Trước
Thềm Chánh Điện
Tôi
noi theo con đường đưa đến tu viện Chakpori, tu viện này
vừa là một đạo viện vừa là một trường y khoa có tiếng
là kỹ luật rất cao. Tôi đi bộ vượt qua mấy cây số đường
trường dưới ánh sáng bình minh mỗi lúc càng tỏ rạng. Đến
ngoài cổng lớn đưa vào sân mặt tiền của tu viện, tôi
gặp hai thiếu nhi khác cũng như tôi đến xin được thu nhận.
Chúng tôi nhìn nhau một cách dè dặt, nhưng không ai nói với
ai một lời nào. Chúng tôi định bụng là hãy tỏ ra lịch
sự với nhau nếu chúng tôi sẽ cùng thụ huấn trong một tu
viện.
Chúng
tôi gõ cửa một cách e dè cùng một lúc nhưng không ai trả
lời. Một bạn đồng cảnh ngộ của tôi lúc ấy cúi xuống
lượm một viên đá lớn đập vào cửa cổng để làm cho
người ta chú ý. Một vị sư sãi xuất hiện, tay cầm một
cây gậy lúc đó chúng tôi sợ sệt đến nổi tưởng chừng
như cây gậy to lớn bội phần. Vị sư sãi cất tiếng hỏi:
- Chúng
bây muốn gì, lũ tiểu quỷ? Chúng bây tưởng rằng tao không
có việc gì làm khác hơn là phải mở cửa cho những lũ tiểu
yêu như tụi bây sao?
Tôi
đáp:
- Chúng
tôi muốn trở nên tu sĩ.
- A!
Tu sĩ? Tụi bây giống như lũ khỉ thì đúng hơn. Hãy đứng
đợi tại đây, vị Chưởng Môn đoàn Sơ Cơ tiếp chúng bây
khi nào Người có thời giờ.
Cánh
cửa lớn đóng sầm lại rất mạnh, và một bạn đồng đội
với tôi vô ý đứng gần bên suýt nữa bị té ngã. Chúng
tôi ngồi xuống đất vì đứng lâu đã mỏi chân. Lác đác
có vài người đã vào tu viện. Một mùi đồ ăn xào nấu
ngon lành từ nhà bếp bay lọt ra ngoài cửa sổ và phảng phất
trong không khí, làm cho tôi cảm thấy như chịu một cực hình
vì cơn đói bụng mỗi lúc càng tăng. Ôi! Thức ăn ngon lành
ấy tuy ở gần kề một bên, nhưng đồng thời cũng lại xa
cách với chúng tôi biết bao!
Sau
cùng cánh cửa lớn lại mở rộng, và một vị sư sãi tác
cao và gầy ốm xuất hiện. Ông ta quát to:
- Lũ
tiểu yêu, chúng bây muốn gì đây, hử?
- Chúng
tôi muốn trở thành tu sĩ.
Ông
ta nói lớn:
- Lạy
trời, đời nay sao có chuyện lạ vậy?
Người
tu sĩ ra hiệu cho chúng tôi bước vào bên trong bức tường
rào của tu viện. Người ấy hỏi chúng tôi là những thứ
gì, chúng tôi là ai, và thậm chí tại sao chúng tôi sinh ra
đời để làm gì!
Thật
không khó gì mà hiểu rằng chúng tôi không gây ra nơi người
ấy một ấn tượng tốt lành nào cả!
Ông
ta nói với thiếu nhi đầu tiên, người này tự xưng là con
của một người mục đồng:
- Vô
đây mau lên. Nếu ngươi vượt qua được những cuộc thử
thách, thì ngươi sẽ được thu nhận.
Kế
đó ông ta nói với người thiếu nhi kia:
- Còn
thằng kia? ... sao, mi nói gì? ... cha mi làm nghề đồ tể? A!
đó là người hàng thịt, một người phạm giới sát sinh
và không tuân theo giới luật của Phật. Vậy mà mi còn dám
tới đây? Cút đi mau kẻo ta lại cho mi ăn gậy bây giờ!
Nói
xong ông ta nhảy tới chụp lấy thằng nhỏ, thằng này thấy
thế nguy bèn quên cả sự mệt nhọc và cố gắng thu thập
tinh thần. Nhanh như chớp, nó quay đầu trở lại, phóng ra
ngoài đường lộ và chạy một mạch vắt giò lên cổ, làm
cho đường cái dậy bụi lên từng đợt nhỏ.
Chỉ
còn lại một mình tôi. Người tu sĩ quay lại nhìn tôi với
cặp mắt hung tợn và tôi cảm thấy sợ sệt đến nỗi chút
nữa tôi đã ngất xỉu ngay tại chổ! Ông ta bèn quơ gậy
một cách hâm dọa và quát lớn:
- Còn
thằng nhỏ này! Mi là ai? ... A ha! Con một vị hoàng thân quốc
thích mà muốn trở thành tu sĩ. Nhưng trước hết mi phải
chứng minh giá trị của mi tới đâu, cùng những gì mi có
trong bụng. Đây không phải là chỗ của những con nhà quý
tộc ương hèn, nhu nhược. Mi hãy lui lại bốn chục bước
và ngồi yên tại chỗ theo tư thế ngồi thiền cho đến khi
có lệnh mới. Cấm không được cựa quậy chí đến một
sợi lông nheo!
Nói
xong, ông ta lui gót đi ngay. Tôi lặng lẽ thu nhặt khăn gói
và lùi lại bốn chục bước. Tôi ngồi xuống trong tư thế
kiết dà theo như lời dặn. Tôi ngồi yên như thế suốt ngày
không cựa quậy. Những cơn gió lốc hất vào mình tôi những
bụi bậm của đường xá, lần lần cát bụi đóng vào mình
tôi. Chất từng đống nhỏ trên hai bàn tay lật ngửa của
tôi, trên vai tôi và len lỏi vào tóc tai của tôi.
Khi
ánh sáng mặt trời mỗi lúc càng yếu dần, tôi càng cảm
thấy đói khát hơn, một cơn khát nước như cực hình nó
làm khô cuống họng tôi: Từ lúc sáng sớm đến giờ tôi
chưa ăn uống gì cả. Những sư sãi trong tu viện rất đông,
họ đi qua lại không ngớt, nhưng không ai để ý đến tôi.Vài
con chó hoang thỉnh thoảng ngừng lại, đưa mỏ vào mình tôi
để đánh hơi một cách tò mò, rồi lại bỏ đi. Một đám
trẻ nhỏ đi ngang qua. Một đứa trong bọn chúng không có việc
gì làm, chắc hẳn là ngứa tay, bèn ném vào mình tôi một
viên sỏi trúng nơi màn tang, máu chảy ròng ròng. Nhưng tôi
vẫn không cựa quậy. Tôi đã quá sợ hãi. Nếu tôi thất
bại trong cơn thử thách này, cha tôi sẽ không để cho tôi
trở về nhà và tôi sẽ không biết phải đi đâu. Tôi không
còn có thể làm gì hơn là ngồi yên, âm thầm chịu khổ sở
với các bắp thịt đau đớn như rần và những khớp xương
tê cứng.
Mặt
trời đã khuất dạng sau những dãy núi, và đêm tối đã
đến. Các tinh tú chói lập lòe trên nền trời u ám. Hàng
nghìn những ngọn đèn nhỏ thắp bằng bơ chiếu sáng ở các
cửa sổ của những tu viện. Một ngọn gió lạnh như băng
đã dậy lên: Tôi nghe tiếng gió rít lạnh lùng và tiếng lá
xào xạc trên những cành liễu cùng với những tiếng động
làm thành bản nhạc lạ lùng bí hiểm của ban đêm.
Dù
việc gì đã xảy ra, tôi vẫn ngồi yên bất động, vì hai
lý do chính:
Một
là vì tôi quá sợ hãi, và hai là tứ chi của tôi đã quá
tê cứng để có thể cử động được. Khi đó, tôi nghe có
tiếng dép đi trên đất cát: Tôi nhận ra đó là những bước
chân của một ông lão đang lần mò tìm đường đi trong bóng
tối. Một bóng đen xuất hiện trước mặt tôi, đó là một
vị sư sãi già đã còng lưng và mệt mỏi sau bao nhiêu đêm
khổ hạnh. Những bàn tay của người đã run, điều này không
làm cho thản nhiên khi tôi thấy ông ta làm đổ nghiên chén
trà cầm nơi tay. Trong bàn tay kia, ông ta cầm một bát Tsampa,
và đưa cho tôi luôn cả hai thứ. Tôi vẫn ngồi yên không
cử động. Ông ta nói:
- Con
hỡi, hãy cầm lấy, vì con có quyền cử động trong những
giờ ban đêm.
Tôi
bèn uống chén trà, và sớt món Tsampa vào cái chén riêng của
tôi. Ông lão lại nói:
Bây
giờ con hãy ngủ đi nhưng khi trời hừng sáng, con hãy ngồi
lại trong tư thế cũ, vì đây là một cuộc thử thách chứ
không phải là một hình phạt vô ích, những kẻ nào vượt
qua cuộc thử thách này mới có thể được thu nhận vào dòng
tu của chúng ta.
Nói
xong, ông lão cầm lấy những chén bát và đi thẳng. Tôi bèn
đứng dậy, vươn vai, duỗi thẳng tay chân, rồi nằm xuống
nghỉ lưng; tôi vừa nằm nghiêng một bên vừa ăn chén stampa.
Quả thật là tôi đã quá kiệt sức. Sau khi ăn no, tôi kê
cái gói áo để gối đầu và nằm luôn dưới đất. Bảy
năm của cuộc đời tôi trên thế gian này thật là không được
sung sướng chút nào. Cha tôi luôn tỏ ra nghiêm khắc trong mọi
việc, nghiêm khắc một cách kinh khủng, tuy vậy đây là lần
đầu tiên mà tôi ngủ xa nhà và suốt ngày hôm đó tôi không
hề sửa đổi tư thế, hoàn toàn ngồi yên bất động và
xác thể bị dày vò vì cơn đói khát. Tôi không biết ngày
mai sẽ đưa đến cho tôi cái số phận như thế nào, và người
ta sẽ bắt tôi phải chịu những điều gì nữa. Nhưng bây
giờ, tôi phải ngủ, ngủ dưới màn trời lạnh lẽo, cô đơn,
một mình với sự sợ hãi bóng tối, một mình với sự sợ
hãi những ngày sắp tới.
Dường
như tôi chỉ nhắm mắt được không bao lâu, thì tôi đã thức
giấc vì tiếng kèn thổi vang tai. Tôi vừa mở mắt thì đã
thấy ánh bình minh phản chiếu trên nền trời đằng sau những
dãy núi. Tôi hối hả thức dậy và liền giữ lấy tư thế
ngồi thiền. Trước mặt tôi, cả tu viện điều đã lần
lần thức giấc. Lúc đầu nó giống như một thành phố bị
đắm chìm trong giấc ngủ. Kế đó, mỗi tiếng động nhẹ
đầu tiên mỗi lúc càng tăng trưởng dần dần và tu viện
trở thành ồn ào náo nhiệt như một cái tổ ong vò vẻ trong
một ngày mùa hạ. Khi mặt trời ló dạng, những toán sư sãi
đầu cạo sạch bóng đi qua lại trong những cửa của tu viện.
Mặt
trời càng lên cao, tôi càng cảm thấy tê buốt các khớp xương,
nhưng tôi không dám cử động; tôi không dám ngủ thêm, vì
chỉ một cử động nhẹ là tôi đã thất bại và sau đó
tôi biết đi đâu? Cha tôi đã nói rõ ràng: Nếu tu viện không
bằng lòng thu nhận tôi, thì cha tôi cũng sẽ không nhận tôi
trở về. Từng nhóm nhỏ các sư sãi bước ra khỏi các gian
nhà của tu viện để làm công việc hàng ngày. Vài thiếu
niên đi rảo ngoài sân; đôi khi chúng nó lấy chân đá một
cái, hất văng cát bụi bay mù mịt và những viên sỏi nhỏ
về phía tôi ngồi, hoặc chúng đua nhau thốt ra những lời
thô bỉ, tục tằn, cố ý nhắm vào tôi làm mục tiêu. Thấy
tôi không đáp lại, chúng chán nản bỏ đi tìm những nạn
nhân khác dễ chọc ghẹo hơn. Một ngày nữa lại qua mau; lần
lần mặt trời lại ngả về tây và những ngọn đèn bơ của
tu viện lại được thắp sáng. Trong giây lát, tôi đã ngồi
dưới ánh sao, vì đó là ngày thượng tuần, trăng lên hơi
muộn.
Thình
lình, tôi cảm thấy lo sợ; hay là người ta đã quên tôi rồi?
Hay đây là một cuộc thử thách, trong khi đó tôi phải chịu
nhịn đói? Tôi không hề cử động suốt ngày hôm đó, một
ngày kéo dài vô tận, và sự đó khát đã làm cho tôi mệt
nhừ. Thình lình, một tia hy vọng nhen nhúm trong lòng tôi và
làm tôi muốn nhảy dựng lên. Tôi nghe có tiếng chân đi và
một bóng đen tiến về phía tôi. Nhưng than ôi, đó là một
con chó ngao lớn và đen đang kéo lê một vật gì. Không một
mảy may chú ý đến tôi, nó vẫn tiếp tục đi thẳng, cũng
không chút xót thương cho cái tình trạng khó khăn của tôi.
Niềm hy vọng của tôi bèn sụp đổ. Tôi cảm thấy muốn
khóc để chóng lại sự yếu hèn đó, tôi bèn tự nhắc nhở
lấy mình rằng chỉ có đàn bà con gái mới dại dột mà sử
sự như thế.
Sau
cùng, tôi nghe tiếng bước chân của vị sư già. Lần này,
ông lão nhìn tôi với đôi mắt dịu hiền và nói:
- Con
hỡi, đây là những đồ ăn thức uống cho con, nhưng sự thử
thách chưa phải là hết. Còn ngày mai nữa. Con hãy nhớ đừng
làm một cử động nào, vì có nhiều người đã thất bại
vào giờ phút chót.
Nói
xong, ông lão từ biệt đi ngay. Trong khi vị sư già nói chuyện,
tôi uống chén trà bơ và một lần nữa, sớt stampa vào cái
bát riêng của tôi. Một lần nữa, tôi lại nằm dài dưới
đất, thật ra cũng không sung sướng gì hơn đêm trước. Vừa
nằm tôi vừa suy nghỉ về cách đối xử bất công này, tôi
không còn muốn làm tu sĩ nữa. Người ta không để cho tôi
có quyền định đoạt số phận của tôi, chẳng khác nào
như tôi là một con lừa bị bắt buộc phải trèo qua một
truyền núi, thế thôi. Tôi ngủ thiếp đi trên cái ý nghĩ
đó.
Ngày
hôm sau, cuộc thử thách bước qua ngày thứ ba. Khi tôi ngồi
dậy theo tư thế tọa thuyền, tôi cảm thấy yếu sức hơn
mọi ngày và đầu óc tôi choáng váng. Tôi thấy tu viện dường
như xoay tít trong một khối xa mù gồm những tòa dinh óc, những
màu mè sặc sỡ, những đớm đỏ với những núi non và những
sư sãi quay cuồng lẫn lộn với nhau một cách vô cùng hỗn
độn. Tôi phải làm một cố gắng phi thường để vượt
qua được cơn chóng mặt đó. Tôi cảm thấy kinh hoàng với
ý nghỉ rằng tôi có thể thất bại sau khi đã chịu tất
cả những sự đau khổ trong những ngày qua. Tôi có cảm giác
rằng những tảng đá mà tôi ngồi ở trên, lần lần đã
trở nên bén nhọn cũng như dao cắt, nó làm cho tôi đau nhứt
ở những bộ phận nhạy cảm nhất trong mình tôi.
Ông
mặt trời dường như đứng yên một chỗ; ngày ấy kéo dài
như vộ tận. Nhưng sau cùng, ánh nắng bắt đầu dịu bớt,
vầng hồng đã xuống thấp và ngọn gió chiều đã thổi phất
phơ một sợi lông chim do một con chim én bay qua đã bỏ rớt
lại. Lại một lần nữa, những ánh đèn bơ đã lần lượt
nối tiếp nhau thấp thoáng qua khung cửa sổ. Tôi thầm nghĩ.
- "Tôi
mong sau được chết trong đêm nay, tôi không còn chịu đựng
được nữa."
Ngay
lúc ấy, cái bóng đen cao lớn của vị chưởng môn Đoàn Sơ
Cơ xuất hiện nơi khung cửa. Ông ta nói:
- Con
hỡi, hãy lại đây!
Tôi
thử đứng dậy, nhưng hai chân tôi đã chay cứng đến nỗi
tôi phải nằm dài trên mặt đất. Người lại nói:
- Nếu
con muốn nằm nghỉ, con có thể ở lại đây một đêm nữa.
Ta không thể chờ đợi lâu hơn.
Tôi
bèn hối hả thu lượm khăn gói và tiến lại gần vị Chưởng
Môn với bước đi khập khểnh. Ông ta nói:
- Vào
đây. Con hãy dự cuộc lễ tối và sáng mai con hãy đến gặp
ta.
Bên
trong tu viện, không khí rất ấm áp và mùi hương trầm làm
cho tôi cảm thấy khỏe mạnh. Vì quá đói, giác quan nhạy
cảm của tôi cho tôi biết rằng cách đó không xa chắc có
thức ăn no lòng, tôi bèn đi theo một nhóm sư sãi hướng về
phía tay mặt. À, có đồ ăn đây rồi: Tsampa và trà bơ! Tôi
ráng chen lên hàng đầu dường như tôi đã quen làm như vậy
suốt đời tôi!
Các
sư sãi toan nắm chớp tôi khi tôi bò bốn cẳn luồng qua chân
họ để đi tới trước nhưng vô ích; tôi đang muốn ăn, và
không có gì có thể ngăn cản tôi được nữa. Sau khi đã
ăn uống no lòng, tôi theo chân các sư sãi vào trong nội điện
để dự cuộc lễ. Tôi đã quá mệt mỏi để có thể hiểu
biết những gì xảy ra, nhưng không ai để ý đến tôi. Sau
cuộc lễ, khi các sư sãi sắp hàng một đi ra ngoài, tôi mới
lẻn ra phía sau một cây cột lớn, nằm dài xuống mặt sàn
bằng đá, gối đầu trên cái bọc vải đựng quần áo của
tôi và ngủ một giấc ngon lành.
Tôi
đang mơ màng giấc điệp thì những tiếng động chung quanh
đánh thức tôi dậy một cách phủ phàng. Có những giọng
nói thốt lên:
- À,
một con ma mới. Một đứa con nhà giàu. Ta hãy đánh cho nó
một trận!
Một
chú tiểu Sơ Cơ phất lên trên không cái áo dài thay đổi
mà y đã rút ra trong bọc quần áo gói đầu của tôi, một
tên khác đoạt lấy đôi giầy ủng của tôi. Một nắm Tsampa
mềm và ướt từ đâu ném tới trúng vào giữa mặt tôi. Những
cú đấm đá tới tấp như mưa nhắm vào tôi từ tứ phía,
nhưng tôi không tự vệ. Đó có thể là một cuộc thử thách
để xem tôi có tuân theo hay chăng, lời răn thứ mười sáu
nói rằng: "Ngươi hãy chịu đựng sự đau khổ và tai họa
một cách kiên nhẫn và an phận."
Bỗng
nghe có tiếng quát lớn: "Có chuyện gì xảy ra ở đây?" kế
đó là những tiếng thì thầm sợ hãy:
- À!
Vị chưởng Môn đã đến! Chúng ta đã bị bắt quả tang!
Tôi
đang lo gỡ miếng Tsampa ra khỏi mắt tôi, thì vị chưởng
Môn nhóm Sơ Cơ liền quay về phía tôi, nắm lấy cái bím tóc
tôi và kéo tôi đứng dậy.
- Đồ
gà mái ướt! Đồ nhu nhượt! Mi mà muốn trở thành một nhà
lãnh đạo tương lai? Hãy lãnh lấy mấy quả đấm này!
Kế
đó, tôi bị đòn dưới một trận mưa quả đấm tàn bạo.
- "Đồ
vô dụng, đồ hèn, thậm chí mi cũng không biết tự vệ..."
những cú đấm đá vẫn tiếp tục dường như không bao giờ
ngừng.
Tôi
bèn nhớ lại lời nói của võ sư Tzu lúc ông từ giã tôi:
- "Con
hãy làm bổn phận, và hãy nhớ tất cả những gì ta đã dạy
con."
Tôi
bèn giữ thế thủ và lừa dịp đưa tay đẩy nhẹ một cái
theo một thế võ Tây Tạng mà võ sư Tzu đã dạy tôi. Vị
Chưởng Môn, trong lúc bất thần không kịp đỡ, vừa thốt
lên một tiếng rên siết vì đau đớn, vừa bay bổng lên khỏi
đầu tôi, rơi xuống sàn gạch trong tư thế nằm sắp rồi
chùi tới trước trên cái sóng mũi, làm sóng mũi bị lột
da, và ngừng lại khi đầu ông ta va vào một cái cột lớn
với một tiếng động kinh hồn!
Tôi
thầm nghỉ: "Thôi rồi! Phen này mình chắc chết. Âu cũng đành
vậy để chấm dứt tất cả mọi nỗi lo âu." Thế giới dường
như ngừng lại. Những thiếu niên Sơ Cơ đều nín thở. Một
tiếng hét lớn, trong chớt mắt vị Chưởng Môn cao lớn và
xương xẩu đã đứng phắt dậy. Máu từ trong hai lỗ mũi
ông ta tuông ra đỏ lờm. Thật là một cảnh tượng quái gở,
vì khi đó ông ta cất lên tiếng cười vang trong một chuỗi
cười dài cởi mở và thật tình! Ông ta nói với tôi:
- À,
vậy mi là một con gà chọi, phải chăng? Gà chọi hay chuột
ướt? Mi là giống nào? Để còn xem lại mới biết.
Vị
Chưởng Môn bèn quay lại phía một thiếu niên mười bốn
tuổi, có một thân xác to lớn rồi đưa tay ra hiệu và nói:
- Nga
Quắn, mi là con trâu mộng nặng cân nhất của tu viện này.
Mi hãy tỏ cho mọi người thấy rằng con nhà lái buôn có giá
trị hơn con nhà vương giã hay chăng trong một cuộc đấu võ.
Lần
đầu tiên trong đời, tôi thầm tạ ơn ông Tzu, vị võ sư
già của tôi. Thuở thiếu thời, ông ta từng là một chuyên
viên về môn võ thuật Tây Tạng, một tay vô địch xuất xứ
từ vùng Kham. Theo lời ông ta nói, ông ta đã truyền lại cho
tôi tất cả các thế võ bí truyền, nhờ đó tôi có thể
đối địch với cả những người lớn. Tôi đã tiến bộ
rất nhiều về môn võ thuật này, trong đó sức mạnh và tuổi
tác không có ích lợi gì cả. Vì cuộc đấu võ này quyết
định tương lai của tôi, nên sau cùng tôi cảm thấy yên tâm.
Nga
Quắn là một thanh niên lực lưỡng và khỏe mạnh, nhưng thiếu
lanh lẹ mềm dẻo trong những cử động của y. Hiển nhiên
là y đã quen nhưng cuộc đánh đấm hung hăng trong đó bạo
lực của y giúp cho y nắm ưu thế. Y lao mình tới trước để
nắm lấy tôi và quyết hạ được tôi. Tôi nao núng, nhờ
đã có học võ với ông Tzu và trong huấn luyện, đôi khi ông
ta cũng tỏ ra bạo tàn. Khi Nga Quắn khởi thế công, tôi bước
qua một bên để tránh và thuận tay tôi vặn một cánh tay
của y. Hai chân y bị mất thăng bằng, y lảo đảo xoay nửa
vòng trước khi té ngã chúi đầu xuống đất. Y nằm rên một
hồi trên sàn gạch, rồi thình lình y đứng dậy và phóng
tới tôi. Tôi thụp xuống, ngã mình trên sàn gạch và đưa
tay vặn một chân của y vào lúc y sắp sửa đè lên mình tôi.
Lần này y xoay trọn một vòng, lảo đảo trên hai chân và
té ngã, vai trán nện xuống đất. Nhưng y chưa thật sự đo
ván. Y cố gắng đứng lên và đi thật trọng từng bước
chung quanh tôi, rồi thình lình nhảy qua một bên, y chụp một
cái đỉnh bằng đồng và có dây xúc xích và quay tít nó lên
trên không. Một khí giới như vậy thật là chậm chạp, nặng
nề và dễ tránh. Tôi bước một bước tới trước, luồn
mình dưới nách y và đưa một ngón tay nhẹ nhàng điểm vào
chổ nhược ở phía dưới của y, như võ sư Tzu thường chỉ
dạy cho tôi về môn điểm huyệt. Y liền ngã lăn xuống đất
như một tảng đá hai tay buông sợi dây xúc xích, cái đỉnh
đồng bị hất văng vào đám trẻ sơ cơ và nhóm sư sãi đang
đứng chung quanh nhìn xem chuộc đấu võ gây lên một cuộc
náo động ồn ào.
Nga
Quắn nằm bất tỉnh trong nửa giờ. Sự điểm huyệt đặc
biệt đó thường làm cho linh hồn rời khỏi thể xác để
đi châu du trên cõi trung giới hoặc để có những hoạt dộng
tương tự.
Vị
Chưởng Môn Đoàn Sơ Cơ tiến đến gần tôi, vỗ vai tôi một
cái thật mạnh làm tôi suýt nữa cũng lại nằm đo ván, và
nói:
- Con
hỡi, quả thật con là người hùng.
Tôi
đánh bạo đáp lại:
- Như
vậy bạch sư tôn, con có xứng đáng được ăn uống chút
ít gì chăng? Từ mấy ngày nay, con chưa được ăn uống đầy
đủ bữa nào.
Vị
Chưởng Môn nói:
- Con
hỡi, con hãy ăn uống cho thỏa lòng. Sau đó, con hãy bảo một
đứa trong nhóm sơ cơ dẫn đường cho con đến gặp ta. Từ
nay con sẽ làm trưởng đoàn dể dạy võ nghệ cho chúng nó.
Vị
sư già đã đem thêm thức ăn cho tôi hai đêm trước cũng vừa
đến ngay khi đó. Ông ta nói:
- Con
hỡi, con đã hành động xứng đáng. Nga Quắn đã tỏ ra hống
hách đối với nhóm sơ cơ. Con hãy thay chân nó ở chức vụ
đoàn trưởng, nhưng con hãy có lòng từ bi nhân hậu trong mọi
quyết định. Con đã có một sự giáo dục rất tốt. Con hãy
sử dụng tài nghệ của con cho đúng chỗ và chớ nên truyền
thụ võ nghệ cho những kẻ không xứng đáng. Bây giờ con
hãy theo ta và ta sẽ cho con ăn uống no lòng.
Khi
tôi đến tư thất của người, vị Chưởng Môn đoàn Sơ Cơ
tiếp đón tôi một cách rất ưu ái. Người nói:
- Con
hãy an tọa. Ta muốn biết xem về mặt trí thức con có xuất
sắc như về môn võ nghệ không. Con hãy coi chừng, ta sẽ hỏi
khó con đấy.
Kế
đó, người mới đưa ra cho tôi nhiều câu hỏi, vừa sát hạch,
vừa viết tay. Chúng tôi ngồi đối diện nhau trên những chiếc
nệm, và cuộc trắc nghiệm diễn ra suốt sáu tiếng đồng
hồ, trước khi người tuyên bố hài lòng về sự giải đáp
của tôi. Tôi cảm thấy đã mệt mỏi, người bèn đứng dậy
và nói:
- Con
hãy theo ta. Ta sẽ đưa con vào trình diện với vị Sư Trưởng.
Đó là một cái vinh dự đặc biệt, con sẽ hiểu lý do tại
sao.
Tôi
đi theo vị Chưởng Môn qua những hành lang rộng lớn, những
văn phòng, những nội diện, những lớp học... Chúng tôi buớc
lên một thang lầu, vượt qua những hành lang chằng chịt như
mê cung, đi ngang những thánh điện thờ vị Thần và kho chứa
các loại thảo dược. Lại lên một cầu thang nữa, sau cùng
chúng tôi bươc lên sân thượng, trên nóc bằng của tu viện
và đi về phía tịnh thất của vị Sư Trưởng. Đến trước
cửa, có một tượng Phật bằng vàng, biểu tượng của ngành
Y học; qua khỏi cửa chúng tôi đã bước vào tu thất của
Sư Trưởng.
Vị
Chưởng Môn dặn tôi:
- Con
hãy vái chào đảnh lễ và làm theo ta.
Người
liền cúi lạy vị Sư Trưởng sau khi đã chắp tay vái ba lần.
Tôi làm theo, trong lòng hồi hộp. Vị Sư Trưởng điềm nhiên
nhìn chúng tôi, và nói:
- Các
con hãy an tọa.
Chúng
tôi ngồi trên những chiếc nệm, hai chân xếp bằng. Vị Sư
Trưởng im lặng nhìn tôi một lúc rất lâu. Kế đó người
nói:
- Hỡi
Lâm Bá, ta biết tất cả những gì về con, tất cả những
gì đã được tiên tri từ trước. Cuộc thử thách mà con
đã phải chịu, thật là gian lao. Con sẽ hiểu lý do tại sao
trong một vài năm nữa. Nhưng còn bây giờ, con hãy biết rằng
trong một ngàn sư sãi, chỉ có một hai người là có khả
năng học hỏi những việc cao xa, và có thể đạt tới một
trình độ tiến hóa cao, còn bao nhiêu thì chỉ làm những bổn
phận thông thường hằng ngày. Họ là những người làm việc
bằng tay chân, và lần chuỗi tụng niệm mà thôi, chứ không
cần học hỏi gì cả. Ở đây không thiếu những người đó.
Chúng ta chỉ thiếu những người giữ gìn cái kho tàng kiến
thức Huyền Môn khi xứ này bị nạn ngoại xâm. Con sẽ được
thụ huấn đặc biệt, một sự huấn luyện ráo riết để
trong vài năm ngắn ngủi con sẽ có nhiều kiến thức hơn là
một vị Lạt Ma có thể thu thập được suốt cả một đời.
Con đường Đạo sẽ gay go, hiểm trở và thường là dẫy
đầy gian khổ. Thật vậy, tu luyện để có được nhãn quang
thần thông đòi hỏi nhiều công phu rất khó nhọc, và xuất
hồn đi châu du trên cõi trung giới đòi hỏi hành giả phải
có một bộ thần kinh hệ vững chắc không gì lay chuyển và
một ý chí cứng rắn như sắt đá.
Tôi
chăm chú nghe với tất cả tâm hồn, không mất một chữ nào.
Những điều đó đối với tôi dường như quá khó khăn. Tôi
không có một nghị lực cứng cỏi đến bực đó! Vị Sư
Trưởng nói tiếp:
- Ở
đây con sẽ học y khoa và khoa chiêm tinh. Chúng ta sẽ giúp
đỡ con về mọi mặt. Con cũng sẽ học các pháp môn bí truyền.
Con đường của con đã được vạch sẵn, hỡi Lâm Bá. Tuy
con mới có bảy tuổi, ta nói với con như nói với một người
lớn, vì vậy con đã được giáo dục như một người trưởng
thành.
Nói
xong, Sư Trưởng khẽ nghiêng đầu, vị Chưởng Môn đoàn Sơ
Cơ bèn đứng dậy và cúi rập mình chào rất lâu. Tôi làm
y theo vị Chưởng Môn và chúng tôi cùng lui ra. Khi về đến
tư thất, vị Chưởng Môn mới phá tan sự im lặng:
- Con
hỡi, con sẽ phải làm việc nhiều. Nhưng chúng ta sẽ giúp
đỡ con hết lòng. Bây giờ, con hãy theo ta, để ta chỉ chổ
cho con đi cắt tóc.
Ở
Tây Tạng, khi một đứa thiếu sinh bước vào tu viện, người
ta bắt y cạo hết tóc, chỉ trừ một cái chõm nhỏ ở đỉnh
đầu, cái chõm này cũng sẽ được cạo luôn vào ngày mà
y nhận được một pháp danh mới và bỏ cái tên cũ.
Vị
Chưởng Môn đưa tôi đi qua một dãy hành lang đến một gian
phòng nhỏ, dùng làm nơi hớt tóc, tại đây người ta bảo
tôi ngồi xuống đất. Vị Chưởng Môn nói:
- Tâm
Chu, ngươi hãy cạo sạch tóc cho người thiếu nhi này. Ngươi
cũng cạo luôn cái chõm vì y sẽ nhận pháp danh luôn ngày hôm
nay.
Tâm
Chu bước tới, với bàn tay mặt y nắm lấy cái bín tóc của
tôi, dở hỏng lên, và nói:
- À,
à, cậu nhỏ này. Bín tóc đẹp thật, thoa bơ láng bóng và
giữ gìn cẩn thận. Cắt nó đi thật là sướng tay xiết bao.
Y bèn
lấy một cây kéo rất lớn, giống như loại kéo mà những
người nô bộc nhà tôi dùng để xén cây làm vườn, và gọi
to:
- Tư
Tỷ, lại đây cầm dùm một đầu.
Tư
Tỷ, người phụ tá của y, chạy đến và kéo cái bín tóc
của tôi mạnh đến nỗi tôi gần bị dở hỏng lên khỏi
mặt đất. Miệng há hốc, Tâm Chu bắt tay vào việc với cây
kéo cùn. Sau nhiều cơn bực mình và cằn nhằn, cái bín đã
cắt xong. Nhưng đó chỉ là mới đầu. Người phụ tá đem
tới một thau nước nóng bỏng đến nổi, khi y dội nước
lên đầu tôi, tôi đau điếng nhảy nhổm một cái. Người
thợ cạo hỏi:
- Có
gì không ổn, hử, cậu nhỏ? Phỏng nước sôi chăng?
- Phải
đấy, nước nóng quá.
- Đừng
sợ, không việc gì, nước nóng như vậy, cạo tóc dễ hơn!
Y vừa
đáp vừa lấy con dao ba cạnh, hình tam giác, mà ở nhà tôi
người ta thường dùng để cạo sàn gỗ mỗi khi rửa nhà.
Sau cùng, sau một thời gian dài dường như vô tận, đầu tôi
đã được cạo sạch.
Vị
Chưởng Môn bèn gọi tôi vào phòng riêng và đặt cho tôi một
pháp danh mới. Đó là một tên Tây Tạng rất dài, nhưng trong
quyển sách này, tôi vẫn dùng cái tên cũ cho tiện.
Kế
đó, tôi được đưa vào một lớp học. Tôi cảm thấy đầu
tôi trơ trẽn như một quả trứng mới đẻ. Vì tôi đã được
hấp thụ một nền giáo dục tốt trong gia đình, người ta
cho rằng tôi có những kiến thức cao hơn mức trung bình, nên
họ xếp tôi vào lớp học của những thiếu niên sơ cơ mười
bẩy tuổi. Tôi cảm thấy như một người tí hon sống giữa
những người khổng lồ. Những thiếu niên này đã thấy tôi
đánh ngã Nga Quắn, nên không ai muốn quấy rầy tôi, trừ
ra một đứa lớn xác và ngu xuẩn. Y tiến đến gần từ phía
sau lưng tôi và đặt hai bàn tay to lớn và dơ bẩn lên đầu
tôi, hãy còn rát và ê ẩm vì mới cạo trọc. Tôi đứng phắt
dậy và với một đầu ngón tay, tôi điểm nhẹ vào phía dưới
cùi chỏ của y, làm cho y lùi lại thét lên vì đau đớn. Sau
vụ ấy, các đứa trẻ khác bèn để tôi yên. Vị Chưởng
Môn vừa quay lưng khi đứa trẻ đặt hai tay lên đầu tôi,
sau đó mới được biết những gì đã xảy ra. Nhưng kết
qủa của vụ xung đột làm cho Vị Chưởng Môn bất giác cười
lớn đến nỗi Người vui lòng để cho chúng tôi về sớm.
Lúc
ấy đã gần tám giờ rưỡi, chúng tôi còn được tự do trong
ba khắc đồng hồ trước khi cuộc dự lễ tối đúng chín
giờ một khắc. Nhưng tôi đã quá vội mừng. Một vị Lạt
Ma ra hiệu cho tôi bước lại gần vào lúc tôi vừa ra khỏi
lớp học. Tôi bước đến gần, người nói: "Hãy theo ta."
Tôi
vâng lời đi theo và tự hỏi không biết chuyện gì đang chờ
đợi tôi đây. Vị Lạt Ma bước vào một phòng âm nhạc,
tại đây có độ hai chục thiếu nhi mới, cũng như tôi. Ba
nhạc công sắp sửa chơi nhạc, một người đánh trống, một
người thổi tù và, và người thứ ba thổi kèn bằng bạc.
Vị Lạt Ma nói:
- Tất
cả mọi người cùng hát, để ta có thể sắp đặt giọng
hát từng nhóm trong cuộc hợp ca.
Các
nhạc công đánh một bản nhạc rất quen thuộc mà ai cũng
hát được. Chúng tôi vừa cất tiếng hát... thì cặp chân
mày của vị Nhạc Sư đã nhướng lên rất cao! Sự ngạc nhiên
hiện trên gương mặt người, kế đó sắc diện người lộ
vẻ đau đớn khôn tả. Người đưa hai tay lên tỏ dấu phản
đối và kêu to:
- "Ngưng
lại! Ngưng lại tất cả! Các em xé cả lỗ tai của đấng
Thánh Thần! Hát lại từ đầu và coi chừng!" Chúng tôi hát
lại lần nữa, nhưng lần này, người cũng chận chúng tôi
lại. Lần này, người bước đến trước mặt tôi và nó:
- Thằng
ngốc, mi định chế nhạo ta chăng? Lần này khi nhạc bắt
đầu mi sẽ hát một mình vì mi không muốn hòa giọng với
những đứa khác. Một lần nữa, các nhạc công lại trổi
nhạc, và một lần nữa tôi lại hát. Nhưng không được lâu.
Vị Nhạc Sư hoàn toàn thất vọng và giận dữ khoa chân múa
tay trước mặt tôi và nói:
- Lâm
Bá, âm nhạc không phải là một trong những tài năng của
mi. Trong năm chục năm trời từ ngày ta đến đây, ta chưa
bao giờ nghe một giọng hát vụng về như thế. Vụng về ư?
Được vậy còn đỡ. Giọng mi hoàn toàn sai, vô phương cứu
vãn. Này thằng nhỏ, mi sẽ không được hát nữa. Trong giờ
âm nhạc, mi sẽ học một môn khác. Khi dự lễ trong nội điện,
mi phải câm miệng lại, không thì mi làm hỏng tất cả. Bây
giờ, mi hãy cút đi, thứ lỗ tay trâu!
Thế
là, tôi lánh đi chỗ khác chơi.
Tôi
đi dạo chơi cho đến khi những tiếng kèn điểm giờ hành
lễ cuối cùng trong ngày. Chỉ mới ngày hôm qua tôi bước
chân vào tu viện, nhưng tôi có cảm tưởng rằng dường như
tôi đã có mặt nơi đây từ thuở xa xăm nào! Tôi cảm thấy
rằng tôi đi như người mê ngủ và tôi bắt đầu cảm thấy
đói. Có lẽ như vậy còn hay hơn, vì nếu lúc ấy tôi no bụng
thì chắc là tôi đã ngủ gật. Có người nắm lấy tay áo
tôi và dở hỏng tôi lên trên không. Một vị Lạt Ma cao lớn,
vẻ mặt hiền hòa, đặt tôi ngồi trên hai vai rộng của người,
và nói:
-
Con hỡi, coi chừng con đến trễ giờ dự cuộc lễ tối và
con sẽ bị quở. Nếu con đến trễ, con sẽ không được ăn,
và chừng đó bụng con sẽ rỗng không như một cái trống!
Khi
vị Lạt Ma bước vào nội điện, người vẫn còn khiêng tôi
trên vai. Người ngồi ngay phía sau những tấm nệm dành riêng
cho đám sơ cơ và cẩn thận đặt tôi ngồi xuống trước
mặt người. Người nói:
- Con
hãy coi đây, và lập lại những gì ta nói. Nhưng khi ta cất
tiếng hát thánh ca, thì con hãy im lặng chớ mở miệng đó
nhé, a ha!
Tôi
thầm biết ơn vị Lạt Ma đã có lòng ưu ái đối với tôi.
Từ trước đến giờ, ít có người đã tỏ ra tốt bụng
đối với tôi. Sự giáo dục mà tôi đã hấp thụ được
trong quá khứ chỉ là đặt trên một nền tảng quát tháo,
thịnh nộ hay đánh đập.
Tôi
đã ngủ thiếp đi trong một lúc. Khi đó tôi giật mình thức
dậy, tôi nhận thấy rằng cuộc lễ tối đã chấm dứt tự
bao giờ. Vị Lạt Ma đã cõng tôi đến phòng ăn khi tôi còn
đang mê ngủ, và đặt tôi ngồi xuống trước bàn, trên đó
người đã đặt sẵn trà bơ, Tsampa và rau đậu nấu chín.
Người nói:
- Con
hãy ăn no, rồi đi ngủ! Ta sẽ chỉ cho con biết buồng ngủ
của con. Đêm nay, con có quyền ngủ thẳng giấc đến năm
giờ sáng. Con hãy đến gặp ta khi con thức dậy.
Đó
là những lời cuối cùng mà tôi nghe trước khi tôi thức giấc
vào lúc năm giờ sáng. Một thiếu niên sơ cơ đã tỏ ra có
thiện cảm với tôi từ đêm trước. Đến đánh thức tôi
dậy một cách rất khó khăn giữa lúc tôi còn mê man giấc
điệp. Khi thức tỉnh tôi mới thấy rằng tôi đã nằm trên
tấm nệm giữa một phòng lớn. Người thiếu niên nói:
- Vị
Lạt Ma Minh Gia Đại Đức đã dặn tôi đến đánh thức sư
huynh đúng năm giờ sáng.
Tôi
ngồi dậy và xếp ba tấm nệm chồng chất lên nhau sát vách
tườn theo gương những đứa trẻ khác. Tất cả những trẻ
sơ cơ đã ra ngoài; người bạn trẻ của tôi bèn nói:
- Chúng
ta hãy ăn điểm tâm; rồi sau đó tôi sẽ đưa sư huynh đến
gặp Minh Gia Đại Đức.
Khi
đó, tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn, không
phải tôi thích tu viện hay tôi muốn ở lại đó, mà tôi nghĩ
rằng vì không thể làm sao hơn, nên tốt nhất là tôi nên
êm thuận và hòa mình với hoàn cảnh. Đến giờ ăn điểm
tâm, vị sư xướng ngôn đọc bằng một giọng trầm một
đoạn kinh rút trong một trăm mười hai quyển của bộ kinh
Kangyur của Phật Giáo Tây Tạng. Vị sư hẳn đã nhìn thấy
tôi đãng trí và lo ra, vì thình lình người gọi giật tôi
lại:
- Này,
thằng nhỏ, ta vừa mới nói những gì? Hãy trả lời mau!
Nhanh
như chớp và không suy nghĩ một giây đồng hồ tôi đáp ngay:
- Bạch
sư ông, ngài vừa nói rằng: Thằng nhỏ này đãng trí không
nghe ta đọc kinh, ta phải bắt nó tại trận!
Câu
trả lời ấy làm cả cử tọa đều bất giác cười ầm lên,
và nhờ đó tôi khỏi bị đòn vì tội vô kỷ luật. Vị sư
cũng mỉm cười đó là một việc hiếm có và giải thích
rằng người muốn tôi lập lại đoạn kinh người vừa đọc,
nhưng thôi, "Lần này thì như vậy cũng được".
Mỗi
bữa ăn, vị sư xướng ngôn đều ngồi trước một bàn nhỏ
và đọc những đoạn kinh Phật. Các sư sãi không được phép
nói chuyện trong giờ ăn, hoặc nghĩ đến những chuyện riêng
tư, mà phải lắng tai nghe đọc kinh. Họ phải tiêu thụ thánh
giáo cùng một lượt với thức ăn. Chúng tôi tất cả đều
ngồi trên những chiếc nệm đặt dưới đất và ăn trên
những chiếc bàn nhỏ cao độ năm tất Tây. Không ai được
gây tiếng động hoặc để cùi chỏ lên bàn, vì đó là những
điều bị tuyệt đối cấm nhặt.
Tại
tu viện Chakporl, người ta áp dụng kỹ luật sắt. Danh từ
Chakporl có nghĩa là "Thiết Sơn" hay núi sắt. Trong phần lớn
các tu viện, kỹ luật thường lỏng lẽo và thời khắc biểu
không được áp dụng chặt chẽ. Các sư sãi có thể làm việc
hoặc nghỉ ngơi tùy ý. Có thể chỉ có một người trong hàng
ngàn sư sãi thật tình muốn tiến bộ tâm linh, và chính người
đó mới trở nên một vị Lạt Ma, vì danh từ Lạt Ma có nghĩa
là "Thượng Nhân", và không áp dụng cho bất cứ người nào.
Trong tu viện của chúng tôi kỹ luật rất chặt chẽ và thậm
chí còn gắt gao là khác. Chúng tôi phải trở thành những
người lãnh đạo của giai cấp tu sĩ. Đối với chúng tôi,
thì trật tự và giáo dục là tuyệt đối cần thiết. Chúng
tôi không được phép mặt áo trắng là màu áo thông thường
của cấp sơ cơ: Áo của chúng tôi mặt phải là màu đỏ
sậm như áo của các vị sư sãi. Chúng tôi cũng có những
kẻ nô bộc để sai khiến nhưng đó là những sãi lao công,
nô bộc, có phận sự quét dọn, lao chùi và côi sóc phần
sinh hoạt thực tế của tu viện. Chúng tôi thay phiên nhau làm
công việc hèn mọn này, để cho những ý nghĩ tự phụ, kêu
căng không có chổ mà chen vào đầu óc của mình. Chúng tôi
phải luôn luôn nhớ câu sáo ngữ Phật Giáo: "Hãy tự mình
nêu gương tốt cho kẻ khác. Hãy làm điều thiện và tránh
mọi điều ác. Đó chính là giáo lý của Phật dạy".
Vị
Sư Trưởng của tu viện, tức vị Lạt Ma Champa La, cũng nghiêm
khắc như cha tôi và đòi hỏi một sự vâng lời tuyệt đối.
Một trong những lời dạy mà người thường hay nhắc đến
là: "Ðọc và viết là những then chốt của mọi đức tính".
Bởi
đó, trên lãnh vực này, chúng tôi có rất nhiều việc phải
làm.