THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 

 

c
Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng
Hòa Thượng Tuyên Hóa
(Giảng năm 1974 Tại Kim Sơn Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ)
00
01
02-10
11-15
16-24
25-30
31-35
36-37
38-42
Chương 31

Tâm Tịch Dục Trừ

(Tâm Vắng Lặng, Dục Vọng Dứt)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Hữu nhân hoạn dâm bất chỉ, dục tự đoạn âm. Phật vị chi viết: 'Nhược đoạn kỳ âm, bất như đoạn tâm. Tâm như công-tào, công-tào nhược chỉ, tùng giả đô tức. Tà tâm bất chỉ, đoạn âm hà ích?'"Phật vi thuyết kệ:

"Dục sanh ư nhữ ý, 

ý dĩ tư tưởng sanh.

Nhị tâm các tịch tịnh, 

Phi sắc diệc phi hành."

Phật ngôn: "Thử kệ thị Ca-Diếp Phật thuyết."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Có người lo lòng dâm dục chẳng dứt được, muốn tự đoạn âm. Phật bèn bảo rằng: 'Ðoạn âm không bằng đoạn tâm. Tâm như vị công-tào; nếu công-tào nghỉ, thì kẻ tòng sự đều nghỉ. Tà tâm chẳng dứt, đoạn âm ích gì?'"

Ðức Phật vì đó mới nói bài kệ:

"Dục sanh từ ý ông, 

ý do tư tưởng sanh.

Cả hai tâm vắng lặng, 

Phi sắc cũng phi hành."

Ðức Phật dạy: "Bài kệ này là do Ðức Phật Ca-Diếp nói."

giảng nghĩa:

Chương thứ ba mươi mốt nói rõ rằng việc đoạn trừ dục vọng phải được tiến hành từ tự tâm. Muốn biết về phương pháp "đoạn tâm," quý vị cần phải nhận thức được rằng dục vọng vốn nảy sanh từ tâm ý, mà tâm ý thì do tư tưởng mà có.

Theo quý vị thì tư tưởng của chúng ta là tự chúng nảy sinh ra, do thứ khác sanh ra, cùng nhau nảy sanh ra, hoặc không do một nhân tố nào cả mà nảy sanh ra? Quý vị cần phải tìm hiểu xem tư tưởng là ở trong, ở ngoài, hay là ở giữa trong và ngoài; và chúng thuộc về quá khứ, hiện tại, hay vị lai.

Quý vị tìm tư tưởng theo cách này, thì tư tưởng sẽ dần dần trở nên tịch tĩnh, vắng lặng, không có tự thể. Một khi tư tưởng đã vắng lặng thì tâm ý của quý vị cũng trở nên vắng lặng. Tâm ý đã vắng lặng thì dục vọng cũng lắng đọng theo. Khi dục vọng đã vắng lặng rồi, thì quý vị sẽ thấy hết thảy sắc và pháp đều giống như bóng dáng trong gương. Nếu giống như hình ảnh phản chiếu trong gương tức là không phải thật  mọi hành vi tựa hồ như bọt nổi trên mặt nước, mà bọt nước thì cũng là hư huyễn. Cho nên, chư Phật đều triển chuyển quán sát, triển chuyển truyền thọ pháp môn phương tiện điều tâm này để mọi người đều có thể theo đó mà điều phục tâm mình trước.

Ðức Phật dạy: "Có người lo lòng dâm dục chẳng dứt được, muốn tự đoạn âm." Có người mắc bệnh dâm dục, không thể nào ngừng được cái tâm dâm dục dù chỉ trong một khoảnh khắc. Vì thấy dục niệm của mình nặng nề, lợi hại như thế, người ấy bèn nghĩ cách giải quyết. Người ấy nghĩ ra cách gì? Người ấy muốn cắt bỏ nam căn của mình!

Phật bèn bảo rằng: "Ðoạn âm không bằng đoạn tâm. " Ðức Phật nói với người ấy: "Ông nói ông muốn cắt bỏ nam căn của mình, nhưng như thế vẫn không bằng cắt đứt cái tâm vọng tưởng của chính ông."

"Tâm như vị công-tào, nếu công-tào nghỉ thì kẻ tòng sự đều nghỉ." Tâm ví như một kẻ cầm đầu các công nhân, một vị công-tào vậy. Công tào là người mà bất luận làm việc gì thì y cũng làm kẻ cầm đầu  như một ông "boss" vậy. Nếu người cầm đầu mà thôi làm, thì những kẻ theo ông ta làm việc cũng đều ngưng công việc cả.

"Tà tâm chẳng dứt, đoạn âm ích gì?" Vì trong lòng dấy khởi vọng tưởng về vấn đề này, nên mới có hành vị như vậy. Nếu trong lòng không khởi vọng tưởng, tức là không có trợ duyên, thì thứ hành vi này sẽ chấm dứt. Do đó, "kẻ tòng-sự đều nghỉ" ngụ ý rằng tất cả vọng tưởng đều chấm dứt. Ðức Phật chất vấn: "Nếu ông không ngăn đứt cái tâm dâm dục này, thì cắt bỏ nam căn có tác dụng gì chứ? Biện pháp ấy hoàn toàn vô dụng!"

"Phật vì đó nói kệ." Ðức Phật cũng nhân đó mà nói cho người ấy nghe một bài kệ như sau: "Dục sanh từ ý ông." Các ý nghĩ dâm dục vốn bắt nguồn từ tâm ý của ông, do tâm ý của ông sanh ra. ý do tư tưởng sanh. Còn ý thì từ đâu mà ra? ý là do tư tưởng sanh ra. Cả hai tâm vắng lặng. Phi sắc cũng phi hành. Khi cả hai tâm của ông đều vắng lặng  tâm dục vọng đã lắng đọng và tâm chứa đựng đủ thứ tà tri tà kiến cũng đã ngừng dứt  thì sẽ không có thứ hành vi sắc dục và cũng không có thứ hành vi sắc tâm  các hành vi dục niệm đều không còn."

Phật dạy: "Bài kệ này là do Ðức Phật Ca-Diếp nói." Chính Ðức Phật Ca-Diếp đã nói bài kệ này.
 

Chương 32

Ngã Không Bố Diệt 

(Không Còn Cái "Ngã" Thì Hết Sợ Hãi)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Nhân tòng ái dục sanh ưu, tòng ưu sanh bố. Nhược ly ư ái, hà ưu hà bố?"

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người ta vì ái dục mà sanh lo, vì lo mà sanh sợ. Nếu xa lìa được ái dục thì còn gì để lo, còn gì để sợ?"

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ ba mươi hai; đại ý giải thích tại sao con người có cảm giác lo âu và sợ hãi. Chính vì có lòng tham ái và tham dục nên chúng ta mới sanh ra lo buồn và sợ sệt. Nếu cắt đứt được ái dục thì chúng ta sẽ không còn cảm thấy lo âu và sợ hãi nữa.

Từ vô lượng kiếp về trước cho đến nay, chúng ta vì nhận lầm tứ đại làm tướng của thân mình và lầm tưởng "lục trần duyên ảnh" (bóng dáng của sáu trần cảnh) là tướng của tâm mình, nên sanh ra chấp trước, tham luyến, không muốn buông bỏ chúng. Chính vì thế mà nảy sanh biết bao sự rắc rối, phiền phức. Một khi rắc rối, phiền phức nảy sanh, thì vô số lo âu và phiền não sẽ dấy khởi, và mọi nỗi sợ hãi cũng nổi dậy. 

Quán xét tứ-đại, quý vị sẽ nhận thức được rằng thân này là do tứ-đại hợp lại mà thành, chứ vốn không có một cái "ngã" hay cái "tôi"nào cả. Nếu lại quán sát "lục trần duyên ảnh", quý vị sẽ thấy rằng đó cũng là không, chẳng hề hiện hữu. Một khi quý vị biết được cái tâm này là vô thường và có thể cắt đứt lòng ái dục, thì mọi nối lo âu, sợ hãi của quý vị sẽ tự nhiên tiêu tan.

Ðức Phật dạy: "Người ta vì ái dục mà sanh lo, vì lo mà sanh sợ." Vì có ái tình và dục vọng cho nên quý vị mới có điều để lo nghĩ  có lo âu, có phiền não. Từ những lo âu và phiền não ấy sẽ nảy sanh sự sợ hãi.

Cho nên, "nếu xa lìa được ái dục thì còn gì để lo, còn gì để sợ?" Nếu quý vị có thể cắt đứt hoặc chuyển hóa được ái tình và dục niệm, thì có gì khiến quý vị phải nơm nớp, phập phồng nữa chứ? Tuyệt nhiên không còn gì cả! Con người sở dĩ có lo âu và sợ hãi là chỉ vì họ còn mê chấp và không chịu buông bỏ mà thôi!
 

Chương 33

Trí Minh Phá Ma 

(Trí Huệ Và Sự Sáng Suốt Phá Tan Chúng Ma)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Phu vi Ðạo giả, tỷ như nhất nhân dữ vạn nhân chiến. Quải khải xuất môn, ý hoặc khiếp nhược, hoặc bán lộ nhi thối, hoặc cách đấu nhi tử, hoặc đắc thắng nhi hoàn. Sa-môn học Ðạo, ưng đương kiên trì kỳ tâm, tinh tấn dũng nhuệ, bất úy tiền cảnh, phá diệt chúng ma, nhi đắc Ðạo-quả."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người hành Ðạo ví như một người chiến đấu với muôn người; mang giáp ra cửa, hoặc có ý khiếp nhược, hoặc nửa đường rồi lui, hoặc chống cự đến chết, hoặc đắc thắng mà về. 

Bậc Sa-môn học Ðạo phải giữ lòng bền vững và tinh tấn lướt tới, chẳng sợ cảnh trước, phá diệt bọn ma, chứng được Ðạo-quả."

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ ba mươi ba. Trong chương này, Ðức Phật dùng thí dụ để cho chúng ta thấy rõ rằng người tu Ðạo cần phải tu học ba môn học vô-lậu là Giới, Ðịnh, Huệ và nên một lòng một dạ tinh tấn học Ðạo.

Lấy thí dụ là có một người có nhiều điều gian dối, vô số thói hư tật xấu và đủ các thứ "hoặc" - kiến-hoặc, tư-hoặc, trần-sa hoặc - tích lũy từ vô thủy. Nếu quý vị có thể giữ tâm cho chuyên nhất mà học Ðạo, thì quý vị được ví như "một người." Nếu quý vị có rất nhiều điều giả dối, rất nhiều mối "hoặc" cùng thói hư tật xấu - những thứ ấy được ví như "muôn người." Nếu quý vị có thể thọ trì và tu tập giới hạnh thanh tịnh, thì quý vị chẳng khác nào người chiến sĩ được trang bị áo giáp và nón sắt.

Ngoài ra, nếu quý vị có thể giữ vững quyết tâm, không khiếp nhược, tức là quý vị có được sự tinh tấn xuất phát từ Giới-lực. Nếu quý vị có thể tinh tấn, dũng mãnh, không nửa đường quay về, tức là quý vị có được Ðịnh-lực. Có Ðịnh-lực thì không bỏ cuộc giữa đường, không nửa đường quay về. Lại nữa, nếu quý vị không sợ trùng trùng điệp điệp cảnh giới trước mặt, không sợ hằng hà sa số địch quân ở đằng trước đang chờ dịp để tấn công mình, thì quý vị sẽ không bị mất mạng ngay khi vừa giao chiến  đây là một thứ Huệ-lực.

Liên kết ba sức mạnh của Giới, Ðịnh, Huệ với nhau, tất sẽ dứt trừ được những thói hư tật xấu và thói quen giả dối có từ vô thủy. Vô số thói hư tật xấu này được ví như "chúng ma." Phá tan "chúng ma" thì sẽ chứng được Ðạo-quả. Chứng được Ðạo-quả tức là "chiến thắng quay về" vậy!

Ðức Phật dạy: "Người hành Ðạo ví như một người chiến đấu với muôn người." Nếu quý vị có thể chuyên tâm tu hành thì quý vị chẳng khác nào một người mà phải chiến đấu, đương đầu với cả vạn kẻ địch. Ở đây ngụ ý rằng trừ khử các thói hư tật xấu, thói giả dối, tham, sân, si, của bản thân thì cũng cam go như chiến đấu chống lại cả vạn địch quân vậy.

Người ấy "mang giáp ra cửa." Bấy giờ, quý vị cũng như người đã được trang bị áo giáp và nón sắt, sẵn sàng chiến đấu, không run sợ.

Người ấy "hoặc có ý khiếp nhược." Nếu ý chí của quý vị không kiên quyết, có vẻ như sợ sệt - đó là khiếp nhược.

"Hoặc nửa đường rồi lui." Có thể quý vị tu hành được một lúc rồi lại nản lòng chùn bước, không tu hành nữa  bỏ dở nửa chừng.

"Hoặc chống cự đến chết." Có thể là khi chiến đấu với những tập khí hư vọng và ma quân, quý vị bị bại trận, phải bỏ mình - tu hành không thành công.

"Hoặc đắc thắng mà về." Có thể là quý vị được trở về trong chiến thắng vinh quang.

"Bậc Sa-môn học Ðạo phải giữ lòng bền vững." Bền tâm vững chí, chớ bỏ dở nửa chừng, và tinh tấn lướt tới, dũng mãnh dấn thân, chỉ có tiến chứ không chịu lùi bước. Chẳng sợ cảnh trước, phá diệt bọn ma, chứng được Ðạo-quả." Nếu quý vị không khiếp sợ đông đảo địch quân ở phía trước, kiên quyết đánh bại hết thảy bè lũ Ma vương, thì tự nhiên chứng được Ðạo-quả.
 

Chương 34

Xử Trung Ðắc Ðạo 

(Giữ Trung Dung Tất Ðắc Ðạo)

Kinh Văn: Sa-môn dạ tụng Ca-Diếp Phật Di-Giáo Kinh, kỳ thanh bi khẩn, tư hối dục thối.

Phật dấn chi viết: "Nhữ tích tại gia, tằng vi hà nghiệp?" Ðối viết: "ái đàn cầm." 

Phật ngôn: Huyền hoãn như hà?" Ðối viết: "Bất minh hỹ."

"Huyền cấp như hà?" Ðối viết: "Thanh tuyệt hỹ." 

"Cấp hoãn đắc trung như hà?" Ðối viết: "Chư âm phổ hỹ."

Phật ngôn: "Sa-môn học Ðạo diệc nhiên. Tâm nhược điều thích, Ðạo khả đắc hỹ. Ư Ðạo nhược bạo, bạo tức thân bì; kỳ thân nhược bì, ý tức sanh não; ý nhược sanh não, hành tức thối hỹ; kỳ thành ký thối, tội tất gia hỹ. Ðản thanh tịnh an lạc, Ðạo bất thất hỹ."

Dịch Nghĩa: Có thầy Sa-môn ban đêm tụng kinh Di-Giáo của Phật Ca-Diếp, giọng nghe có vẻ buồn thảm, hối hận muốn thụt lùi.

Ðức Phật hỏi thầy: "Trước kia, ông ở nhà từng làm nghề gì?"

Ðáp rằng: "Thưa, con thích gảy đàn cầm."

Phật hỏi: "Dây đàn chùng thì sao?" Ðáp rằng: "Thưa, thì không rền vang được."

"Dây đàn căng thì sao"?" Ðáp rằng: "Thưa, thì âm thanh đứt đoạn."

"Chùng, căng vừa chừng thì sao?" Ðáp rằng: "Thưa, thì âm thanh phổ khắp."

Ðức Phật dạy: "Bậc Sa-môn học Ðạo cũng thế. Tâm, nếu giữ chừng mực thì Ðạo có thể chứng được. Ðối với Ðạo, nếu hấp tấp thì thân mỏi mệt; thân nếu mỏi mệt thì ý liền sanh phiền não; ý nếu sanh phiền não thì hành liền thụt lùi; hành đã thụt lùi thì tội tất thêm lên. Chỉ có thanh tịnh, an lạc thì Ðạo mới không mất vậy!"

giảng nghĩa:

Chương thứ ba mươi bốn nói về phương pháp học Ðạo. Người học Ðạo cần phải điều phục thân và tâm một cách khéo léo; không nên để cho thân và tâm bị quá căng thẳng hoặc quá ù lì, biếng nhác. 

Trong nho giáo cũng có nói rằng hễ tiến tới càng nhanh bao nhiêu, thì thối lui càng chóng bấy nhiêu! Khi tu Ðạo, quý vị không nên xao lãng hoặc quên Ðạo, nhưng đồng thời cũng đừng miễn cưỡng ép mình theo Ðạo. Ðược như thế thì đó mới là phương pháp tu Ðạo hoàn hảo; bằng không, sẽ không thành tựu Ðạo quả được. Chỉ vì quý vị không biết cách dụng công, nên cứ không vội vàng thì lại chậm chạp. Có câu:

Khẩn liễu băng, mạn liễu túng.

Bất khẩn, bất mạn, tài thành công.

(Chặt thì căng, lơi thì chùng,

Không lơi không chặt mới thành công.)

Như dây đàn chẳng hạn, nếu lên dây thật chặt thì sẽ căng quá dễ bị đứt, còn nếu buộc lỏng lẻo thì dây lại bị chùng xuống. Tu hành cũng tương tự như thế, không gấp cũng không chậm thì tu Ðạo mới thành công được.

Có thầy Sa-môn ban đêm tụng Kinh Di-Giáo của Phật Ca-Diếp. Một buổi tối nọ, có một thầy Sa-môn ngồi tụng Kinh Di-Giáo được lưu truyền từ thời Ðức Phật Ca-Diếp. Khi thầy tụng bộ kinh ấy thì giọng nghe có vẻ buồn thảm, hối hận, muốn thụt lùi. Giọng thầy nghe rất bi thiết, áo não và đượm đầy căng thẳng, hoang mang. Thầy cảm thấy rất hổ thẹn và ân hận vì thâm tâm thầy không muốn tu hành nữa. Thầy đã thối chuyển, chỉ muốn rút lui. 

Ðức Phật hỏi thầy: "Trước kia, ông ở nhà từng làm nghề gì? Khi ông còn ở nhà với gia đình thì ông làm nghề gì, có khả năng làm được việc gì?"

Ðáp rằng, thầy Sa-môn trả lời Ðức Phật: "Thưa, con thích gảy đàn cầm. Con thích tấu nhạc gảy đàn. Ðó là việc mà con thích nhất."

Ðức Phật hỏi: "Dây đàn chùng thì sao?" Ðức Phật bèn hỏi thầy ấy: "Như thế là ông biết rành về việc đành đàn chứ gì? Vậy nếu dây đàn buộc lỏng, bị chùng, thì sao?" Ðáp rằng: "Thưa, thì không rền vang." Thầy Sa-môn này mới bạch với Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn! Thì gảy không ra tiếng. Nếu dây bị chùng thì tiếng đàn nghe khàn đục, không âm vang, không ngân nga. Ðàn không lên tiếng, chẳng có âm nhạc."

"Dây đàn căng thì sao?" Ðức Phật lại hỏi: "Vậy nếu dây đàn buộc căng quá thì sao?" Ðáp rằng: "Thưa, thì âm thanh đứt đoạn." Thầy Sa-môn bạch với Phật rẳng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Thì khi gảy, dây đàn sẽ bị đứt và tiếng nhạc không còn nữa."

"Chùng, căng vừa chừng thì sao?" Ðức Phật hỏi tiếp: "Nếu dây đàn không căng cũng không chùng, mà ở vào mức tương đối giữa căng và chùng thì sao?" Ðáp rằng: "Thưa, thì âm thanh phổ khắp." Thầy Sa-môn bạch Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Thì tiếng nhạc tấu lên sẽ rền vang réo rắt, chan hòa khắp nơi, nghe rất hay!"

Ðức Phật dạy: Bậc Sa-môn học Ðạo cũng thế." Bậc Sa-môn  những người siêng năng cần mẫn tu học Giới, Ðinh, Huệ và muốn dứt sạch tham, sân, si  học Ðạo thì cũng phải giống như thế. 

"Tâm, nếu giữ chừng mực thì Ðạo có thể chứng được." Nếu quý vị không vội vàng hấp tấp, cũng không trì trệ, buông lung phóng dật, thì quý vị có thể thành Ðạo. Ðừng nôn nóng cũng đừng lười biếng, thì có thể đắc Ðạo.

"Ðối với Ðạo, nếu hấp tấp thì thân mỏi mệt." Trong lúc tu Ðạo, nếu nôn nóng vội vàng thì sẽ làm cho thân thể mệt nhọc. Hễ quý vị sốt ruột, nóng nảy, giận dữ, thì thân rất dễ bị mệt nhọc. "Thân nếu mỏi mệt, thì ý liền sanh phiền não." Một khi thân thể đã mệt mỏi, suy nhược thì ý niệm của quý vị cũng sanh phiền não, chán nản. "ý nếu sanh phiền não thì hành liền thụt lùi." Hễ phiền não nảy sanh thì sẽ dễ dàng đưa đến tâm trạng nản lòng thối chí, muốn lùi bước, muốn hoàn tục, không hăng hái tu hành nữa. "Hành đã thụt lùi thì tội tất thêm liền." Hành vi của quý vị đã thụt lùi, không còn tinh tấn nữa, thì tội nghiệp của quý vị chắc chắn sẽ gia tăng và có thể sẽ nặng nề, nghiêm trọng hơn nữa.

"Chỉ có thanh tịnh, an lạc, thì Ðạo mới không mất vậy." Chỉ cần quý vị giữ cho tâm mình luôn được trong sạch, yên vui thanh thản, thì nhất định quý vị sẽ chứng được Ðạo!"
 

Chương 35

Cấu Tịnh Minh Tồn 

(Tẩy Sạch Cấu Bẩn, Chỉ Còn Vẻ Sáng)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Như nhân đoàn thiết, khử chỉ thành khí, khí tức tinh hảo; học Ðạo chi nhân, khử tâm cấu nhiễm, hành tức thanh tịnh hỹ."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Như người luyện sắt loại bỏ chất cặn rồi làm thành đồ dùng thì đồ dùng được tinh hảo; người học Ðạo từ bỏ tâm cấu nhiễm thì hạnh liền thanh tịnh vậy."

giảng nghĩa:

Ðây là chương thứ ba mươi lăm. Trong chương này, Ðức Phật dạy: "Như người luyện sắt loại bỏ chất cặn rồi làm thành đồ dùng thì đồ dùng được tinh hảo." Người ta luyện sắt bằng cách nung chảy sắt thô rồi gạn lọc để loại bỏ cặn bã. Khi trong sắt không còn cặn bã nữa thì đem rèn hoặc đúc bất cứ vật dụng gì cũng đều vô cùng hoàn hảo cả. Nếu không lọc bỏ chất cặn trong sắt trước, thì đồ vật đúc ra sẽ không có phẩm chất tốt. 

Tương tự như thế, "người học Ðạo từ bỏ tâm cấu nhiễm thì hạnh liền thanh tịnh vậy." Tất cả chúng ta, những người tu hành, học Ðạo, cần phải gạt bỏ mọi tư tưởng dơ bẩn, ô uế ra khỏi tâm trí. Một khi mọi nhiễm ô, nhơ bợn đã bị loại trừ, thì quý vị sẽ có được tâm thanh tịnh, trong sáng. Nếu tâm cấu nhiễm không trừ khử, thì tâm thanh tịnh sẽ không hiển lộ; cũng giống như cặn bã trong sắt nếu không được loại bỏ thì chẳng thể nào rèn nên một vật dụng tinh hảo vậy. Thế nhưng, nếu được lọc sạch, trong sắt không còn chất cặn, thì sẽ rèn được những đồ vật với phẩm chất tốt.

Tất cả mọi người đều có thể thành Ðạo, và ai ai cũng là "đồ dùng" của Ðạo. Tuy nhiên, nếu không trừ khử cái tâm nhiễm ô thì quý vị sẽ không thể "chở" Ðạo (tải Ðạo), không thể thành Ðạo được. Do đó, nếu muốn cho Ðạo-quả của mình được thành tựu, thì trước hết, quý vị phải dứt trừ tâm cấu nhiễm, tẩy sạch mọi dơ bợn trong tâm!

Ở đây, "cấu nhiễm" tức là những dục vọng trong tâm, đặc biệt là những ý nghĩ về sắc dục. Không dứt bỏ lòng dâm dục tức là có cấu nhiễm; loại trừ lòng dâm dục rồi tức là không còn cấu nhiễm nữa. Khi cấu nhiễm không còn thì tâm được thanh tịnh, trong sạch ; các hạnh mà quý vị tu hành đều được thanh tịnh cả. "Hạnh" tức là "hạnh môn," phương pháp tu hành. Nếu cấu bẩn trong tâm không được trừ khử thì sẽ không đạt được sự thanh tịnh trong việc tu hành. Lòng dâm dục cố nhiên là nhơ uế, và cũng là thứ dục vọng to lớn nhất. Ngoài ra, các thói tham, sân, si, kiêu mạn và nghi hoặc cũng đều là những cấu nhiễm trong tâm. Trừ sạch các thứ cấu nhiễm này thì sự tu hành của quý vị sẽ tương ưng với Ðạo. Bấy giờ, quý vị sẽ có thể "trở về nguồn cội" (phản bổn hoàn nguyên) và tìm lại được cái tâm thanh tịnh vốn có của mình. 


x
Souce: Vạn Phật Thánh Thành

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap