Tín
Ngưỡng Và Sinh Hoạt
Dưới
đây là một vài chi tiết về nền văn minh của xứ Tây Tạng
nó có thể khêu gợi sự thích thú của quý độc giả. Nền
tôn giáo Tây Tạng là một hình thức biến thiên của Phật
Giáo, nhưng nó không có một danh hiệu rõ ràng để có thể
định nghĩa hoặc dịch ra. Người Tây Tạng gọi nó là quốc
giáo của họ. Danh từ chính xác nhất là Lạt Ma Giáo (Lamaisme),
mà người Tây phương đã từng biết. Tín ngưỡng của người
Tây Tạng khác biệt với Phật Giáo ở chỗ nó căn cứ trên
niềm hy vọng, còn Phật Giáo đối với họ như một tôn giáo
yếm thế, và hoàn toàn tiêu cực. Dầu sao đi nữa, có một
điều chắc chắn là người Tây Tạng không tin nơi sự hiện
diện của một vị Thượng Đế độc tôn, toàn trí và toàn
thông, coi sóc và che chở cho toàn thể nhân loại.
Từ
bao nhiêu thế kỷ về trước, các dân tộc phương Đông đã
biết rõ về các mãnh lực huyền bí và những định luật
thiên nhiên. Thay vì phủ nhận sự hiện hữu của những sức
mạnh huyền linh ấy, bởi lý do rằng người ta không thể
cân lường hay quan sát phản ứng của chúng dưới ảnh hưởng
các hóa chất trong phòng thí nghiệm, những bậc danh sư bên
phương Đông đã cố gắng tăng gia kiểm soát của họ đối
với những mãnh lực thần bí vô hình. Thí dụ như họ đã
chú ý đến những kết quả thu lượm được do bởi năng
khiếu Thần Nhãn. Nhiều người cho rằng điều ấy không thể
nào có được: Họ chẳng khác nào như những người mù từ
thuở lọt lòng mẹ, nói rằng vốn không có thị giác, bởi
vì họ không hề có kinh nghiệm về cái giác quan đó! Làm
sao họ có thể hiểu được rằng một vật có thể được
nhìn thấy ở cách xa trong không gian, trong khi không hề có
một sự tiếp xúc nào giữa vật ấy và đôi mắt của con
người?
Thể
xác con người được bao phủ bằng một lớp vỏ như sương
mù muôn màu nghìn sắc: đó là cái hào quang. Những vị có
Thần Nhãn nhìn vào hào quang của một người, có thể quan
sát các màu sắc đó mà suy ra tình trạng sức khỏe, đức
hạnh và trình độ tiến hóa của người ấy. Cái hào quang
ấy là sự phát huy, sự biểu hiện của một luồng khí lực
từ bên trong, tức Chân Ngã, hay linh hồn con người. Đầu
người ấy cũng được bao trùm bởi một vòng hào quang xuất
phát từ cái khí lực đó. Đến lúc chết, thì cái hào quang
ấy tắt hẳn: Linh hồn đã rời khỏi thể xác và phiêu diêu
trên một cõi giới khác để bước qua một giai đoạn sinh
hoạt mới. Khi đó, nó trở thành một cái "Bóng" phất phơ,
có lẽ là bởi vì nó còn hoang mang bởi sự xúc động mạnh
khi nó được giải tỏa ra khỏi cái xác thân vật chất. Có
thể rằng nó không hoàn toàn ý thức được những gì đã
xảy ra. Bởi đó, các vị Lạt Ma có bổn phận giúp đỡ những
người hấp hối và giảng giải cho họ nghe những giai đoạn
ở bên cửa tử mà họ sẽ trải qua. Chứ nếu không, thì
linh hồn của họ sẽ bám víu lấy cõi trần do bởi những
dục vọng của xác thịt còn chưa được thỏa mãn. Vai trò
của các vị tăng lữ là cắt đứt những sợi dây trói buộc
đó.
Người
Tây Tạng thường có những cuộc hành lễ cầu siêu để dìu
dắt những vong linh người chết. Sự chết không làm cho người
Tây Tạng sợ sệt, họ nghĩ rằng một vài nghi thức cẩn
mật có thể giúp đỡ rất nhiều để cho linh hồn bước
qua cõi giới bên kia một cách dễ dàng. Cần phải vạch một
lộ trình nhất định và rõ ràng, và điều khiển những tư
tưởng của người hấp hối một cách thích nghi. Những cuộc
lễ cầu siêu này được cử hành trong một ngôi đền dưới
sự hiện diện của chừng độ ba trăm sư sãi. Một nhóm bốn
hay năm vị Lạt Ma có thần thông, có thể giao cảm với cõi
vô hình, ngồi thành vòng tròn ở chính giữa, và đối diện
với nhau. Trong khi các sư sãi tụng niệm dưới sự điều
khiển của một vị Sư Trưởng, các vị Lạt Ma cố gắng
tiếp xúc bằng thần giao cách cảm với những vong linh phiêu
dạt, vất vưởng trong cõi vô hình. Những lời cầu nguyện
bằng tiếng Tây Tạng thật khó mà dịch ra cho đúng nghĩa,
nhưng tôi cũng xin được dịch đại khái như sau:
- Hãy
nghe tiếng gọi của chúng tôi, hỡi các vong hồn phất phơ
vô định ở cõi bên kia cửa tử. Âm dương cách trở, người
sống và người chết đều sống ở những cõi giới cách
biệt nhau. Những gương mặt người chết có thể được nhìn
thấy ở đâu? Ở đâu người ta có thể nghe được giọng
nói của họ.
Cây
nhang đầu tiên được đốt lên để kêu gọi những linh hồn
lạc lõng và chỉ đường cho họ.
- Hãy
nghe tiếng gọi của chúng tôi, hỡi các vong hồn phất phơ
lạc lõng không người dìu dắt. Bầu thế giới này là một
ảo ảnh. Cuộc đời chỉ là một giấc mộng. Hữu sinh hữu
diệt, vật gì có lúc sinh ra ắt phải có lúc chết. Chỉ có
Phật pháp là con đường duy nhất đưa đến đời sống trường
tồn vĩnh cửu. Cầu cho vong hồn các người siêu sinh tịnh
độ.
Cây
nhang thứ nhì được đốt lên để kêu gọi những vong hồn
lạc lõng và để chỉ đường cho họ.
- Hãy
nghe tiếng gọi của chúng tôi, hỡi những bậc vua chúa oai
quyền hống hách của thế gian, các người đã ngự trị trên
những dãy giang san của thiên hạ. Triều đại của các người
chỉ tồn tại có một thời nhưng những tiếng kêu rên siết
của dân tộc các ngươi không bao giờ dứt. Do lòng tham vọng
chinh phục đất đai, các ngươi đã làm cho máu chảy thành
sông, và những tiếng thở than của những kẻ bị trị còn
làm rung chuyền cây cối, thấu đến trời xanh. Cầu cho vong
hồn các ngươi được siêu sinh tịnh độ.
Một
cây nhang thứ ba được đốt lên để kêu gọi vong hồn các
bậc đế vương, cùng những nhà độc tài của thiên hạ và
để chỉ đường cho họ.
Hãy
nghe tiếng gọi của chúng tôi, hỡi những kẻ bạc ác bất
nhân và những kẻ trộm cướp của thế gian, các ngươi đã
gây nên tội ác đối với kẻ đồng loại và ngay trong lòng
các người không có sự bằng an. Linh hồn các ngươi vất
vưởng không nơi nương tựa và công lý không có ngự trong
tâm của các ngươi. Cầu cho linh hồn các ngươi được siêu
sinh tịnh độ...
Một
cây nhang thứ tư được đốt lên để kêu gọi vong hồn những
kẻ tội lỗi đang phất phơ dật dờ trong cô quạnh.
- Hãy
nghe tiếng gọi của chúng tôi, hỡi những nàng kỹ nữ các
chốn lầu xanh của thế gian, những người buôn hương bán
phấn mà tội lỗi của các bọn đàn ông đã làm cho ô uế,
nay đang đi lang thang vô định trong cõi u minh tăm tối. Cầu
cho vong hồn các ngươi được siêu sinh tịnh độ.
Cây
nhang thứ năm được đốt lên để kêu gọi vong hồn các
người đàn bà tội lỗi, sa đọa, để dìu dắt và giải
thoát cho họ khỏi những sự trói buộc của thế gian...
Trong
bóng tối ban đêm tỏa khói hương nghi ngút, những ngọn đèn
bơ loe lét làm rung rinh những bóng đen ở phía sau các pho tượng
thếp vàng. Sự căng thẳng càng tăng: Các vị Lạt Ma đang
tập trung tư tưởng để giao cảm với những vong hồn đã
chết nhưng chưa được giải thoát khỏi những sợi dây trói
buộc với cõi giới phàm trần.
Những
sư sãi mặc áo tràng màu đỏ ngồi sắp từng hàng đối diện
với nhau, cất giọng ngân nga tụng niệm những bài sinh cầu
siêu cho các vong hồn. Cuộc lễ tiếp diễn với những lời
chỉ thị đưa ra cho các vong hồn và nhịp độ của những
lời cầu siêu tụng niệm cũng trở nên thưa dần, cho đến
khi mọi tiếng động, mọi âm thanh đều dứt hẳn, và tất
cả đều đắm chìm trong im lặng.
Trong
lúc thức tỉnh, linh hồn con người dính liền với thể xác
và không thể tách rời ra ngoài, trừ phi y đã có trải qua
một sự tập luyện về vấn đề này. Khi chúng ta ngủ, chỉ
có thể xác là cần sự nghỉ ngơi, còn linh hồn thì thoát
ra ngoài và bước vào cõi giới tinh thần, cũng như một đứa
trẻ trở về nhà vào lúc chiều, sau giờ tan học. Linh hồn
được nối liền với thể xác bằng "sợi dây bạc" nó có
thể kéo dài đến vô tận. Sợi dây bạc này vẫn tồn tại
luôn luôn khi nào thể xác còn sống; đến lúc chết, nó bị
gián đoạn để cho linh hồn bước vào một cuộc đời mới
trên cõi giới tinh thần, cũng như đứa hài nhi bị cắt rún
để tách rời khỏi mẹ nó. Đối với đứa hài nhi, sự sinh
ra đời có nghĩa là chấm dứt sự sống được bảo bọc
che trở trong bụng mẹ. Đối với một linh hồn, sự chết
có nghĩa là tái sinh trong một cõi tâm linh tự do hơn.
Khi
sợi dây bạc chưa bị cắt đứt, linh hồn được tự do châu
du khắp nơi trong giấc ngủ của thể xác, hoặc ngay cả trong
lúc thức tỉnh nếu người ta đã có trải qua một sự luyện
tập đặc biệt. Sự chu du của linh hồn trong giấc ngủ tạo
nên những giấc mộng, nó là những ấn tượng được chuyển
di do sự trung gian của sợi dây bạc. Trong cõi giới tâm linh,
vốn không có "Thời gian", vì ý niệm về thời gian chỉ có
ở cõi phàm trần hạ giới, bởi đó đôi khi những giấc
mộng dài và phức tạp dường như chỉ diễn ra trong không
đầy một giây đồng hồ. Một kinh nghiệm mà có lẽ ai cũng
đã trải qua, là gặp trong giấc mộng một người quen ở
cách ta rất xa, có thể ở cách đến muôn dặm trùng dương,
ở chỗ tận cùng của thế giới, và nói chuyện với người
ấy. Một thông điệp có thể đã được chuyển giao và khi
thức giấc, người ta có cái cảm giác rất rõ rệt là: Có
một cái gì mà mình phải nhớ. Đôi khi, người ta nhớ rằng
đã gặp trong mộng một người bạn hay một người thân thích
trong khi họ ở rất xa, mà người ta không ngạc nhiên mà nhận
được tin của họ ít lâu sau đó. Đối với những người
không luyện tập, thì trí nhớ của họ thường bị đảo
lộn và kết quả là họ chỉ thấy những giấc mộng vô lý
hay những cơn ác mộng.
Ở
Tây Tạng, người ta thường đi châu du khắp nơi không phải
bằng thuật khinh thân, mà bằng cách xuất hồn, một kỹ thuật
mà họ đã hoàn toàn nắm vững. Bằng phương pháp xuất hồn,
linh hồn rời khỏi thể xác và vẫn dính liền với nó bằng
sợi dây bạc, trong khi đó người ta tự do di chuyển khắp
nơi tùy ý muốn trong cõi vô hình với tốc lực của tư tưởng.
Khả năng xuất hồn cũng gọi là xuất thần hay xuất vía,
để đi châu du nơi cõi Trung giới, là một việc rất thông
thường ở xứ Tây Tạng. Những người mới bắt đầu áp
dụng thử phương pháp này thường hay bị xúc động mạnh,
đó là do sự thiếu tập luyện. Có thể rằng mỗi người
đã có lần cảm thấy mình lướt nhẹ trong giấc ngủ để
rồi sau đó, không có lý do gì đáng kể, tự nhiên họ giật
mình bừng tỉnh dậy một cách đột ngột. Hiện tượng đó
là do bởi sự xuất thần một cách quá mau chóng, sự chia
ly quá đột ngột giữa thể xác với thể vía, làm cho sợi
dây bạc bị chùn lại và thể vía tái nhập vào thể xác
một cách quá mãnh liệt. Sau khi bừng tỉnh dậy, người ta
còn có cái cảm giác khó chịu hơn nữa. Linh hồn phất phơ
ở phía trên cái thể xác rất xa, cũng ví như một quả bong
bóng được thả lên trên không ở đầu cuối một sợi dây.
Thình lình, một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn như một tiếng
động mạnh, làm cho nó nhập vào thể xác một cách quá mau.
Đương sự giật mình tỉnh giấc và có cái cảm giác kinh
khủng như từ trên cao té xuống vực thẳm và vừa tỉnh dậy
kịp thời.
Sự
chu du trên cõi Trung giới một cách hoàn toàn làm chủ tình
hình và hoàn toàn ý thức mọi việc xảy ra, là một điều
khả năng của hầu hết tất cả mọi người. Người ta chỉ
cần có một sự luyện tập thích nghi, nhưng trong những giai
đoạn đầu tiên, họ cần phải luyện tập ở một nơi vắng
vẻ để không sợ bị ai quấy rầy. Cần nói rõ là trừ phi
có sự chỉ dẫn của một vị đạo sư lão luyện, người
ta có thể bị hoang mang, kinh ngạc. Trên thực tế, sự tập
luyện này không nguy hiểm, nhưng không phải là không có sự
va chạm hay xúc động mạnh, nếu thể vía rời khỏi hay nhập
vào thể xác không đúng lúc. Những người yếu tim không nên
tập luyện phương pháp này, bởi vì nếu có người nào đột
nhiên bước vào phòng khi họ đang tập, thì thể vía hay sợi
dây bạc của họ có thể bị náo động và điều đó thật
vô cùng nguy hiểm. Sự va chạm đó có thể làm cho đương
sự chết bất đắc kỳ tử và có những hậu quả rất phiền
phức: Linh hồn y sẽ bị bắt buộc đầu thai trở lại ngay
để hoàn tất kiếp sống vừa bị gián đoạn ở cõi trần
trước khi bước qua giai đoạn tiến hóa kế tiếp...
Người
Tây Tạng tin rằng thuở xưa kia, trước thời kỳ sa đọa
của con người, nhân loại có thể đi chu du bằng cách xuất
hồn, sử dụng Thần Nhãn, thực hành khoa thần giao cách cảm
và phép khinh thân. Sự sa đọa này, theo chúng tôi hiểu, là
do con người đã lạm dụng những quyền năng thần bí, những
phép thuật thần thông để thực hiện những mục đích ích
kỷ thay vì để giúp ích cho sự tiến hóa chung của nhân loại.
Vì sự lạm dụng đó, nên ngày nay nhân loại đã bị mất
hết tất cả những quyền năng quý báu kể trên.
Người
Tây Tạng quả quyết rằng người ta có thể tiên đoán những
việc có thể xảy ra trong tương lai. Khoa tiên tri là một khoa
học, và một khoa học chính xác. Họ cũng tin ở khoa Chiêm
Tinh. Những "ảnh hưởng của tinh tú" chỉ là những vũ trụ
tuyến do những bầu tinh tú phản chiếu xuống địa cầu,
và chịu sự "tô mầu" hoặc sự thay đổi bởi những bầu
tinh tú nầy. Ai cũng biết rằng với một cái máy ảnh và
ánh sáng mặt trời, người ta có thể chụp ảnh. Vài loại
kiếng lọc ánh sáng, nếu đặt trước ống kính thu ảnh,
có thể giúp cho người ta có được những tấm ảnh với
hàng trăm loại màu sắc đặc biệt, cũng y như thế, những
vũ trụ tuyến ảnh hưởng đến con người bằng nhiều cách
khác nhau đến vô cùng tận tùy theo tác động của những
bầu tinh tú khi phản chiếu vũ trụ tuyến xuống quả Địa
Cầu.
Kể
từ thế kỷ thứ mười một trở về sau, tất cả những
vấn đề chính sự quan trọng ở xứ Tây Tạng đều được
quyết định bằng khoa Chiêm Tinh. Cuộc xâm lăng của quân
đội Anh năm 1904 đã được tiên tri một cách chính xác. Người
ta có ghi chép lời tiên tri này bằng chữ Tây Tạng, mà bản
dịch như sau:
"Năm
Con Rồng bằng Gỗ (Mộc Long). Trong nửa năm đầu Đức Đạt
Lai Lạt Ma sẽ được bình yên, sau đó những kẻ xâm lăng
hiếu chiến sẽ tiến vào lãnh thổ. Quân địch rất đông,
nạn binh đao gây nhiều tai họa và dân chúng sẽ phải lâm
chiến. Đến cuối năm, sẽ có sứ giả hòa bình và chiến
tranh sẽ chấm dứt."
Lời
tiên tri này bắt đầu có trước năm 1850, nói về tình hình
năm
1904,
tức năm Con Rồng Gỗ. Đại tá Younghusband, tư lịnh quân đội
Anh, có xem thấy bản văn lời tiên tri này ở thủ đô Lhassa.
Nói
về vấn đề tiên tri, có người đã hỏi tôi: "Tại sao tôi
không tránh khỏi cạm bẫy và thử thách gian lao nó chờ đợi
tôi, khi mà những điều đó đã được tiết lộ cho tôi biết
trước?"
Tôi
chỉ có thể trả lời rằng: "Nếu người ta có thể tránh
khỏi những tai nạn, đau khổ đã được tiết lộ cho ta biết
trước, thì việc ấy chứng tỏ những lời tiên tri đó là
sai!"
Những
lời tiên tri, đều căn cứ trên sự "có thể xảy ra" của
một vài sự việc, chứ không có nghĩa là con người phải
chịu một cái định mệnh khắt khe, bất di dịch mà y không
có tự do ý chí để sửa đổi. Trái lại, con người có thể
sử dụng ý chí của mình một phần nào. Thí dụ một người
kia muốn đi từ Tân Đề Li đến Hoa Thịnh Đốn, lẽ tất
nhiên y biết rõ khởi điểm và mục tiêu cuộc hành trình.
Nếu y chịu khó thăm dò trên bản đồ, y sẽ biết được
những điểm then chốt mà y sẽ đi ngang qua trên một lộ trình
ngắn và tiện lợi nhất. Tuy rằng y cũng có thể dùng một
lộ trình khác, nhưng điều này không phải là sáng suốt khôn
ngoan, vì nó sẽ làm mất nhiều thời giờ và tổn phí tiền
bạc.
Cũng
y như thế, trong trường hợp một chuyến từ Paris đến Marseille
chẳng hạn, một người tài xế khôn ngoan sẽ thăm dò trên
bản đồ và noi theo một lộ trình đã vạch sẵn bởi một
tổ chức du lịch. Như vậy, y sẽ có thể tránh khỏi những
con đường gồ ghề lồi lõm; hoặc nếu y bắt buộc phải
theo những con đường này và không thể làm sao hơn, thì y
sẽ biết trước để giảm bớt tốc lực và để tránh khỏi
tai nạn. Khoa tiên tri cũng có tác dụng giống như vậy.
Tuy
nhiên, noi theo những con đường êm ái, dễ dàng, không phải
luôn luôn là một điều tốt. Là một Phật tử, tôi tin ở
định luật Luân Hồi và tôi tin rằng người ta sinh ra ở
cõi trần là để "Học hỏi, " kinh nghiệm. Cuộc đời trần
gian có thể là đắng cay, đau khổ, nhưng những bài học mà
chúng ta phải học hỏi, kinh nghiệm chỉ có một mục đích
duy nhất là trui rèn và thử thách chúng ta để cho ta trở
nên tinh luyện, khôn ngoan, và minh triết hơn.
Nhờ
những lời tiên tri mà tôi được biết trước cuộc đời
tôi, đó đã là nhiều lắm. Nhưng vẫn còn nhiều điều bí
hiểm, thí dụ như những lời tiên tri về xứ Tây Tạng: Tại
sao xứ ấy lại bị nạn ngoại xâm? Một xứ êm đềm, yên
tĩnh, chỉ có sự ước mong duy nhất là phát triển trên địa
hạt tâm linh, tại sao lại phải chịu nạn ấy? Tại sao những
nước khác lại thèm muốn chiếm đoạt lãnh thổ đất đai
của chúng tôi, và đặt dân tộc xứ này dưới cái ách nô
lệ? Ước vọng duy nhất của người Tây Tạng là được
sống trong hòa bình và tự do. Tuy vậy, người ta lại trông
cậy nơi tôi để đi sang nước Trung Hoa, là một nước sẽ
xâm lăng xứ Tây Tạng trong tương lai, để chữa trị và săn
sóc thương binh trong một cuộc chiến tranh còn chưa bắt đầu!
Dưới
đây là một vài biến cố quan trong trong lịch sử xứ Tây
Tạng trong số những biến cố quan trọng khác đã được
tiên tri một cách chính xác: Năm 1910, cuộc xâm lăng của quân
Trung Hoa; năm 1911, cuộc Cách Mạnh Trung Hoa và Chánh phủ Trung
Hoa Dân Quốc thành lập; cuối năm 1911, quân đội Trung Hoa
bị đánh bật ra khỏi Tây Tạng; năm 1914, cuộc Thế Chiến
Thứ Nhất; 1933, đức Đạt Lai Lạt Ma từ trần; năm 1935;
đức Đạt Lai Lạt Ma tái sinh trở lại; năm 1950; quân Trung
Công xâm xứ Tây Tạng. Một nhà ngoại giao Anh là Sir Charless
Bell đã thấy tất cả những lời tiên tri này ở Lhassa.
Tất
cả nghị lực trẻ trung của tôi đều hướng về một mục
tiêu duy nhất: Làm sao thi đậu một cách vẻ vang vào kỳ thi
sắp tới. Vì ngày lễ sinh nhật muời hai tuổi của tôi đã
sắp đến, nên tôi học bớt lại từ từ. Tôi đã trải qua
những năm học ráo riết về các môn Chiêm Tinh, Y Khoa, Giáo
Lý, Sinh Ngữ Tây Tạng và TrungHoa, và Toán Pháp.
Ngày
thi đã đến. Đúng sáu giờ sáng, tôi đến phòng thi với
độ mười lăm thí sinh khác. Mỗi thí sinh được đưa vào
một phòng nhỏ hẹp, đặt dưới sự canh gác thường xuyên
của các sư sãi "Cảnh binh" đi tuần ở ngoài hành lang. Mỗi
ngày chúng tôi phải làm bài luận hoặc giải đáp các câu
hỏi về một trong sáu môn học kể trên. Trong sáu ngày liên
tiếp, chúng tôi bắt đầu làm bài từ sáng sớm cho đến
chiều, một vị sư sãi đem cho chúng tôi trà pha bơ và tsampa
mỗi ngày ba lần. Phần thi các bài viết chấm dứt vào chiều
ngày thứ sáu, kế đó chúng tôi được nghỉ vài ngày. Ba
ngày sau, những bài viết đã được chấm xong, mỗi thí sinh
phải ra trước hội đồng giám khảo để trả lời những
câu về những điểm yếu kém của họ. Phần thi sát hạch
chiếm trọn hết một ngày. Ngày hôm sau, tất cả mười sáu
thí sinh tề tựu lại vũ đường để biểu diễn môn quyền
thuật. Mỗi thí sinh phải đấu võ với ba thí sinh khác. Những
thí sinh yếu kém nhất sẽ bị loại rất mau, rồi đến lượt
những thiếu niên khác, và sau cùng chỉ còn lại một mình
tôi thủ đài. Sự thành công này là nhờ sự huấn luyện
võ nghệ dưới sự chỉ dẫn của võ sư Tzu, mà hồi nhỏ
tôi vẫn cho là bất công và bạo tàn. Ít nhất tôi đã được
chấm hạng nhất về môn quyền thuật. Qua ngày hôm sau, chúng
tôi được nghỉ để lấy lại sức, và ngày kế đó mới
là ngày tuyên bố kết quả. Tôi và bốn thí sinh khác được
chấm đậu: Chúng tôi đã trở nên những giáo sĩ kiêm y sĩ.
Minh Gia Đại Đức, mà tôi không gặp trong suốt mùa thi cử,
cho gọi tôi lại. Người lộ vẻ vui mừng trên nét mặt, và
nói với tôi khi tôi đến trình diện trước mặt người:
- Lâm
Bá, khá khen cho con vì con đã đậu hạng nhất. Vị Sử Trưởng
đã gởi một phúc trình đặc biệt cho đấng Thậm Thâm. Người
muốn đề nghị với Ngài phong cho con chức Lạt Ma ngay lập
tức, nhưng ta đã chống lại việc ấy.
Thấy
tôi hơi có vẻ bất mãn, Sư Phụ tôi nói thêm:
- Tốt
hơn con hãy cố gắng học hỏi thêm và đạt tới quả vị
ấy bằng khả năng của chính mình. Nếu con lãnh tước vị
Lạt Ma ngay bây giờ, con sẽ bỏ lãng sự học và sau này con
sẽ thấy rằng sự học của con có một tầm quan trọng rất
lớn. Tuy nhiên, ta cho phép con ở căn phòng kế bên, vì con
chắc chắn sẽ thi đậu kỳ thi tuyển các vị Lạt Ma khi thời
giờ sẽ đến.
Quyết
định của Sư Phụ thật rất hữu lý. Dầu sao, tôi chỉ mong
mỏi được vâng lời người một cách tuyệt đối. Tôi rất
cảm động mà thấy rằng sự thành công của tôi cũng là
sự thành công của người và Sư Phụ lấy làm vô cùng hân
hạnh mà làm thầy của một đứa trẻ đậu hạng nhất trên
các môn khảo thí.
Vài
ngày sau đó, một thư tín viên cưỡi ngựa phi nước đại
đem cho tôi một thông điệp của đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài
gởi lời khen tặng tôi về việc tôi vừa thi đậu và ra chỉ
thị rằng kể từ nay tôi được đối xử như một Lạt Ma.
Tôi sẽ được mặc áo như các vị Lạt Ma mà thụ hưởng
mọi quyền hạn và đặc ân dành cho chức vị ấy. Ngài cũng
đồng ý với Sư Phụ tôi, để cho tôi khảo thí vào năm mười
sáu tuổi, vì theo lời Ngài viết trong thơ: "Như vậy con sẽ
học hỏi thêm những đề tài mà có lẽ con sẽ bỏ dở nếu
con được tấn phong ngay bây giờ, và nhờ đó con sẽ mở
mang những kiến thức của con cho thêm sâu rông."
Thế
là tôi đã trở nên một vị Lạt Ma. Tôi thuộc về thành
phần ưu tú, thành phần của những bậc "Thượng Nhân." Những
điều này cũng có những sự bất lợi: Trước kia, tôi phải
giữ ba mươi hai giới luật của Dòng Tu Sĩ, điều mà tôi
vẫn coi như là một con số đáng e ngại. Khi đã trở nên
một vị Lạt Ma, tôi phát hiện một cách kinh khủng rằng
số giới của cấp đẳng nầy lên tới hai trăm năm mươi
ba. Và ở tu viện Chakpori, một vị Lạt Ma chân chính phải
giữ hết tất cả bấy nhiêu giới luật đó, không bỏ sót
một giới luật nào?
Còn
sự làm việc? Chúng tôi phải làm việc nhiều nhưng chúng
tôi cũng không thiếu những sự vui về tinh thần và những
cuộc chơi tiêu khiển. Thật là một niềm hạnh phúc rất
lớn mà được sống gần những người như Minh Gia Đại Đức,
mà tư tưởng duy nhất trong đời là gieo sự Bằng An và phụng
sự nhân loại. Thật cũng là một phần thưởng tinh thần
mà được nhìn thấy trước mắt cái phong cảnh êm đềm,
với một thung lũng xanh tươi, cây cối xầm uất; với những
con sông rạch màu nước xanh dương uốn khúc quanh co theo những
dãy núi đồi ngoạn mục; với những ngọn tháp vàng chiếu
lóng lánh dưới ánh nắng mặt trời, những tu viện cổ kính
bám chặt trên các sườn núi cheo leo hiểm trở, và chiêm ngưỡng
với một lòng tôn kính những mái bầu bằng vàng của điện
Potala ở gần bên và những nóc nhà sặc sỡ dọc theo bờ
sông Jo Kang ở xa hơn về phía đông. Tình đồng môn của các
vị Lạt Ma trong tu viện, lòng ưu ái của các sư sãi, mùi
hương trầm quen thuộc phưởng phất trong các đền thờ, tất
cả những thứ đó là cái bối cảnh hằng ngày của cuộc
đời tu sĩ, và đó cũng là một cuộc đời đáng sống. Còn
những khó khăn, chướng ngại thì cũng có rất nhiều, nhưng
điều đó không quan trọng lắm. Ở trong mọi tập thể cộng
đồng, luôn luôn vẫn có những phần tử không thông cảm,
những kẻ đố kỵ ganh ghét. Ở tu viện Chakpori, những kẻ
ấy thật tình chỉ là một thiểu số.
Kể
từ đó, các vị Lạt Ma và sư sãi trong tu viện đều đối
sử với tôi một cách lễ độ, cung kính. "Cung Kính" là bởi
vì tôi là học trò của Minh Gia Đại Đức, một nhân vật
trọng yếu được toàn thể mọi người đều yêu mến, bởi
vì tôi được nhìn nhận như một vị "Hóa Thân."
Đối
với quý vị độc giả muốn biết bằng cách nào người Tây
Tạng có thể nhận ra một vị Hóa Thân. Tôi xin trình bày
vài điểm sơ lược dưới đây:
Cách
cư xử khác thường của một đứa trẻ nhỏ có thể làm
cho cha mẹ nó nghĩ rằng nó có khả năng cao hơn mức trung
bình hay những kỷ niệm đặc biệt nào đó mà người ta không
thể giải thích được một cách hợp lý. Trong trường hợp
đó, cha mẹ nó đến trình với vị Sư Trưởng của tu viện
ở gần nhất, vị này mới chỉ định một ủy ban có nhiệm
vụ đến xem xét đứa trẻ. Trước hết, ủy ban này lấy
một lá số Chiêm Tinh hay Tử Vi cho đứa trẻ, sau đó mới
xem tướng mạo và tìm ấn chứng trên khắp thân hình nó.
Thí dụ như đứa trẻ có những chỉ tay đặt biệt trên hai
bàn tay, hoặc những ấn chứng trên chả vai hay chân. Nếu
đứa trẻ có những ấn chứng đó, người ta tìm cách truy
ra tiền kiếp nó. Có thể rằng các vị Lạt Ma sẽ nhìn ra
được nó, như trong trường hợp của tôi, và khi đó người
ta mới đặt nó trong một cuộc thử thách xem nó có nhìn ra
được chăng những đồ vật dụng riêng của nó hồi kiếp
trước. Cuộc thử thách này được thực hiện khi đứa trẻ
mới lên ba tuổi. Người ta nghĩ rằng với tuổi đó, cón
quá non dại để có thể bị ảnh hưởng bởi những gì cha
mẹ nó có thể nói cho nó biết. Nếu thử vào lúc nó còn
trẻ hơn nữa thì lại càng hay. Cha mẹ đứa trẻ không được
dự vào cuộc thử thách, mà nó phải chọn lựa chín món đồ
vật trong số ba chục món khác. Chỉ chọn sai hai món cũng
bị loại, nếu đứa trẻ chọn đúng không sai món nào, thì
nó được nhìn nhận như một vị Hóa Thân, được nuôi dưỡng
và giáo dục một cách đặc biệt. Khi nó lên bảy tuổi, người
ta nói cho nó biết những lời tiên tri về cuộc đời tương
lai của nó. Người ta cho rằng với tuổi đó, nó hoàn toàn
có thể hiểu được ý nghĩa rõ ràng hay ẩn giấu của những
lời tiên tri đó. Với kinh nghiệm riêng của tôi, tôi có thể
quả quyết đúng y như vậy.