THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 

 

c
Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng
Hòa Thượng Tuyên Hóa
(Giảng năm 1974 Tại Kim Sơn Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ)
00
01
02-10
11-15
16-24
25-30
31-35
36-37
38-42
Chương 2

Ðoạn Dục Tuyệt Cầu

(Trừ Dục Vọng, Dứt Mong Cầu)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Xuất gia Sa-môn giả, đoạn dục khứ ái, thức tự tâm nguyên, đạt Phật thâm lý, ngộ Vô-vi pháp. Nội vô sở đắc, ngoại vô sở cầu, tâm bất hệ Ðạo, diệt bất kết nghiệp. Vô niệm vô tác, phi tu phi chứng, bất lịch chư vị, nhi tự sùng tối. Danh chi vi Ðạo."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Những người xuất gia làm Sa-môn đoạn dục, khứ ái, nhận biết nguồn tâm của mình, thông đạt đạo lý thâm sâu của Phật và tỏ ngộ pháp Vô-vi. Họ trong không sở đắc, ngoài không sở cầu; tâm không ràng buộc nơi Ðạo, và cũng chẳng kết nên nghiệp. Họ không nghĩ họ làm, chẳng tu chẳng chứng, không trải qua các quả-vị mà tự nhiên lại cao tột bực. Ðó gọi là Ðạo!"

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ hai. Chương này nói rằng các quả-vị mà bậc Sa-môn chứng đắc đều là "vô tu, vô chứng."

Ðức Phật dạy: "Những người xuất gia làm Sa-môn, đoạn dục khứ ái!" Những người muốn thoát khỏi ngôi nhà Tam-giới và trở thành bậc Sa-môn, cần phải làm gì? Cần phải bỏ lòng tham dục! Trong chương trước có nói rằng: "Ðoạn trừ ái dục thì cũng như chặt đứt tứ chi, không còn dùng lại nữa."

Bấy giờ, khi lòng ham mê ái dục không còn nữa, các bậc Sa-môn sẽ "nhận biết nguồn tâm của mình," thấu rõ được bản-thể của tự tâm.

"Thông đạt đạo lý thâm sâu của Phật, và tỏ ngộ Pháp Vô-vi." Các bậc Sa-môn hiểu thấu đáo những đạo lý thâm áo nhất của Phật; và đó chính là Pháp Vô-vi  không làm mà chẳng phải là không làm (vô vi nhi vô bất vi).

"Họ trong không sở đắc." Về mặt nội tâm, các bậc Sa-môn không thấy có cái gì để đạt được "vô trí diệt vô đắc" (cái "trí" cũng không có và cái "đạt được" cũng không hiện hữu). "Ngoài không sở cầu." Ðối với ngoại cảnh, ngoại vật, thì họ cũng chẳng mong cầu gì cả. "Trong không sở đắc? tức là Pháp Vô-vi, mà "ngoài không sở cầu" cũng là Vô-vi Pháp! Có câu:

Tri sự thiểu thời phiền não thiểu,

Ðáo vô cầu xứ tiện vô ưu!

(Sự đời biết ít, phiền não ít,

Ðạt đến "không cầu" tất hết lo!)

Ðạt đến cảnh giới "trong không sở đắc, ngoài không sở cầu," thì "tâm không ràng buộc nơi Ðạo" nữa. Bấy giờ, họ không nhất thiết phải luôn luôn tự nhủ là mình cần phải tu Ðạo; song lúc nào họ cũng dụng công tu hành và "cũng chẳng kết nên nghiệp." Họ không hề tạo nghiệp, tuyệt đối không hề tạo nghiệp, tuyệt đối không hề gây ra các nghiệp dữ. 

"Họ không nghĩ, không làm." Lúc này, bậc Sa-môn không còn bất cứ vọng niệm nào cả, mà chỉ có thuần một thứ chánh niệm mà thôi. Bởi ngay cả một vọng niệm cũng không còn, nên gọi là "không nghĩ", và vì một hành vi giả dối là nhỏ nhặt cũng chẳng có, nên gọi là "không làm."

"Chẳng tu, chẳng chứng." Bấy giờ, những việc cần làm họ đều đã làm xong, mức độ tu hành của họ đã đến cực điểm; cho nên, họ không còn gì để tu học nữa, do đó gọi là "chẳng tu." Họ đã đạt được bổn-thể của Ðạo, đã chứng đắc quả-vị, nên không cần phải chứng đắc lại nữa; vì thế gọi là "chẳng chứng."

"Không trải qua các quả-vị mà tự nhiên lại được tôn sùng tột bực." Các bậc Sa-môn không nhất thiết phải tuần tự trải qua những vị trí Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Ðịa. Họ hoát nhiên vượt qua hết thảy, và quả-vị họ đạt được lại cao cả nhất.

Ðó gọi là gì? "Ðó gọi là Ðạo." Một vị Sa-môn đắc Ðạo là như thế!
 

Chương 3

Cắt Ái Khứ Tham

(Cắt Ðứt Ái Dục, Xả Bỏ Lòng Tham)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Thế trừ tu phát, nhi vi Sa-môn, thọ Ðạo Pháp giả, khứ thế tư tài, khất cầu thủ túc, nhật trung nhất thực, thọ hạ nhất túc, thận vật tái hỹ! Sử nhân ngu tế giả, ái dữ dục dã."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Những kẻ cạo bỏ râu tóc làm bậc Sa-môn, thọ nhận Ðạo Pháp, từ bỏ của cải thế gian, khất thực chỉ nhận đủ dùng, giữa ngày ăn một bữa, dưới cội cây nghỉ một đêm, và thận trọng, không cầu mong nhiều hơn. Chính ái và dục làm cho con người bị ngu tế vậy!"

Giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ ba trong số bốn mươi hai chương; đại ý ca ngợi hạnh Ðầu-đà thù thắng. Nếu quý vị có thể thực hành hạnh Ðầu-đà thù thắng này, thì quý vị có thể chứng được Ðạo-quả.

Ðức Phật dạy: Ðây là lời Phật nói; Phật nói những gì? Ngài nói rằng: "Những kẻ cạo bỏ râu tóc," những người đi tu cạo bỏ cả râu lẫn tóc, để làm bậc Sa-môn, tức là người xuất gia, thọ nhận Ðạo Pháp." "Thọ nhận Ðạo Pháp" có nghĩa là người tu Ðạo cần phải dụng tâm thọ trì Ðạo và phải tu hành đúng theo Ðạo Pháp.

Người tu học Ðạo Pháp cần phải "từ bỏ của cải thế gian," không ham muốn sự giàu sang của thế tục. Ở đây có một số người xuất gia thọ trì Ngân-tiền Giới (không đụng tới tiền bạc). Ðó là điều rất tốt; và như thế là "từ bỏ của cải thế gian" vậy. Mọi sự tranh chấp xảy ra trên thế gian này đều là vì tiền bạc, của cải. Quý vị hãy nhìn xem: Nước này gây chiến với nước khác, nhà nọ tranh chấp với nhà kia, người này gây hấn với người nọ  tất cả chỉ vì lợi lộc riêng tư. 

Các bậc Sa-môn có thể từ bỏ mọi tài sản ở đời, không ham muốn bất cứ đồ vật quý giá nào của thế gian, và "khất thực chỉ nhận đủ dùng." Hằng ngày, họ mang bình bát đi khất thực và chỉ cần vừa đủ no là được. "Khất thực" tức là cầm bình bát đi xin thức ăn. "Chỉ nhận đủ dùng" có nghĩa là no bụng là đủ, và xong bữa rồi thì thôi, không tham lam, cũng chẳng ăn nhiều.

"Giữa ngày ăn một bữa, dưới cội cây nghỉ một đêm." Mỗi ngày bậc Sa-môn chỉ ăn một bữa vào buổi trưa mà thôi; và tối đến thì nghỉ ngơi dưới gốc cây, song không được ở quá ba đêm dưới cùng một gốc cây.

"Và thận trọng, không cầu mong nhiều hơn." Các ông phải cẩn thận, dè dặt, chớ nên cầu xin thêm nữa. Ngoài những thứ này ra, đừng cầu xin cái gì khác nữa.

"Chính ái và dục làm cho con người bị ngu tế vậy." Sự ngu si của con người ví như bụi cỏ dại mọc trong tâm, che lấp lý trí. "Tế" có nghĩa là che đậy; và "ngu tế" tức là ngu si mông tế  nghĩa là con người bị bức màn ngu si bao bọc, phủ vây, tương tự như ánh mặt trời bị mây che khuất vậy. Thế thì, cái gì làm cho con người trở nên ngu si tăm tối, không hiểu được sự việc? Ðó là ái và dục! Chính lòng tham ái và tham dục làm cho đầu óc con người trở nên ngu si, mê muội!

Quý vị nói là quý vị không ngu si ư? Nếu không ngu si thì tại sao thọ giới rồi mà còn phạm giới! Nếu không ngu si, thì tại sao cứ làm toàn chuyện không nên làm? Tất cả chẳng qua là vì bị lòng ham mê ái dục làm mờ lý trí! Vì quý vị không có cái nhìn thấu suốt về tham ái, chẳng thể buông bỏ dục vọng, cho nên quý vị không được tự tại. Quý vị có được cái nhìn thấu suốt, tường tận, và có thể buông bỏ mọi thứ, tất quý vị sẽ đạt được sự tự tại. Bấy giờ, một khi đã đạt được tự tại, quý vị sẽ thấy không buồn không lo, chẳng phiền chẳng não, và mọi sự đều tốt đẹp, mọi việc đều suông sẻ nói chung là "Everything's okay!" (mọi sự đều êm đẹp cả!).
 

Chương 4

Thiện Ác Tinh Minh

(Thiện, Ác Phân Minh)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Chúng sanh dĩ nhập sự vi thiện, diệc dĩ thập sự vi ác. Hà đẳng vi thập? Thân tam, khẩu tứ, ý tam. Thân tam giả: Sát, đạo, dâm. Khẩu tứ giả: Lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ. Ý tam giả: Tật, nhuế (khuể), si. Như thị thập sự, bất thuận Thánh Ðạo, danh Thập Ác Hạnh. Thị ác nhược chỉ, danh Thập Thiện Hạnh nhĩ."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Chúng sanh lấy mười việc làm điều thiện, cũng lấy mười việc làm điều ác. Những gì là mười? Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba. Thân có ba là sát, đạo, dâm. Miệng có bốn là nói hai lưỡi, nói lời ác, nói dối và nói thêu dệt. Ý có ba là đố kỵ, sân hận và ngu si. Mười việc này không thuận với Thánh Ðạo, gọi là Thập Ác Hạnh. Nếu dứt được những việc ấy thì gọi là Thập Thiện Hạnh vậy."

Giảng nghĩa:

Chương thứ tư giảng về "thiện ác vô tánh." Sự khác biệt giữa việc làm điều thiện và làm điều ác vốn đơn giản như việc trở bàn tay  tất cả đều là tùy thuộc ở sự quyết định của quý vị.

"Ðức Phật dạy: "Chúng sanh lấy mười việc làm điều thiện, cũng lấy mười việc làm điều ác." Có mười việc thiện mà chúng sanh có thể thực hiện được. Tuy rằng có thể làm nên việc thiện, nhưng nếu làm không đúng thì những việc ấy sẽ trở thành việc ác; phải làm sao cho đúng thì mới là việc thiện.

"Những gì là mười?" Mười việc ấy là những việc gì? "Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba." Mười việc ấy gồm có ba việc phát khởi từ thân, bốn việc phát khởi từ miệng và ba việc phát khởi từ ý.

"Thân có ba là sát, đạo, dâm." Ba việc về thân là những việc gì? Ðó là sát sanh, trộm cắp và dâm dục. Thế nào là "sát"? Là giết chết, chấm dứt sự sống của sinh vật, kết thúc tánh mạng của chúng sanh. Thế nào là "đạo"? "Bất dư nhi thủ, danh vi đạo," nghĩa là không cho mà lấy, đó gọi là ăn cắp. Nếu chưa được sự cho phép của chủ nhân mà quý vị đã tự ý lấy đồ đạc của họ, như thế là trộm cắp. "Dâm" tức là những hành vi dâm ô giữa nam và nữ.

"Miệng có bốn." Bốn việc về miệng là những việc gì? "Là nói hai lưỡi, nói lời ác, nói dối và nói thêu dệt." Người "nói hai lưỡi" hoặc "nói lưỡi hai chiều" không phải là người có hai cái lưỡi, mà có nghĩa là người nói hai lời trái ngược nhau  như gặp Trương Tam thì người ấy nói về Lý Tứ, gặp Lý Tứ thì người ấy lại mách chuyện của Trương Tam  giống như con rắn hai đầu vậy. "Nói lời ác" tức là mắng chửi, nguyền rủa, hoặc nói xấu, bôi nhọ người khác. "Nói dối" tức là nói láo, nói không đúng sự thật. "Nói lời thêu dệt" tức là nói những lời vô nghĩa. Những lời lẽ đượm vẻ khinh bạc, đầy dẫy tà tri tà kiến, không đúng đắn, bậy bạ dơ bẩn, đều gọi là lời thêu dệt.

"Ý có ba." Ba việc về ý là những việc gì? "Là đố kỵ, sân hận và ngu si." "Ðố kỵ" tức là ganh ghét. Kẻ có tâm đố kỵ, thường không muốn cho người khác được sự tốt lành, hễ thấy chuyện gì tốt đẹp xảy đến cho người khác thì liền sanh lòng ganh tỵ, ghen ghét. "Sân hận" bao gồm cả kiêu căng ngã mạn, thù hận, hiểm độc, tàn nhẫn, hung bạo. "Ngu si" tức là si mê, ngu muội, không phân biệt được sự lý một cách rõ ràng.

"Mười việc này, những việc vừa nêu trên, không thuận với Thánh Ðạo, chẳng dẫn tới thiện đạo, gọi là Thập Ác Hạnh hay Mười Ðiều Ác."

"Nếu dứt được những điều ấy, nếu ngăn chặn, đình chỉ được mười việc ác kể trên, thì gọi là Thập Thiện Hạnh hay Mười Ðiều Thiện vậy." Như thế, Mười Ðiều Thiện chính là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không đố kỵ, không sân hận, không ngu si, không nói lời ác, không nói hai lưỡi, không nói lời thêu dệt và không nói dối.
 
 

Chương 5

Chuyển Trọng Linh Khinh

(Chuyển Nặng Thành Nhẹ)

Kinh Văn: "Phật ngôn: Nhân hữu chúng quá, nhi bất tự hối, đốn tức kỳ tâm, tội lai phó thân, như thủy quy hải, tiệm thành thâm quảng. Nhược nhân hữu quá, tự giải tri phi, cải ác hành thiện, tội tự tiêu diệt, như bịnh đắc hãn, tiệm hữu thuyên quyên nhĩ!"

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người có nhiều điều lỗi mà không tự hối, lại khiến tâm kia chợt dứt, thì tội lại dấn vào thân, như nước đổ về biển, lâu dần thành sâu rộng. Nếu người có lỗi tự biết nhận lỗi, đổi ác làm lành, thì tội sẽ tự nhiên tiêu diệt, như bệnh mà được ra mồ hôi, bệnh dần dần thuyên giảm vậy!"

giảng nghĩa:

Ðoạn kinh văn này là chương thứ năm. Ðại ý chương này khuyên rằng nếu chúng ta trót phạm sai lầm, thì chúng ta có thể tự sửa đổi để trở thành con người mới hoàn thiện hơn. Có lỗi mà không chịu sửa, thì những tội lỗi kia sẽ mãi mãi tồn tại; trái lại, nếu biết tu tỉnh, sửa chữa lỗi lầm, thì tội sẽ tiêu tan, không còn nữa.

Ðức Phật dạy: "Người có nhiều điều lỗi mà không tự hối..." "Nhiều điều lỗi" tức là bao gồm tất cả mọi lỗi lầm, sai quấy. Nếu quý vị phạm lỗi mà không tự ăn năn sửa đổi, lại cố ý che dấu để người khác không trông thấy hoặc không hay biết gì cả, thì đó gọi là "bất tri nhi bất tự hối"  chẳng biết tự sám hối.

"Lại khiến tâm kia chợt dứt." Quý vị không biết là quý vị cần phải ăn năn, sám hối. Quý vị làm cho tâm hối cải của mình bị đình chỉ một cách đột ngột; như thế, tức là quý vị không có thiện chí sửa đổi sai lầm.

"Thì tội lại dấn vào thân, như nước đổ về biển lâu dần thành sâu rộng." Nếu quý vị ngăn dứt tâm hối cải của mình, thì khi tội lỗi dồn đến thân quý vị, chúng sẽ giống như những dòng nước nhỏ chảy xuôi về biển cả  dần dần, lỗi nhỏ sẽ thành lỗi lớn, tội nhẹ biến thành tội nặng, nghiệp nhẹ cũng thành nghiệp nặng; cho nên gọi là "lâu dần thành sâu rộng."

"Nếu người có lỗi tự biết nhận lỗi, đổi ác làm lành." Giả sử có người phạm tội tày trời, nếu người ấy biết sám hối, phục thiện, thì tội liền tiêu tan. Tội lỗi nghiêm trọng to lớn như trời, gọi là "di thiên đại tội." Tội lỗi của quý vị tuy lớn bằng trời, nhưng nếu quý vị có thể sám hối thì tội sẽ tiêu tan, không còn nữa. Quý vị cần phải sám hối, phải tự tháo gỡ mối kết buộc của nghiệp tội và phải nhận biết được những sai lầm của mình. Sau đó, quý vị phải sửa đổi những hạnh ác thành hạnh lành và chăm chỉ làm thiện sự. Ðược như thế, "thì tội sẽ tự nhiên tiêu diệt." Nếu quý vị có thể tự sửa chữa những sai lầm của mình để trở thành con người mới, thì mọi tội nghiệp của quý vị sẽ tiêu tan, cũng giống "như bệnh mà được ra mồ hôi, bệnh dần dần thuyên giảm vậy." Ðiều ấy cũng tương tự như khi quý vị đau ốm nóng sốt mà cả người được ra mồ hôi, bệnh từ từ nhẹ bớt và quý vị được bình phục vậy!
 

Chương 6

Nhẫn Ác Vô Sân

(Nhịn Kẻ Ác Và Không Oán Hận)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Ác nhân văn thiện, cố lai nhiễu loạn giả, nhữ tự cấm tức, đương vô sân trách, bỉ lai ác giả, nhi tự ác chi."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Khi kẻ ác nghe các ông làm việc thiện và cố ý đến nhiễu loạn, các ông hãy tự ngăn dứt chứ không nên giận trách. Kẻ mang điều ác đến sẽ phải tự nhận lấy điều ác."

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ sáu; đại ý nói rằng thiện có thể thắng ác, còn ác thì không thể nào thắng được thiện. Trong chương trước, Ðức Phật khuyên mọi người hãy dứt bỏ điều ác, chăm làm điều lành, và sửa đổi các thói hư tật xấu để trở thành con người mới hoàn thiện hơn. Song le, vì e rằng có nhiều người lo ngại là nếu họ làm việc thiện thì sẽ bị kẻ ác đến quấy nhiễu; cho nên Ðức Phật đã thuyết giảng chương kinh này.

Ðức Phật dạy: "Khi kẻ ác nghe các ông làm việc thiện và có ý đến nhiễu loạn." Giả sử có kẻ lòng dạ ác độc nghe tin quý vị đang làm việc thiện, và hắn rắp tâm tìm tới để gây rắc rối cho quý vị. "Nhiễu loạn" tức là gây phiền phức, tạo sự rắc rối. Kẻ ác tâm ấy đến sinh sự để phá hoại việc thực hành thiện sự của quý vị.

"Các ông hãy tự ngăn dứt." Bấy giờ, quý vị cần phải tự trấn tĩnh, kiềm chế chính mình, phải giữ bình tĩnh, chớ nên hốt hoảng, cũng đừng nervous. "Chứ không nên giận trách." Quý vị không nên sanh lòng oán hận, cũng đừng trách mắng, đừng nói về những sai lầm của kẻ ác ấy.

"Kẻ mang điều ác đến sẽ phải tự nhận lấy điều ác." Những kẻ đến để quấy nhiễu, phá hoại, gây phiền phức cho quý vị sẽ chỉ tự chuốc lấy rắc rối, và tự hủy hoại, tự gây khó khăn cho chính bản thân họ mà thôi.

Ví như có tấm gương soi và trong gương hiện ra một khuôn mặt rất xấu xí; thì diện mạo rất xấu xí kia đơn thuần là hình ảnh phản chiếu của kẻ soi gương, chứ không phải bản chất tấm gương là xấu xí. Thí dụ này cho thấy rằng những kẻ ác dù có xấu xa, tồi tệ đến thế nào đi nữa, thì cái ác cũng thuộc về họ và sẽ hủy hoại chính họ. Nếu quý vị không để ý đến họ, thì sẽ không có chuyện gì cả. Nhưng nếu quý vị bắt đầu quan tâm tới họ, thì thế nào? Thì quý vị sẽ trở thành kẻ đồng lõa, cùng một phe với họ, và cũng sẽ biến thành những người độc ác y hệt như họ vậy!
 

Chương 7

Ác Hoàn Bản Thân

(Ở Ác Gặp Ác)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Hữu nhân văn ngô thủ Ðạo, hạnh đại nhân từ, cố trí mạ Phật. Phật mặc bất đối. Mạ chỉ, vấn viết: "Tử dĩ lễ tòng nhân, kỳ nhân bất nạp, lễ quy tử hồ?" Ðối viết: "Quy hỹ."

Phật ngôn: "Kim tử mạ ngã, ngã kim bất nạp; tử tự trì họa quy tử thân hỹ. Do hưởng ứng thanh, ảnh chi tùy hình, chung vô miễn ly, thận vật vi ác!'"

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: Có người nghe tiếng Phật giữ Ðạo và thực hành hạnh đại nhân từ, bèn cố ý đến mắng Phật. Phật làm thinh, chẳng đáp.

Khi người kia mắng xong, Phật hỏi: "Ông lấy lễ đãi người, người kia không nhận; lễ ấy có về lại ông chăng?"

Ðáp rằng: "Về lại!"

Phật bảo: "Nay ông mắng Ta nhưng Ta không nhận, ông tự đem họa về thân ông vậy  như vang ứng theo tiếng, như bóng hiện theo hình, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ làm điều ác!'" 

Giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ bảy. Trong chương trước có nói rằng mang điều ác đến cho người khác tức là tự chuốc họa vào thân, cho nên bây giờ Ðức Phật viện dẫn mọi tỷ dụ để chứng minh điều ấy.

Ðức Phật dạy: "Có người nghe tiếng Phật giữ Ðạo và thực hành hạnh đại nhân từ, bèn cố ý đến mắng Phật." Có kẻ nghe nói rằng Ðức Phật là một người tu Ðạo và gìn giữ Ðạo, lại còn tu hành hạnh đại nhân từ, nên cố ý tới trước mặt Ngài mà nhục mạ.

"Phật làm thinh, chẳng đáp." Mặc dầu nghe thấy người kia hủy báng mình, Ðức Phật chỉ im lặng, không lên tiếng, không nói năng gì cả.

"Khi người kia mắng xong, đợi tới khi người ấy thôi, không mắng nữa, Phật hỏi: 'Ông lấy lễ đãi người, người kia không nhận; lễ ấy có về lại ông chăng? Ông đối đãi mọi người với thái độ lễ phép, lịch sự, nhưng nếu họ không đón nhận sự lễ phép của ông thì sự lễ phép ấy có về lại nơi thân ông không?'"

"Ðáp rằng: 'Về lại!'" Kẻ nhục mạ Phật trả lời: "Ðúng thế! Tất nhiên là phải về lại với tôi. Nếu đối phương không nhận sự lễ độ và cung kính của tôi, thì tôi thu hồi lại."

"Phật bảo: 'Nay ông mắng Ta, nhưng Ta không nhận.' Bây giờ ông đến mắng Ta, song ta không nhận sự trách mắng của ông. Ông nhục mạ Ta, Ta vẫn 'như như bất động'; ông chẳng nhục mạ Ta, Ta cũng bình thản như không. Ta hoàn toàn không bị dao động bởi sự nhục mạ của ông. Ta không nhận sự nhục mạ ấy, vậy ông hãy mang nó về đi. Và, như thế tức là ông tự đem họa về thân ông vậy. Việc ông hủy báng Ta là không đúng. Họa do ông gây ra tất phải về lại thân ông. Ông ắt sẽ gặp chuyện chẳng lành, và đó là do ông tự chuốc lấy!

Cái họa ấy sẽ theo ông như vang ứng theo tiếng, như bóng hiện theo hình, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Tiếng vang thì dội lại ứng theo tiếng động, bóng thì luôn luôn theo sát bên hình, mối họa ấy cũng như thế  nhất định sẽ đeo đẳng theo ông cho tới cùng. Ông không có cách nào lẩn tránh được hậu quả của việc hủy báng Ta. Vì thế, hãy thận trọng, chớ làm điều ác! Ta hy vọng rằng tất cả mọi người đều không làm việc ác!"
 

Chương 8

Trần Thóa Tự Ô

(Gieo Gió Gặp Bão)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Ác nhân hại hiền giả, do ngưỡng thiên nhi thóa, thóa bất chí thiên hoàn tòng kỷ đọa; nghịch phong dương trần, trần bất chí bỉ hoàn bộn kỷ thân; hiền bất khả hủy, họa tất diệt kỷ."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Kẻ ác hại người hiền, như người ngước lên trời phun nước miếng, nước miếng không tới trời mà trở lại rơi nhằm mình; hoặc như người ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến nơi khác mà trở lại làm dơ mình  người hiền không hại được, mà họa tất diệt mình."

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ tám. Trong chương này, Ðức Phật dạy chúng ta không được làm điều ác, không được hãm hại người khác. Bởi vì, hại người tức là hại mình, khinh thường người khác tức là khinh thường chính mình, và xử tệ người khác tức là xử tệ chính mình vậy.

Ðức Phật dạy: "Kẻ ác hại người hiền, như người ngước lên trời phun nước miếng." "Kẻ ác" tức là người làm nhiều việc xấu xa, tồi tệ. "Người hiền" là người hiền từ và có đức độ. Khi kẻ ác độc không có đạo đức muốn hãm hại bậc hiền nhân có đạo đức, thì chẳng khác nào tự ngửa mặt lên trời mà phun nước miếng vậy. "Nước miếng không tới trời." Nước miếng phun ra hẳn nhiên là không thể nào văng lên tới trời được cả. Ðiều này ngụ ý rằng kẻ ác không thể nào hại được bậc hiền nhân. "Mà trở lại rơi nhằm mình." Nước miếng vừa phun ra ấy lại từ từ rơi xuống trúng ngay mặt của người phun. Kẻ ác tìm trăm phương ngàn kế để ám hại người hiền, thế nhưng, rốt cuộc lại thành ra là mình tự hại mình. Trên thế gian này, trước sau đều có sự hiện hữu của công lý và chân lý, của công bằng và lẽ phải, do đó, hãm hại người khác là không thể được! 

"Hoặc như người ngược gió tung bụi." "Ngược gió" tức là ngược chiều gió, trái với hướng gió thổi. Nếu đứng day mặt về hướng gió thổi mà ném bụi, thì "bụi chẳng đến nơi khác, không bay tới phía trước, mà trở lại làm dơ mình." Nắm bụi kia tất bị gió thổi tạt về và dính đầy mình mẩy người ném.

"Người hiền không hại được, mà họa tất diệt mình." Chúng ta không được hủy báng hoặc ám hại bậc hiền nhân. Quý vị hãm hại người hiền nhưng rốt cuộc thành ra tự hại mình, gieo họa cho người khác cũng là tự gieo họa cho mình; trong tương lai, chính quý vị sẽ phải chịu quả báo!
 

Chương 9

Phản Bổn Hội Ðạo

(Về Nguồn Gặp Ðạo)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Bác văn, ái Ðạo tất nan hội. Thủ chí phụng Ðạo, kỳ Ðạo thâm đại." 

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Học rộng, mến Ðạo, thì Ðạo ắt khó gặp. Giữ chí, thờ Ðạo, thì Ðạo kia rất lớn."

giảng nghĩa:

Trong chương thứ chín này, Ðức Phật dạy những người tu hành rằng họ cần phải "văn nhi tư, tư nhi tu, nhi chứng"; nghĩa là phàm nghe rồi thì phải suy gẫm, suy gẫm kỹ rồi thì tu tập theo, và tu tập xong thì chứng đắc. Chớ nên chỉ biết nói suông hoặc chỉ lắng nghe Phật Pháp, mà chẳng áp dụng vào thân. Phải thực hành, ứng dụng thực tiễn thì mới đáng kể! 

Cho nên, Ðức Phật dạy: "Học rộng, mến Ðạo." Thế nào gọi là "học rộng"? "Học rộng" tức là biết nhiều hiểu rộng. Tôn-giả A-Nan là bậc "đa văn đệ nhất," tức là người đứng đầu về khả năng "nghe nhiều hiểu rộng," và cũng có thể gọi là bậc "bác văn" (học rộng). Tuy nhiên, nếu chỉ học một cách thuần túy, chứ không quán xét những điều đã học, thì chẳng thể nào lãnh hội được những đạo lý tiềm tàng bên trong. Nếu chỉ đơn thuần dựa vào sức nhớ dai, trí nhớ tốt, có thể thuộc làu kinh điển, mà chẳng suy xét cặn kẽ và chẳng tu hành theo những điều đã học, thì cũng thành vô dụng!

"Mến Ðạo" tức là nói về những người tu Ðạo, nhận biết rằng Ðạo thật là cao quý, nhưng lại không hiểu được rằng Ðạo vốn là tự tâm và chẳng hề xa rời tự tâm, cho nên cứ hướng ra ngoài tâm để tìm Ðạo. Tuy rằng họ có lòng mộ Ðạo, nhưng cứ truy tìm ở ngoài là không đúng, và như thế "thì Ðạo ắt khó gặp." Họ cứ tìm kiếm ở ngoài tâm như thế thì chắc chắn sẽ không hiểu Ðạo và nhất định sẽ không gặp được Ðạo. Không gặp được Ðạo thì họ cũng sẽ không hiểu được Ðạo, bởi đã lạc hướng thì càng chạy chỉ càng cách xa thêm mà thôi!

"Giữ chí, thờ Ðạo." Thế nào gọi là "giữ chí"? "Giữ chí" tức là không khởi vọng tưởng, không truy tìm bên ngoài. Có câu:

Cầu chư kỷ, bất cầu chư nhân;

Cầu nội, bất cầu ngoại.

(Cầu ở mình, chớ cầu ở người;

Tìm ở trong, chớ tìm ở ngoài.)

Bên trong, niệm niệm phải tỏ ngộ, niệm niệm phải sáng suốt, niệm niệm phải hướng về tâm Bồ-đề, không cầu danh cũng không cầu lợi. Không có tâm cầu danh cầu lợi tức là "giữ chí" vậy.

Thế nào gọi là "thờ Ðạo"? "thờ Ðạo" tức là tôn kính và duy trì Ðạo. Như vậy, "giữ chí", thờ Ðạo" có nghĩa là niệm niệm không xa rời tự tâm, niệm niệm đều thể hội nguồn tâm của mình, đều biết rõ bản thể của tự tâm; và tuyệt nhiên không truy cầu, tìm kiếm bên ngoài.

Thì Ðạo kia rất lớn." Nếu quý vị có thể tu hành như thế, thì tự nhiên sẽ đạt được thành quả rất lớn lao!

Chương 10

Hỷ Thí Hoạch Phúc

(Hoan Hỷ Bố Thí Tất Ðược Phước)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Ðổ nhân thí đạo, trợ chi hoan hỷ, đắc phúc thậm đại. 

Sa-môn vấn viết: "Thử phúc tận hồ?"

Phật ngôn: "Tỷ như nhất cự chi hỏa, số thiên bách nhân, các dĩ cự lai phân thủ, thục thực, trừ minh; thử cự như cố. Phúc diệc như chi."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Thấy người tu đạo bố thí mà hoan hỷ trợ giúp thì sẽ được phước rất lớn." 

Có thầy Sa-môn hỏi rằng: "Phước ấy hết chăng?"

Ðức Phật đáp: "Ví như lửa của một cây đuốc, dù có vài trăm ngàn người ai nấy đều mang đuốc đến chia nhau mồi lấy lửa để về nấu ăn và xua tan bóng tối, thì ngọn đuốc kia vẫn y như cũ. Phước báo cũng như thế!"

giảng nghĩa:

Chương thứ mười là giảng về công đức của sự tùy hỷ. Biết tùy hỷ thì mình và người đều được lợi lạc, và phước báo sẽ vô cùng vô tận.

Ðức Phật dạy: "Thấy người tu đạo bố thí, nếu trông thấy người khác thực hành hạnh bố thí, mà hoan hỷ trợ giúp thì sẽ được phước rất lớn." Có ba loại bố thí là tài thí, pháp thí và vô-úy thí: 

1) Tài thí là bố thí tài sản. "Tài thí" còn được gọi là "tư-sanh-thí." Thế nào gọi là "tư-sanh-thí"? Ðó là sự bố thí vật chất nhằm giúp người khác được đủ sống. Về tài sản thì có nội tài và ngoại tài. Nội tài là tài sản bên trong bao gồm những cơ phận trong thân thể như đầu, mắt, não, tủy, da, máu, thịt, gân, xương...; và sự bố thí nội tài được gọi là "nội thí." NgoạI thí là tài sản bên ngoài tức là vàng, bạc, châu báu, quốc gia, thành trì, vợ chồng, con cái...; và sự bố thí ngoại tài được gọi là "ngoại thí."

Nếu quý vị có vàng thì có thể bố thí vàng; có bạc thì có thể bố thí bạc; có châu báu thì có thể bố thí châu báu; có quốc gia thì có thể nhường quốc gia cho người khác; có thành trì thì có thể bố thí thành trì cho người khác; có vợ hay chồng thì có thể bố thí vợ hay chồng mình cho người khác; và có con cái thì cũng có thể bố thí con cái của mình cho người khác. Ðó đều là ngoạI thí. Nếu quý vị có thể cho kẻ khác đầu, mắt, não, xương tủy, da, máu, thịt, gân, xương... của bản thân mình, thì đó là nội thí vậy.

Trên đây là nói về tài thí.

2) Pháp thí là bố thí Pháp. "Pháp thí" tức là giảng giải ba môn học Giới-Ðịnh-Huệ, mang những giáo pháp này ra bố thí, khiến cho người khác được vô số lợi ích.

3) Vô-úy thí là bố thí sự không sợ hãi. Khi có người gặp cơn hoạn nạn hoặc có điều gì lo sợ, mà quý vị có thể làm vơi bớt nỗi thống khổ vì sợ hãi cho họ, thì đó là vô-úy thí.

Khi thấy người khác thực hành hạnh bố thí mà quý vị có thể vui mừng theo và khen ngợi, khuyến khích họ, thì quý vị sẽ được phước báo vô cùng lớn lao. Những kẻ ngu si có thể sẽ nói rằng: "ồ! Tôi đứng ra bố thí, còn người khác chỉ tùy hỷ, ủng hộ thôi mà cũng được phước báo to lớn, vậy thì phước báo của tôi hết mất sao?" Vì e rằng có kẻ ngu si nghĩ ngợi lẩn thẩn như thế nên mới có cuộc vấn đáp sau đây:

Có thầy Sa-môn hỏi rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Phước ấy hết chăng? Phước ấy có thể bị mất không?" Ý nói là người đứng ra bố thí thì được phước, kẻ có lòng tùy hỷ cũng được phước rất lớn; như thế thì phước của người bố thí vẫn còn đó hay là bị kẻ kia đoạt mất rồi?

Ðức Phật đáp: "Ví như lửa của một cây đuốc, dù có vài trăm ngàn người ai nấy đều mang đuốc đến chia nhau mồi lấy lửa. Thí dụ chỉ có độc nhất một mồi lửa, mà lại có tới cả trăm ngàn người dùng chung, cùng chia nhau mồi lấy lửa để về nấu ăn và xua tan bóng tối." "Nấu ăn" tức là dùng lửa này để nhóm bếp mà nấu thức ăn. "Xua tan bống tối" tức là lấy lửa này làm đèn để soi sáng chỗ tối tăm u ám.

"Thì ngọn đuốc kia vẫn y như cũ. Ngọn lửa của cây đuốc chính vẫn nguyên vẹn như lúc ban đầu, tuyệt nhiên không bị lu mờ hoặc dập tắt. Phước báo cũng như thế, không khác!"

Thí dụ này ngụ ý rằng những người tu Ðạo bằng cách thực hành hạnh bố thí, thì trong tương lai vẫn có thể chứng đắc quả vị. "Nấu ăn" là một tỷ dụ, ám chỉ sự chứng đắc quả vị. "Xua tan bóng tối" tức là quét sạch mọi mê hoặc do tam chướng ; nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng ; gây ra.

Vậy, nhờ công đức tu hạnh bố thí mà quý vị có thể chứng được quả vị, dứt trừ tam-chướng, và đồng thời những người có lòng tùy hỷ, ủng hộ quý vị cũng chứng được quả vị, dứt trừ được tam-chướng  không ai là không có phần trong công đức này cả.


x
Souce: Vạn Phật Thánh Thành

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap