| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
Hòa Thượng Tuyên Hóa (Giảng năm 1974 Tại Kim Sơn Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ)
Xả ái Ðắc Ðạo (Bỏ ái Dục Tất Ðắc Ðạo) Kinh Văn: Phật ngôn: "Nhân hoài ái dục, bất kiến Ðạo giả; tỷ như trừng thủy trí thủ giáo chi, chúng nhân cộng lâm, vô hữu đổ kỳ ảnh giả. Nhân dĩ ái dục giao thố, tâm trung trọc hưng, cố bất kiến Ðạo. Nhữ đẳng Sa-môn đương xả ái dục; ái dục cấu tận, Ðạo khả kiến hỹ." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục chẳng thấy được Ðạo, ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên, khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ. Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Ðạo. Sa-môn các ông phải xả bỏ ái dục, cấu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Ðạo!" giảng nghĩa: Chương thứ mười sáu nói về tâm của người đời chúng ta. "Nước tâm" (tâm thủy) vốn lóng trong, nhưng nếu quý vị khuấy lên thì nước ấy sẽ không còn trong nữa. Như vậy, sự lóng trong là gì? Là Ðạo! Còn không lóng trong là gì? Là ái dục! Chính lòng tham ái và tham dục gây chướng ngại, khiến chúng ta không thể minh tâm kiến tánh, không thấy được Ðạo, không chứng được quả vị. Chứng được Sơ-quả A-la-hán là đạt đến ngôi vị Kiến Ðạo, tức là đã thấy được Ðạo vậy. Ðức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục..." Giảng cái pháp này cho người Tây phương nghe thì thật khó mà giảng cho thông, vì đa số người Tây phương bất luận chuyện gì cũng đều nhắc tới ái, nói tới dục. Ðặc biệt là có những tín đồ của nhiều giáo phái còn nói: "Giáo-chủ yêu tôi và tôi yêu giáo-chủ!" Giữa họ và "giáo-chủ" của họ có mối quan hệ luyến ái như giữa nam và nữ vậy. Thậm chí, có nhiều nữ tín đồ còn dám nói là họ đã married, đã kết hôn với "giáo-chủ" của họ nữa. Thật là những kẻ chẳng hiểu gì về Ðạo cả! Những người cứ ôm giữ lòng ái dục, thâm tâm chỉ toàn nhớ tưởng tới ái tình và dục vọng, thì "chẳng thấy được Ðạo." Nếu quý vị tu Ðạo nhưng lại không hiểu Ðạo, thì sẽ một mặt tu hành, một mặt hủy hoại sự tu hành của mình  khuyên quý vị phải dứt bỏ lòng ái dục thì lòng ái dục của quý vị lại càng gia tăng! "Ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên." Khi bị lòng tham ái và tham dục xâm chiếm thì quý vị không thể thấy được Ðạo; giống như việc gì? Giống như nước đã lóng trong mà quý vị lại lấy tay khuấy lên, làm cho đục vậy. Sở dĩ như thế là vì trong nước ấy có đất cát, bùn, bụi bặm. Nếu trong nước hoàn toàn không có cát và bùn, thì quý vị có khuấy thế nào đi nữa, nước cũng chẳng bị đục! Cát và bùn ở đây tượng trưng cho cái gì? Tượng trưng cho ái và dục  ái tình và dục vọng ví như bụi bặm, bùn đất trong nước. Khi lòng tham ái và tham dục của quý vị dấy khởi, thì cũng giống như quý vị lấy tay khuấy đục nước, "khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ" vậy. Tất cả những người đứng cạnh bờ nước đều không thấy có bóng mình phản chiếu trên mặt nước; vì sao? Vì nước đã bị khuấy đục! Vì sao quý vị không thấy được Ðạo? Vì lòng tham ái và tham dục làm cho quý vị trở thành u mê tăm tối! "Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Ðạo." Từ sáng đến tối, họ chỉ nghĩ đến ái tình và dục vọng  những ý tưởng bất tịnh, không trong sạch. Vì bị lòng tham ái và tham dục xáo trộn, chi phối, nên họ không nghĩ tới điều gì khác ngoại trừ ái và dục. Trong tâm họ, cấu trược dấy lên làm đục "nước trí huệ" (trí huệ thủy)  họ không còn sáng suốt, không còn trí huệ nữa; và do đó, họ chẳng hiểu được Ðạo. Quý vị ngày ngày miệt mài tu hành mà vẫn không chứng được quả vị, chẳng thấy được Ðạo, là vì sao? Vì quý vị vẫn còn lòng tham ái và tham dục! Nếu không có tâm ái dục thì quý vị sẽ thấy được Ðạo rất mau chóng. Vì thế Ðức Phật căn dặn: "Sa-môn các ông phải xả bỏ ái dục." Ở đây Sa-môn là bao gồm tất cả các Tỳ-khưu và Tỳ-khưu ni chúng ta hiện nay. Tất cả chúng ta đều nên dứt bỏ lòng tham ái và tham dục. Dứt bỏ ái dục không có nghĩa là phải tuyên bố: "Tôi rất ghét phái nữ. Hễ gặp họ là tôi nổi nóng, đuổi họ đi ngay!" Không phải như thế! Vậy thì phải như thế nào? Phải "nhìn mà như không thấy, nghe mà như chẳng nghe!" Quý vị không nhất thiết phải căm ghét họ; tuy nhiên, cũng chớ vì họ mà xao xuyến, khởi tâm động niệm, hoặc bị họ chi phối. Trong câu "xả
bỏ ái dục," thì "xả bỏ" có nghĩa là bố thí, đem cho. Thí
dụ quý vị bố thí tiền bạc, thì một khi đã cho người
ta rồi tức là quý vị không có số tiền đó nữa - quý vị
đã xả bỏ số tiền ấy. Thế thì, để xả bỏ ái dục,
quý vị nên xả cho ai? Hãy đem cho cha mẹ của quý vị vậy!
"Cáu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Ðạo!"
Khi lòng tham ái và dục niệm  những rác rưởi dơ
bẩn  đều không còn nữa, thì quý vị có thể thấy
được Ðạo, chứng được quả vị.
Chương 17 Minh Lai ám Tạ (ánh Sáng Ðến, Bóng Tối Tan) Kinh Văn: Phật ngôn: "Phu kiến Ðạo giả, tỷ như trì cự nhập minh thất trung; kỳ minh tức diệt, nhi minh độc tồn. Học Ðạo kiến đế, vô minh tức diệt, nhi minh thường tồn hỹ." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người thấy được Ðạo ví như kẻ cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối lập tức tan biến, chỉ còn lại ánh sáng. Học Ðạo mà thấy được chân lý thì vô minh liền dứt, ánh sáng sẽ thường còn." giảng nghĩa: Chương thứ mười bảy cho thấy rằng vô minh vốn không có thể tánh. Chính vì không có thể-tánh cho nên hễ vô minh biến mất là biến mất hẳn. Một khi quý vị thấy được Ðạo thì vô-minh sẽ tiêu tan. Ðức Phật dạy: "Người thấy được Ðạo ví như kẻ cầm đuốc đi vào phòng tối." Những người thấy được Ðạo thì chẳng khác nào kẻ cầm bó đuốc đang cháy trên tay mà đi vào một căn phòng tối tăm, u ám; khiến cho "bóng tối lập tức tan biến, chỉ còn lại ánh sáng." Sự sáng sủa tồn tại là nhờ ánh lửa tỏa ra từ bó đuốc. Bó đuốc tượng trưng cho trí huệ của con người, và ngụ ý rằng nếu chúng ta có trí huệ thì sẽ phá tan được vô-minh. Vô-minh tức là căn phòng tối tăm, hắc ám. Nếu quý vị có trí huệ thì căn phòng tối tăm ấy sẽ trở thành sáng sủa; cho nên nói rằng "chỉ còn lại ánh sáng." "Học Ðạo mà
thấy được chân lý thì vô minh liền dứt, ánh sáng sẽ thường
còn." Những người học Ðạo mà có thể thấy được chân
lý, thì sự vô-minh của họ lập tức biến mất. Hễ vô-minh
biến mất thì trí huệ sẽ mãi mãi tồn tại vậy!
Chương 18 Niệm Ðẳng Bổn Không (ý Niệm Và Mọi Thứ Vốn Là Không) Kinh Văn: Phật ngôn: "Ngô Pháp, niệm vô niệm niệm, hành vô hành hạnh, ngôn vô ngôn ngôn, tu vô tu tu. Hội giả cận nhĩ, mê giả viễn hồ. Ngôn ngữ đạo đoạn, phi vật sở câu, sai chi hào ly, thất chi tu du." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: " Pháp của Ta là nghĩ, nghĩ mà không nghĩ; là làm, làm mà không làm; là nói, nói mà không nói; là tu, tu mà không tu. Kẻ biết thì gần, người mê thì xa; đường ngôn ngữ đứt hết, chẳng bị vật gì ràng buộc; sai đi một ly ắt mất trong khoảnh khắc." GIẢNG NGHĩA: Chương thứ mười tám nói về mối tương quan giữa sự hiện hữu với sự không hiện hữu của ý niệm và tu hành. Ðức Phật dạy: "Pháp của Ta là nghĩ, nghĩ mà không nghĩ." Ðức Phật dạy rằng: "Giáo pháp của Ta, về mặt ý nghĩ thì cần phải không có một ý nghĩ nào cả, ngay cả cái ý nghĩ "không nghĩ cũng chẳng tồn tại nữa. Do đó, Pháp của Ta được gọi là 'nghĩ, nghĩ mà không nghĩ' vậy." "Là làm, làm mà không làm. Trong giáo pháp của Ta, tu hành cũng là dùng 'vô công dụng Ðạo'1. Tu hành thì đừng nên có sự chấp trước. Phải tu hành như không tu hành vậy; thậm chí cả chữ 'hành' trong 'không tu hành' cũng chẳng còn nữa." "Là nói, nói mà không nói." "Nói tức là lời ăn tiếng nói. Chớ nên chấp trước vào ngôn ngữ, văn tự. Lại nữa, phải từ bỏ luôn cả những tư tưởng và ý niệm về sự không chấp trước vào ngôn từ. "Là tu, tu mà không tu." Khi tu thì cũng là cái tu của 'vô công dụng Ðạo'  tu mà chẳng tu, chứng mà chẳng chứng. Tu Ðạo, song không có một ý tưởng gì về 'tu Ðạo' cả. Những thứ này đều không nên có! Như thế tức là chẳng có bất cứ sự chấp trước nào cả; mọi chấp trước đều trở thành 'không', và ngay cả cái 'không' ấy cũng phải làm cho thành 'không' luôn! "Kẻ biết thì gần." Nếu quý vị thấu hiểu được đạo lý này, tức là quý vị đang ở gần với Ðạo, chẳng còn cách Ðạo bao xa nữa. "Người mê thì xa." Nếu quý vị chưa hiểu rõ và vẫn còn mê muội về Ðạo lý này, thì quý vị còn ở cách Ðạo rất xa. Như vậy, xét cho cùng thì Ðạo là như thế nào? Ðể tôi bảo cho quý vị biết, đó là "đường ngôn ngữ đứt hết." Có nói cũng không diễn đạt bằng lời được, mà có nghĩ cũng chẳng đúc kết thành ý đặng! "Ðường ngôn ngữ đứt hết" tức là không thể dùng lời nói để diễn tả sự kỳ diệu này; nên nói rằng: Ngôn ngữ đạo đoạn, Tâm hành xứ diệt. (Dứt đường ngôn ngữ, Diệt chốn tâm hành.) Ðường nói năng bị cắt đứt và chỗ hành sự của tâm bị đình chỉ. Những gì mà cái tâm muốn nghĩ tưởng tới cũng không còn, hết thảy mọi thứ đều trống rỗng. "Chẳng bị vật gì ràng buộc, bởi sự vật cũng là bổn thể của Chân-như." Nếu quý vị đạt được cảnh giới này, thì quý vị sẽ thấy rằng sông, núi, đất đai, và tất cả vạn vật với muôn hình vạn trạng đều là bổn thể của Chân-như. Bấy giờ, quý vị sẽ không còn bị ràng buộc bởi sự vật nữa. "Sai đi một ly,
ắt mất trong khoảnh khắc." Ðối với phương pháp tu hành
này, nếu quý vị sơ hở hoặc sai lệch dù chỉ một đường
tơ kẽ tóc, thì nội trong một thời gian rất ngắn ngủi,
lập tức bị lạc đường ngay, tìm không thấy nữa. Cho nên,
cần phải tự mình phá tan mọi chấp trước thì mới có thể
đạt được cảnh giới này!
Chương 19 Chân Giả Tinh Quán (Quán Xét Cả Thật Lẫn Giả) Kinh Văn: Ỡụảặế[ẵỦỠaờẻỡDằ`ế[ặ@ãÉờẻỡDằ`ế[ếFẩằớYâƯặẳỠpãOởéấỦằoẫDăe Hán Văn: Phật ngôn: "Quán thiên địa, niệm phi thường; quán thế giới, niệm phi thường; quán linh giác, tức Bồ-đề; như thị tri thức, đắc Ðạo tật hỹ." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Quán trời đất, nghĩ là chẳng phải thường; quán thế giới, nghĩ là chẳng phải thường; quán linh-giác tức là Bồ-đề; hiểu được như thế thời đắc Ðạo rất chóng vậy." giảng nghĩa: Trong chương thứ mười chín này, Ðức Phật dạy chúng ta nên quán tưởng đạo lý "nhất thiết duy tâm tạo (tất cả đều do tâm)," đồng thời cần phải gạt bỏ mọi sự giả dối, chỉ giữ gìn chân thật. Trời thì ở trên bao trùm lấy chúng ta, đất thì ở dưới nâng đỡ chúng ta. Ðối với kẻ phàm phu thì trời và đất đều "thường trụ, bất hoại (còn hoài, không hư)." Thật ra, trời và đất cũng có sự "thay cũ đổi mới," chứ không phải là hằng thường, bất biến. Ðức Phật dạy: "Quán trời đất, nghĩ là chẳng phải thường." Quán sát trời và đất, quý vị sẽ thấy rằng trong trời đất có khi lạnh, khi nóng  lạnh đến, nóng đi  và có sự tuần hoàn của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Trên mặt đất thì có núi, có sông; và cả núi lẫn sông cũng đều hỗ tương biến thiên, dời đổi, chứ không phải là cố định. Những hiện tượng ấy nói lên pháp sanh diệt, chứ không phải pháp bất sanh diệt trong tâm. Do đó, Ðức Phật dạy chúng ta hãy nên nghĩ tới sự vô thường của trời và đất. "Quán thế giới, nghĩ là chẳng phải thường." "Thể" có nghĩa là "thiên lưu," tức là biến thiên, đổi dời. "Giới" có nghĩa là "phương vị," tức là phương hướng và vị trí. Thế và giới  thời gian và nơi chốn  cũng có sanh có diệt, và cũng không phải là thường trụ, bất hoại. Cho nên, Ðức Phật dạy chúng ta hãy nghĩ đến sự vô thường của thế giới. "Quán linh-giác là Bồ-đề." Quý vị hãy quán tưởng cái linh tánh giác ngộ, sáng láng  linh minh giác tánh  của chính mình là tánh Bồ-đề. "Hiểu được
như thế thời đắc Ðạo rất chóng vậy." Nếu quý vị có
thể nghiên cứu như thế, nhận thức được như thế, biết
rõ được như thế, thì sẽ đắc Ðạo rất nhanh. Vì quý
vị hiểu được đạo lý này nên quý vị sẽ đắc đạo.
Nếu không lãnh hội được đạo lý này thì chẳng thể nào
đắc Ðạo được!
Chương 20 Suy Ngã Bổn Không (Suy Ra Cái "Ta" Vốn Là Không) Kinh Văn: Phật ngôn: "Ðương niệm thân trung tứ đại, các tự hữu danh, đô vô ngã giả; ngã ký đô vô, kỳ như huyễn nhĩ." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Nên nghĩ đến tứ đại trong thân, mỗi thứ tự nó có tên, không có cái nào là 'ta' cả. Cái 'ta' đã không có thì nó chỉ như huyễn như hóa mà thôi." giảng nghĩa: Ðại ý của chương thứ hai mươi là mọi người nên dùng (bốn chất lớn) để quán xét thân người, ngõ hầu ý thức được thân này chỉ như huyễn như hóa, giả tạm, không thật. Ðức Phật dạy: "Nên nghĩ đến tứ đại trong thân." Chúng ta nên ngẫm nghĩ về tứ đại trong thân mình. Thân thể của chúng ta vốn do bốn yếu tố là đất, nước, lửa, và gió (không khí) kết hợp với nhau mà hình thành. Trong thân chúng ta, những phần rắn chắc là thuộc về yếu tố đất (địa đại), ẩm ướt là thuộc về yếu tố nước (thủy đại), ấm áp là thuộc về yếu tố lửa (hỏa đại), hơi thở vô ra và sự chuyển động là thuộc về yếu tố gió hoặc chất khí (phong đại). "Mỗi thứ tự nó có tên." Mỗi một yếu tố trong tứ đại đều có tên của nó  yếu tố nào thì có tên của yếu tố nấy. Tuy nhiên, "không có cái nào là 'ta' hoặc 'tôi' cả." Nếu nói rằng cái thân này là "tôi," thì quý vị hãy xét lại xem  đầu thì có tên là "đầu"; chân có tên là "chân"; mắt có tên là "mắt"; tai có tên là "tai"; mũi có tên là "mũi"; lưỡi có tên là "lưỡi"; miệng có tên là "miệng." Từ đầu tới chân, mỗi bộ phận trên cơ thể đều có tên của nó. Cơ phận nào thì có tên của cơ phận đó, vậy quý vị hãy nói đi, cái "tôi" nằm ở đâu? Chỗ nào được gọi là "tôi"? Chẳng có nơi nào gọi là "tôi" cả! Như vậy, đã không có một nơi nào tên "tôi," thì tại sao quý vị lại chấp trước vào cái "tôi"? Tại sao lại quá coi trọng cái "tôi" như thế? Khắp cơ thể chẳng có cái gì tên "tôi," chẳng có cái gì là "tôi" cả kia mà! "Cái 'ta' đã không có, thì nó chỉ như huyễn như hóa mà thôi." Vì không có cái "tôi," nên xác thân này giống như một thứ ảo ảnh hoặc biến hóa tạm bợ, chứ không có thật. Bất luận là năng-quán (người quán tưởng) hay sở-quán (đối tượng quán tưởng), tất cả đều là hư vọng, đều là huyễn hóa. Nếu hiểu được đó là giả tạm, như huyễn như hóa, tất quý vị sẽ thấu triệt được đạo lý không-quán, giả-quán, và trung-quán. Khi đã lãnh hội được những đạo lý ấy, thì quý vị sẽ biết rằng thân người vốn là hư vọng, không thật! Chú Thích: - Tứ Ðại: Bốn chất lớn trong thế giới tạm hiệp làm con người và vạn vật: 1) Ðịa (đất  chất cứng); 2) Thủy (nước  chất lỏng); 3) Hỏa (lửa  sức nóng); và 4) Phong (gió  chất khí, sự lay chuyển). - Tam quán (ba mỗi
quán tưởng): 1) Không quán (xét ra sự vật đều không có
thật tánh, thật tướng, mọi pháp vốn không); 2) Giả quán
(xét rằng vạn vật, chư pháp đều biến hóa vô thường,
đều là giả, tạm cả); 3) Trung quán hay Trung-đạo quán (phải
quán cho đắc lẽ Trung  đạo chẳng phải
không, chẳng phải giả. Ðó là chỗ trọng yếu của đạo
Phật vậy).
Chương 21 Danh Thanh Táng Bổn (Danh Vọng Hại Người) Kinh Văn: Phật ngôn: "Nhân tùy tình dục, cầu ư thanh danh; thanh danh hiển trước, thân dĩ cố hỹ. Tham thế thường danh, nhi bất học Ðạo, uổng công lao hình. Tỷ như thiêu hương, tuy nhân văn hương, hương chi tẫn hỹ, nguy thân chi hỏa, nhi tại kỳ hậu." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người theo tình dục mà truy cầu thanh danh, khi thanh danh rỡ ràng thì thân đã chết rồi! Tham thứ thường danh ở đời mà chẳng học Ðạo, thì chỉ uổng công mệt xác. Ví như đốt hương, tuy người được ngửi mùi hương nhưng khi hương kia cháy hết, thì thứ lửa hại thân liền theo sau." giảng nghĩa: Ðại ý chương thứ hai mươi mốt là dạy cho người đời hiểu rõ rằng tham cầu tiếng tăm, danh vọng, thì chẳng những không được lợi ích gì cả mà còn có hại nữa. Ðức Phật dạy: "Người theo tình dục, những người chạy theo tình cảm và dục vọng của riêng họ mà truy cầu thanh danh..." "Truy cầu thanh danh" tức là đeo đuổi, mong muốn được danh thơm tiếng tốt. Thế nhưng, "khi thanh danh rỡ ràng thì thân đã chết rồi." Ðến khi được hiển đạt, công thành danh toại, thì họ cũng già rồi; mà đã già thì cái chết cũng cận kề. Cho nên, danh lợi chẳng có ý nghĩa gì cả! "Tham thứ thường danh ở đời, mà chẳng học Ðạo, thì chỉ uổng công mệt xác." Những kẻ tham đắm thứ danh vọng tầm thường của thế tục và không chịu tu tập để thành Ðạo quả, thì chỉ uổng phí công phu, khổ nhọc thân xác mà thôi. "Ví như đốt
hương, tuy người được ngửi mùi thơm, nhưng khi hương kia
cháy hết, thì thứ lửa hại thân liền theo sau." Thí dụ quý
vị đốt một mẩu hương. Mặc dù quý vị được ngửi mùi
hương thơm lan tỏa, nhưng sau khi hương cháy lụn hết, thì
đốm than hồng còn âm ỉ trong đám tro có thể sẽ cháy bùng
lên và thiêu chết quý vị. Cho nên nói rằng "thứ lửa hại
thân liền theo sau" - sự nguy hiểm đang chực ở đằng sau
và có thể sắp sửa xảy ra.
Chương 22 Tài Sắc Chiêu Khổ (Tiền Của Và Sắc Dục Mang Lại Ðau Khổ) Kinh Văn: Phật ngôn: "Tài sắc ư nhân, nhân chi bất xả, tỷ như đao nhận hữu mật, bất túc nhất san chi mỹ, tiểu nhi thỉ chi, tắc hữu cát thiệt chi hoạn." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Ðối với tiền của và sắc dục, người ta không bỏ được; ví như có chút mật dính trên lưỡi dao, chẳng đủ cho một bửa ăn ngon, đứa bé liếm lấy ắt mắc cái họa đứt lưỡi." giảng nghĩa: Chương thứ hai mươi hai giảng rõ rằng tiền của và sắc dục tuy có ít hương vị, nhưng sự tác hại của chúng thì lại rất to lớn. Cho nên, người có trí huệ đừng như đứa trẻ khờ dại ham thích vị ngọt. Ðức Phật dạy: "Ðối với tiền của và sắc dục, người ta không bỏ được." Thế gian này có hai thứ hãm hại rất nhiều người tu Ðạo; đó là tiền của và sắc dục. Những người tu Ðạo mà không thể xả bỏ của cải thì sẽ tham tài, không thể xả bỏ sắc dục thì sẽ tham sắc. Nếu quý vị còn tham tài háo sắc, thì dứt khoát không thể nào thành tựu được Ðạo-quả. Hầu hết người đời đều không thể từ bỏ được tiền của và sắc dục; tương tự như việc gì? Ðến đây, Ðức Phật đưa ra một tỷ dụ: "Ví như có chút mật dính trên lưỡi dao, chẳng đủ cho một bữa ăn ngon, đứa bé liếm lấy ắt mắc cái họa đứt lưỡi." Giả sử có một con dao và trên lưỡi dao bén có dính một chút mật, chẳng đủ để ăn một bữa cho thỏa thích. Ðứa bé trông thấy mật trên lưỡi dao thì liền liếm lấy. Ở đây, "mật" là dụ cho tiền của và sắc dục. Kẻ phàm phu thiếu hiểu biết, tham tài tham sắc, thì chẳng khác nào đứa bé khờ dại tham ăn chút mật ngọt dính trên lưỡi dao, có nguy cơ bị cắt đứt lưỡi. Cho nên, đối
với tiền của và sắc dục, chúng ta cần phải có cái nhìn
thấu triệt và phải biết buông bỏ, thì mới đạt được
sự tự tại.
Chương 23 Thê Tử Thậm Ngục (Gia Ðình Còn Tệ Hơn Lao Ngục) kink văn: Phật ngôn: "Nhân hệ ư thê tử, xá trạch, thâm ư lao ngục. Lao ngục hữu tán thích chi kỳ, thê tử vô viễn ly chi niệm. Tình ái ư sắc, khởi đoạn khu trì. Tuy hữu hổ khẩu chi hoạn, tâm tồn cam phục. Ðầu nê tự nịch, cố viết phàm phu. Thấu đắc thử môn, xuất trần La-hán." Dịch Nghĩa: Ðức
Phật dạy: "Người ta bị vợ con và nhà cửa ràng buộc còn
hơn cả lao ngục. Lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ
con không một ý nghĩ xa lìa; há chẳng sợ tình ái cùng sắc
dục lôi cuốn? Dẫu có cái họa sa nơi miệng hùm, lòng cũng
cam chịu. Vì tự đắm mình nơi lầy lội nên gọi là phàm
phu; vượt qua được cửa ải này là bậc La-hán xuất trần."
giảng nghĩa: Chương thứ hai mươi ba nói rằng người đời bị chôn vùi trong gia đình và nhà cửa của chính họ. Bị chôn vùi như thế thì còn khổ sở hơn là ở tù nữa; do đó, mọi người nên tránh xa tình cảnh này, đồng thời, cần phải nhận thức được tầm lợi hại của nó. Ðức Phật dạy: "Người ta bị vợ con và nhà cửa ràng buộc còn hơn cả lao ngục." "Bị vợ con ràng buộc" tức là bị vợ (chồng), con cái làm cho vướng bận. Con người cũng bị ràng buộc bởi nhà cửa. Cho nên nói rằng kẻ tại gia mang trên người ba cái ách, ngày ngày đều phải mang gông đeo cùm. Gia đình ví như cái gông bằng gỗ khóa chặt trên cổ, không có cách gì tháo ra được. (Thuở xưa, đóng gông là một trong những hình phạt dành cho kẻ phạm pháp.) Có gia đình thì chẳng khác nào bị đeo gông vào cổ. Trong số quý vị hiện diện ở đây cũng có một vài cư sĩ đã lập gia đình và bị mất tự do. Họ muốn lên trời mà không lên được, muốn xuống đất cũng xuống không xong, bởi họ đã bị "khóa chân" ở nhà. Do bị vợ (chồng) ràng buộc nên làm việc gì cũng vướng víu, khó khăn. Con cái thì ví như cái còng, thứ hình cụ đeo ở cổ tay. Người có con cái thì chẳng khác nào bị còng cả hai tay lại, khiến cho mọi cử động đều khó khăn, bất tiện. Có cha mẹ thì giống như phải mang cùm ở chân vậy. Ðó là ba cái ách mà những người có gia đình phải đeo mang. Bị vợ con và nhà cửa ràng buộc thì còn tù túng hơn là bị cầm tù nữa. Có nhà cửa mà không buông bỏ được tức là bị nhà cửa trói buộc. Cho nên, vợ con và nhà cửa cũng là một thứ nhà tù giam hãm đời người vậy. Tuy nhiên, "lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ con không một ý nghĩ xa lìa." Kẻ bị ở tù thì cũng có lúc mãn hạn và được ra tù, song những kẻ có gia đình thì chẳng muốn xa rời vợ con. Cho dù họ có nghĩ tới chuyện lìa bỏ gia đình đi nữa, thì cũng không phải là thật lòng! Chẳng hạn có nhiều người nói: "Tôi muốn xuất gia! Tôi muốn đi tu!" Nếu muốn xuất gia thì xuất gia ngay đi, chứ nói suông như thế để làm gì? Ðó chẳng qua là vì họ không hề có quyết tâm lìa bỏ gia đình, chỉ hát nghêu ngao cho vui vậy thôi! "Há chẳng sợ tình ái cùng sắc dục lôi cuốn? Những kẻ bị vợ con và nhà cửa ràng buộc này chẳng hề lo ngại rằng mình sẽ bị tình cảm, ái tình và nữ sắc lôi cuốn hoặc chi phối. "Dầu có cái họa sa nơi miệng hùm, lòng cũng cam chịu." Tuy rằng như thế thì nguy hiểm chẳng khác nào bị rơi vào hang cọp, nhưng họ lại sẵn sàng cam chịu, thà bị cọp ăn thịt mà thôi. "Vì tự đắm
mình nơi lầy lội, nên gọi là phàm phu." Bởi họ tự dấn
thân vào chốn bùn lầy, cam tâm tự đày đọa chính mình,
nên mới được mệnh danh là "hạng phàm phu." Vượt qua được
cửa ải này là bậc La-hán xuất trần." Cửa ải nào? Ðó
là các "cửa ải" tình dục, tình ái, sắc đẹp, cùng "cửa
ải" gia đình và nhà cửa. Nếu có thể vượt qua các cửa
ải này trót lọt, tức là quý vị đã "quá quan" ; đã thắng
được sự thử thách cam go ; và được trở thành những bậc
A-la-hán thoát tục, không còn cấu nhiễm của trần thế, hoặc
là những bậc thánh-nhân sắp chứng được quả-vị!
Chương 24 Sắc Dục Chướng Ðạo (Sắc Dục Chướng Ngại Ðường Ðạo) Kinh Văn: Phật ngôn: "ái dục mạc thậm ư sắc. Sắc chi vi dục, kỳ đại vô ngoại. Lại hữu nhất hỹ, nhược sử nhi đồng, phổ thiên chi nhân, vô năng vi Ðạo giả hỹ." Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Ðạo được cả!" giảng nghĩa: Chương thứ hai mươi bốn nói về tâm dâm dục. Ðoạn trừ được tâm dâm dục thì nhất định sẽ chứng đắc quả-vị A-la-hán; tiếc thay, không dễ gì mà đoạn trừ được nó! Ðây là khuyết điểm mà tất cả chúng sanh đều mắc phải. Trong Kinh Lăng Nghiêm có dạy rằng: "Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất." (Lòng dâm chẳng trừ, trần lao khó thoát.) Cho nên, nếu không dứt bỏ tâm dâm dục thì quý vị sẽ chẳng thể nào chứng được quả-vị A-la-hán. Ðức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục." Ở đây, "ái dục" tức là ái tình và dục vọng. Sắc dục tức là tâm dâm dục. Trong tất cả, không có gì đáng ngại bằng nữ sắc. "Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng." Theo quý vị thì lòng ham muốn sắc đẹp này như thế nào? Các thứ "đại pháp" này thì chẳng có gì lớn mạnh hơn nó  chẳng có gì có thể vượt khỏi phạm vi rộng lớn của sắc dục. "May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không có ai có thể tu Ðạo được cả." Cũng may là chỉ có một mình sắc dục mà thôi! Giả sử có thêm một thứ nữa cũng lợi hại như thế, tương tự như thế, ắt chẳng có một chúng sanh nào trên thế gian này còn tu Ðạo được nữa! Chỉ mới có một thứ thôi mà đã thấy lợi hại như thế, nếu có tới hai thứ thì chẳng mấy chốc mọi người sẽ bị chúng "nuốt chửng" hết, và chẳng có ai còn tu hành được nữa! Quý vị thấy có đáng sợ hay không? Về "sắc," cũng có trường hợp nữ giới bị mê hoặc bởi sắc đẹp của nữ giới, và nam giới bị mê hoặc bởi sắc đẹp của nam giới  cả nam và nữ đều đồng tính luyến ái. Người nam có quan hệ luyến ái với người nam, và người nữ có quan hệ luyến ái với người nữ. Ðó gọi là "bị ái dục sở mê" - bị ái tình và dục vọng chi phối, làm cho mê muội vậy! Chú Thích Tứ dục (bốn ý muốn của chúng sanh trong cõi Dục-giới từ loài ở nơi đất (địa cư), loài ở hư không, cho đến chư tiên sáu cảnh Lục-dục): 1) Tình dục (lòng ham tình). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với cảnh tình ái trai gái, khởi lòng ham muốn. 2) Sắc dục (lòng muốn sắc đẹp). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với cảnh tình ái cái sắc mềm mại, xinh đẹp của trai gái, khởi lòng ham muốn. 3) Thực dục (lòng muốn ăn). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với món ăn ngon, khởi lòng ham muốn. 4) Dâm dục (lòng muốn dâm). Chúng sanh trong cõi Dục-giới, phần nhiều đối với chỗ đụng chạm nhiễm trước trong đám trai gái, khởi lòng ham muốn. |
c
|
|||||||||||||||||||||||