sita Lào). Điều nầy khác với nguyên bản Ấn Độ cho rằng
khi bay lên lấy mặt trời, Hanumân bị thiên lôi đả rơi xuống
đất.
Đưa
ra những tình tiết ấy để thấy rằng có một Râmâyana sống
động và phong phú hơn ở vùng biển Nam mà các thương nhân
từ đời Nam Tống đến đời Nguyên xuôi ngược buôn bán
vùng nầy đã du nhập từng mẩu một về Trung Quốc, qua căn
cứ địa của họ, cảng Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến.
Tuyền
Châu (Zaytoun), quê hương Tôn Ngộ Không?
Ai
cũng biết bối cảnh của Tây Du Ký là con đường thỉnh kinh
từ Trường An qua Trung Á theo Con Đường Lụa nghĩa là vùng
núi non sa mạc Tây Bắc Trung Quốc với phong cảnh hùng vĩ
và khí hậu khắc nghiệt. Tuy vậy, nguồn gốc của câu truyện
có thể nằm mãi ở Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, miền Giang
Nam thơ mộng. Nhiều sự trùng hợp đã khiến ta nghĩ là Tôn
Ngô Không đã chào đời ở đây.
Bảo
tàng viện Đại Học Hạ Môn (Amoy University) ở Tuyền Châu
trưng bày rất nhiều mộ bia viết chữ Ả-Rập, Paspa và Tamil
đào được trong tỉnh, nhiều trụ đá đền thờ Ần Độ
Giáo chạm hình khỉ. Người nước ngoài (Ả Rập, Ấn Độ,
I-ta-li-a, Ac-mê-ni, Thổ) đã đến buôn bán ở đây từ lâu
đời. Ta biết người Ả-Rập sống thành phiên phường, như
một hình thức tô giới và có cả nghĩa trang riêng. Tự đời
Tống đến đời Nguyên, Tuyền Châu đã có nhiều đền thờ
Hồi Giáo và Ấn Giáo, được gọi chung là phiên phật tự.
Trụ đá đào được năm 1947 ở Thông Hoài Môn, chân thành
Tuyền Châu, có tạc hình con khỉ đuôi dài mà người ta đoán
định là Hanumân bởi vì tay khỉ cầm một búp lá giống một
loại dược thảo. Chi tiết này có thể quan trọng vì phù
hợp với sự tích Hanumân lên núi hái thuốc về chữa bệnh
cho anh em vương tử Râma thấy trong Râmâyana. Những hình chạm
nổi ở Đông Tây Tháp, chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu, về
Hầu Hành Giả, Tam Tạng Pháp Sư và Lương Vũ Đế chứng tỏ
có bàn tay của người Ấn Độ32. Nếu Hanumân xuất hiện
trên điêu khắc thì sự tích về nó cũng đã được truyền
miệng, vì sự tích Râmâyana là câu truyện nằm lòng của
nam phụ lão ấu Ân Độ, và quần chúng Trung Quốc thuở ấy
chắc phải thích thú trước những chi tiết như chuyện con
khỉ biết bay.
Phúc
Kiến có nhân duyên gì với Tây Du Ký mà thi nhân người Bồ
Điền thuộc Phúc Kiến như Lưu Khắc Trang (1187-1269) đã sớm
vịnh về đề tài «Đi lấy kinh, khổ thân Hầu Hành Giả»,
vì sao Bạch Viên Truyện trong truyền kỳ nói về con vượn
háo sắc đã mượn bối cảnh miền núi Mai Lĩnh giữa Quảng
Đông và Phúc Kiến, và câu chuyện «con khỉ bị giam» được
truyền tụng rộng rãi trong tín ngưỡng dân gian suốt từ
Phúc Kiến đến Quảng Đông?
Địa
danh Phúc Kiến có hơi hướm TDK. Sách địa lý tự thời Nam
Tống như Dư Địa Kỷ Thắng của Vương Tượng Chi (soạn
năm Bảo Khánh thứ 3 tức là 1227), quyển 128 đến 135 nói
về cảnh vật Phúc Kiến Lộ đã ghi những cái tên phảng
phất hương vị Tây Du như Cửu Long Trì, Vương Mẫu Trì (cả
2 đều thấy trong thi thoại), Phi Hầu Lĩnh, Bàn Đào Đảo,
Túc Viên Động, Linh Thứu Sơn, Bồ Tát Nham, Quan Âm Thạch,
La Hán Nham… Đến đời Minh, trái lại, ảnh hưởng TDK đã
đi ngược vào trong địa danh Phúc Kiến. Mân Thư của Hà Kiều
Viễn, soạn năm Sùng Trinh thứ tư (1631) có ghi lại những
cái tên chịu rõ rệt ảnh hưởng TDK như Tiên Viên Thạch,
Thiết Bản Chướng, Thủy Liêm Động, Ngọc Hoa Động…
Thêm
vào đó, có chứng cứ về các sự tích có phong vị Tây Du
truyền từ phương Nam còn ghi lại trong sách vở Nam Tống.
Ví dụ truyện về hai người con gái đẹp sinh ra từ hòn đá
ở một vùng giữa Chân Lạp và Chiêm Thành (có lẽ nay là
ở biên giới Lào và Việt Nam) làm cho vua hai nước tranh giành
rồi đánh nhau. Truyện ấy tên là Bà Luật Sơn Mỹ Nữ, chép
trong Di Kiên Chí của Hồng Mại đời Nam Tống. Bà Luật Sơn
ở đâu thì có sách cho biết là «trên đường từ Thiên Trúc
trở về, đi mất 10 tháng thì đến Bà Luật Quốc» (nhưng
có thể 2 địa danh trùng hợp vì đồng âm là Bà Luật). Chuyện
nầy có liên quan đến một sự thực lịch sử là chiến tranh
giữa Chân Lạp và Căm Bốt thời Angkor.
Di
Kiên Chí còn chép chuyện Tôn Diễn Khứ Hầu Yêu. Chùa Năng
Nhân Tự ở Phúc Kiến có thờ Hầu Vương Thần. Thần này
được một trưởng lão tên Tôn Diễn cảm hóa nên không tác
hại người trong hạt nữa. Tuy chi tiết nầy không hẳn liên
quan đến Tôn Ngộ Không, nhưng cũng không xem nhẹ liên hệ
giữa truyền thuyết về Hầu Vương với TDK và với tín ngưỡng
dân gian tỉnh Phúc Kiến.
Cũng
trong Di Kiên Chí, có chuyện Hầu Tướng Quân ở phủ Lâm An
đời Nam Tống đi hỏi vợ. Hầu Tướng Quân «biết bay như
chim, biến được ra to lớn, cánh như cánh dơi». Có người
tên Triệu Ngạn Thành theo đó mà viết Phi Hầu Truyện, và
chữ phi hầu đã trở thành một hình tượng quen thuộc trong
thi văn. Con hầu trong Râmâyana bay qua biển để cứu vợ người
(Hanumân bay qua biển đến đảo Lanka để cứu nàng Sita) chắc
được dân chúng Trung Quốc có cảm tình hơn là con vượn
bắt cóc vợ người (như bạch viên cướp vợ Âu Dương Hột)
trong dân thoại của họ. Có thể từ đó họ kết hợp hình
tượng phi hầu nầy với con khỉ thần thông trong Râmâyana
dễ dàng hơn để tạo ra nhân vật Tôn Ngộ Không chăng?
Từ
biến văn tới tiểu thuyết
Hình
thức văn học nào đã tạo ra thuyết thoại, thi thoại, kịch
bản rồi tiểu thuyết TDK có hương vị Phật Giáo như thế?
Có lẽ biến văn đã làm phận sự nối kết kinh Phật với
văn học đại chúng bởi vì như ta biết, biến văn và biến
tướng đồ (gọi chung là Biến) là những tư liệu mà các
tục giảng tăng dùng vào việc thuyết giáo bằng truyện kể
dễ hiểu cho người bình dân. Biến văn được tìm ra rất
nhiều từ các hang động ở Đôn Hoàng (như Thiên Phật Động
ở Mạc Cao Động) từ sau những chuyến thám hiểm của Stein33
và Pelliot34. Ví dụ một biến văn dịch ra Hán ngữ rất được
dân chúng TQ yêu chuộng (có lẽ vì hợp với chữ Hiếu trong
Nho Giáo) là Đại Mục Kiền Liên Minh Gian Cứu Mẫu Biến Văn
(gọi tắt là Mục Liên Biến Văn) nói về việc Mục Kiền
Liên hay (Maha) Maudgalyâyana, một trong mười đại đệ tử
của Thích Ca đã lên trời, xuống địa ngục, phấn đấu
gian khổ hết chuyện này đến chuyện khác để tìm phương
cứu mẹ (xem bản Hán văn Vu Lan Bồn Kinh, dịch từ Trúc Pháp
Hộ hay Dhamaraksa vào thế kỷ thứ 4). Tuy trong kinh Vu Lan không
có chuyện TNK, nhưng hình thức văn học với văn nói dễ hiểu
(Bạch) và âm điệu du dương của văn vần (Xướng) kèm theo
tranh vẽ trên bích họa hay họa quyển (Đồ) có sức thu hút
và thuyết phục người ta rất lớn.
Tuy
vậy gần đây, tôi đã tìm ra dấu vết chính trong các biến
văn cho biết Mục Liên chính là hóa thân của mi hầu. Sách
Tứ Thú Nhân Duyên hiện tàng ở Bảo Tàng Viện Quốc Gia Paris
có chép câu chuyện bốn loài súc sinh biết giữ tôn ti trật
tự là chim, thỏ, mi hầu và tượng; lại nhắc lời Như Lai
«mi hầu tức Đại Mục Kiền Liên». Điều này lại từng
được nói sơ qua trong quyển thứ 7 của Đại Đường Tây
Vực Ký do Huyền Trang viết.
Kết
luận của người biên dịch:
Để
tóm tắt quá trình hình thành nhân vật Tôn Ngộ Không trong
truyện Tây Du theo ý kiến nhà nghiên cứu Nakano Miyoko, ta có
thể nói nó là diễn biến của 4 mô-típ dân thoại chính trong
dòng thời gian:
1)
Mô típ con khỉ háo sắc cướp đàn bà (muốn được bằng
người)
2)
Mô típ con khỉ phá phách và bị giam cầm
3)
Mô típ con khỉ tu học và đi tìm kinh
4)
Mô típ con khỉ thần thông biết đằng vân (muốn vượt phận
người)
Đó
là một quá trình dài và rộng. Dài 18 thế kỷ với sự «đóng
góp» của nhiều «tác giả», suốt khoảng thời gian từ đầu
đời Hán (BC 202) đến cuối đời Minh (1644), kể từ lúc có
Sơn Hải Kinh (chuyện vua Vũ xiềng con vượn dưới núi Quân
Sơn) và cũng là khi Phật Giáo truyền vào Trung Quốc, cho đến
khi Tây Du Ký bản đời Minh ra đời năm 1592 (với nhân vật
trung tâm là Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không). Rộng vì
nó đi từ Ả- Rập, Ấn Độ đến Trung Quốc, lúc xuyên sa
mạc Trung Á, lúc vượt vùng biển Nam Hải.
Con
khỉ thần thông Hanumân của dân thoại đã từ Ấn Độ đến
Trung Quốc, nhào trộn với thần tích về khỉ vượn, linh
thú trong dân thoại và truyền kỳ sở tại, hài hòa với tư
tưởng Nho-Thích-Lão, được ghi lại qua biến văn, thi thoại,
thuyết thoại, hí khúc, cuối cùng ngưng đọng ở tiểu thuyết
chương hồi, để trở thành Tôn Ngộ Không. Qua việc khăn
gói lên đường thỉnh kinh, lão Tôn lại về tới cố hương
Ấn Độ. Như thế, Tôn Ngộ Không đã đi trọn một chu kỳ,
hoàn thành giấc mơ phản kháng và vượt-khỏi-thân-phận mà
dân gian đã ký thác nơi mình.
NAKANO
MIYOKO
Nguyễn
Nam Trân biên dịch và chú thích
Tokyo,
20 /09/2003
Cước
chú:
1 Dân
thoại, chữ mới mượn đỡ từ minwa của Nhật để chỉ
truyện dân gian (folk tale, conte populaire, conte folklorique), đối
tượng của dân thoại học, một lãnh vực nằm trong lòng
dân tục học (Folklore), dân tộc học (Ethnology) và văn hóa
nhân loại học (Cultural Anthropology).
2 Với
cách đánh giá con người qua tính cách tượng trưng của nhân
vật trong TDK, ví dụ Huyền Trang là nhân tính, Bát Giới là
Nhãn, Bạch Mã là Ý Chí, Ngộ Không là Tâm (tâm viên ý mã),
Ngộ Tĩnh là Nộ vv…chẳng hạn.
3 Một
trong 4 châu nằm giữa biển và bao theo bốn hướng Đông Tây
Nam Bắc quanh ngọn Tu Di Sơn, trung tâm của thế giới trong
vũ trụ quan Ân Độ. Tất cả được "niềng" bằng vòng đai
của Thiết Vi Sơn và được đặt lần lượt trên một cái
bệ tròn 3 bậc (Kim Luân, Thủy Luân và Phong Luân) theo thứ
tự từ nhỏ đến lớn.
4 Xem
chú 3
5 Ngô
Thừa Ân (1506?-1582?), tự là Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương Sơn
Nhân, người phủ Hoài An, tỉnh Giang Tô. Ông sinh năm Chính
Đức nguyên niên (1506) đời Minh (có nhiều thuyết khác như
1500, 1505, 1510, 1511) và mất năm Vạn Lịch thứ 10 (1582) hay
11 (1583). Bản TDK Thế Đức Đường phát hành ước chừng
10 năm sau ngày ông mất, và Hoài An Phủ Chí (ra đời khoảng
năm Thiên Khải 1621-27), quyển 19, Nghệ Văn Chí, Hoài Hiền
Văn Mục, chép Ngô Thừa Ân có viết Xạ Dương Tập, Xuân
Thu Liệt Truyện Tự, Tây Du Ký. Những điều này xem ra không
có gì phi lý hay mâu thuẫn nhưng chưa giải đáp hết các nghi
vấn trong học giới.
6 Khâu
(Khưu) Xử Cơ (1148-1227), tức Trường Xuân Chân Nhân, đạo
sĩ phái Toàn Chân, đã được Thành Cát Tư Hãn mời đến
Samarcand trên đường viễn chinh để giảng thuật trường
sinh bất tử. Đệ tử là Lý Chí Thường về sau đã in lại
tập du ký về chuyến đi này.
7 Bản
Chu Đỉnh Thần tự cho là đỉnh khiết (khắc) muốn nói là
bản chính thức, bản quyết định, gần với một "tổ bản"
(old text) TDK đời Minh có tên là (Tây Du) hay (Tam Tạng) Thích
Ách (Ni) Truyện nhất, trong khi bản Thế Đức Đường và Dương
Chí Hòa chỉ ghi là Tân Khắc hay Tân Khiết (bản in mới của
tổ bản) nhưng lại ra đời sớm hơn. Hiện tổ bản chưa
tìm ra nên nguồn gốc TDK đời Minh chưa tiện bàn cãi thêm...
8 Lý
Thời Trân cho rằng "hình dáng con hầu này giống Hồ nhân
nên gọi là Hồ Tôn".
9 Truyền
kỳ là tên gọi một loại tiểu thuyết ngắn bắt đầu từ
đời Đường, kể những sự việc lạ lùng. Sau được dùng
để gọi rộng ra cho cả tạp kịch đời Nguyên cũng như những
kịch bản ở phía nam Trung Quốc thời Minh và Thanh.
10Trong
Bản Thảo Cương Mục, viên được phân biệt với nhung tức
nhu (tay dài, đuôi dài) độc, tinh tinh (cùng là tay dài, đuôi
ngắn), dã nhân (tay ngắn, đuôi dài), hầu (tay ngắn, đuôi
ngắn)...
11
G.H. van Gulik, Gibbon in China.
12
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất tận (Lý Bạch), Thính viên
thực hạ tam thanh lệ (Đỗ Phủ)
13
Liên hệ đến cấm kỵ (tabou) về hôn nhân khác giống và
huyễn tưởng về những nước thuần nam hay thuần nữ có
thấy trong TDK (Tây Lương Nữ Quốc) hay Hoài Nam Tử (Trượng
Phu Quốc, Nữ Tử Quốc).
14
Trong TDK, chuyện yêu quái bắt từ công chúa đến con gái lương
dân về làm vợ nhiều không kể hết (phụ chú của NNT).
15
Nước cuối cùng thời Nam Bắc Triều đóng đô ở Kiến Khang
(Nam Kinh bây giờ), vùng Giang Nam, do Vũ Đế Trần Bá Tiên đoạt
từ Lương Kính Đế. Đến đời Hậu Chủ bị Tùy Văn Đế
diệt (557-589) (phụ chú của NNT).
16
Theo Vương Sung đời Hán trong Luận Hành, Vật Thế Biên, Thân
có nghĩa là Khỉ, Dương là Đực.
17
Một trong 4 người được tặng danh hiệu Tam Tạng Pháp Sư
đời Đường. Ngoài Huyền Trang, còn Nghĩa Tĩnh (635-713), Kim
Cương Trí (Vajrabodhi, 662?-741?), Thiện Vô Úy (nói trên), và
Bất Không (Amoghavajra, 705-774?), đều là cao tăng trứ danh,
giỏi cả ba tạng tức Kinh, Luật, Luận).
18
Xem thêm H.W. Bailey, The Rama Story in Khotanese là bản dịch ra
Anh ngữ và giới thiệu tư liệu này.
19
Xem thêm F.W. Thomas, A Ramayana Story in Tibetan from Chinese Turkestan
hay M. Lalou, L’histoire de Rama en tibétain, Bibliothèque Nationale
de Paris, hay J. W. de Jong, An Old Tibetan Version of Ramayana và The
Tunhuang Manuscripts of the Tibetan Ramayana…
20
Ta có thể hơi thất vọng vì trong 6 hồi đầu của Tây Du,
TNK thần thông đến thế mà khi thỉnh kinh cứ phải luôn luôn
cầu cạnh sự giúp đỡ của người khác, nhất là chư Phật
(phụ chú của người dịch).
21
Xem C.E. Godakumbura, The Ramayana. A Version of Rama’s Story from Ceylon.
22
Xem thêm J.P. Connor, The Ramayana in Burma.
23
Tham khảo C.H Hookaas, The Old-Javanese Râmâyana.
24
Tham khảo W. Stutterheim, Râma-Legenden und Râma-Reliefs in Indonesia
25
Tham khảo Subhadradis Diskul, The Ramakian và J.M. Cadet, The Ramakien
26
Tham khảo Judith M. Jacob, Reamker.
27
Tham khảo Kamala Ratman và H.Deydier, The Ramayana in Laos.
28
Tham khảo V.Raghavan (biên tập), The Ramayana Tradition in Asia và
R. S. Iyengar (biên tập), Asian Variations in Ramayana.
29
Tham khảo J.R. Francisco, The Ramayana in the Philippines.
30
Tham khảo A.Zieseniss, Die Rama-Sage bei den Malaien.
31
Làm ta liên tưởng tới Icarus và Prometheus trong thần thoại
Hy Lạp?
32
Xem thêm Nakano Miyoko, Tam Tạng Pháp Sư.
33
Tiến sĩ A. Stein, người Anh, đã 3 lần thám hiểm miền Tây
Vực hồi đầu thế kỷ 20 (1900-1916), phát hiện nhiều di tích
và văn thư Phật Giáo giá trị mở đường cho khoa Đôn Hoàng
Học. Xem thêm trứ tác A. Stein, Ruins of Desert Cathey, 2 vols, Oxford,
1921 và A. Stein, On Ancient Central-Asian Tracks, Oxford, 1933 (phụ
chú của NNT theo K. Nagasawa, Silk Road, Tokyo, 1993)
34
P. Pelliot, người Pháp, năm mới 28 tuổi đã cầm đâù đoàn
thám hiểm vùng Thiên Sơ n Nam Đạo (1906-1908), thu thập đư
ợc nhiều văn thư giá trị ở thạch động Đôn Hoàng. Xem
thêm P. Pelliot, Trois ans dans la Haute-Asie (Conférence, Bulletin du
Comités de l’Asie francaise, 1910) (phụ chú của NNT theo K. Nagasawa,
Silk Road, Tokyo, 1993).
Source:http://www.hopluu.org/HL77/nguyennamtran.htm
Bài
Đọc Thêm:
Sự
thật về Thầy Trần Huyền Trang tức "Ðường Tam Tạng"
đi
Tây Phương thỉnh kinh, Vương Hồng Sển
Kết
thúc của "Tây Du Ký", sự chống lại đạo đức, Thích Nhật
Từ
Đường
Tam Tạng Thỉnh Kinh, Võ Đình Cường
Bàn
Về Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, Thích Chơn Thiện
60
Gia đình chúng tôi được xem bộ phim
Tây Du Ký, hầu như ai cũng cảm thấy
thích thú và tiếp cận được phần nào Phật giáo qua bộ
phim này. Riêng tôi có nhận xét ngược lại: Bộ
phim đã có nội dung xuyên tạc và bôi bác Phật giáo, thí
dụ như hình ảnh Ðức Phật dùng thần thông chụp năm quả
núi lớn đè xuống mình Tôn Ngộ Không một cách thiếu từ
bi rồi liền quay lại hớn hở nhìn cô Hằng Nga ca múa và
hình ảnh ngài Ca Diếp và ngài A Nan, hai đại đệ tử của
Ðức Phật, đòi “hối lộ” vàng bạc mới cho thỉnh bộ
kinh mang về Trung Hoa. Và cuối cùng ngài Đường Tăng
đã phải hối lộ chiếc bình bát bằng vàng do vua trao tặng
để đổi lấy bộ kinh đem về nước. Vậy xin ban biên tập,
nếu có thể được, hoan hỷ cho chúng tôi biết ý kiến về
bộ truyện cũng như bộ phim Tây Du Ký này. Xin cảm ơn
ban biên tập trước.. 