THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 

 

c
Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng
Hòa Thượng Tuyên Hóa
(Giảng năm 1974 Tại Kim Sơn Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ)
00
01
02-10
11-15
16-24
25-30
31-35
36-37
38-42
Chương 36

Triển Chuyển Hoạch Thắng 

(Sự Chuyển Ðổi Thù Thắng)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Nhân ly ác đạo, đắc vi nhân nan; ký đắc vi nhân, khứ nữ tức nam nan; ký đắc vi nam, lục căn hoàn cụ nan; lục căn ký cụ, sanh trung quốc nan; ký sanh trung quốc, trực Phật thế nan; ký trực Phật thế, ngộ Ðạo giả nan; ký đắc ngộ Ðạo, hưng tín tâm nan; ký hưng tín tâm, phát Bồ-đề tâm nan; ký phát Bồ-đề tâm, vô tu vô chứng nan."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: 1) "Người ra khỏi ác đạo, được làm người là khó; 2) đã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam là khó; 3) đã được thân nam, sáu căn đầy đủ là khó; 4) sáu căn đã đủ, được sanh ra ở vùng trung tâm đất nước là khó; 5) đã sanh ra ở vùng trung tâm đất nước, gặp Phật ra đời là khó; 6) đã gặp Phật ra đời, lại được gặp bậc tu Ðạo là khó; 7) đã được gặp Ðạo, lại sanh lòng tin là khó; 8) đã sanh lòng tin, lại phát tâm Bồ-đề là khó; 9) đã phát tâm Bồ-đề, mà đạt đến chỗ vô tu, vô chứng là khó."

giảng nghĩa:

Chương thứ ba mươi sáu nói về các sự khó khăn như khó mà được mang thân người, khó mà được sinh trưởng ở vùng trung tâm đất nước, khó mà được gặp bậc Thiện-tri-thức, khó mà được gặp Phật ra đời, v.v...

Ðức Phật dạy: 

1. "Người ra khỏi ác đạo, được làm người là khó." Tam ác đạo (ba đường ác) tức là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Thoát khỏi ba đường ác và được sanh làm người là điều không phải dễ!

Khi Ðức Phật còn trụ thế, Ngài đã có lần nêu ra một vấn đề để các đệ tử cùng nhau suy gẫm. Vấn đề gì? Một hôm nọ, Ðức Phật bốc một nắm đất lên rồi hỏi chư đệ tử: "Các ông hãy cho Ta biết: Là đất trong lòng bàn tay Ta nhiều hay đất trên đại địa nhiều? Các ông mỗi người đều phải trả lời câu hỏi của Ta."

Tất cả đệ tử của Phật đều đáp: "Bạch Ðức Thế Tôn! Ðương nhiên là đất trong lòng bàn tay của Phật thì ít hơn đất trên đại địa!" Ðó là một sự kiện hiển nhiên, đâu có gì đáng phải thắc mắc?

Bấy giờ, Ðức Phật mới bảo chúng đệ tử rằng: "Số chúng sanh có thể thoát khỏi ba ác đạo - địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh - và được làm người trở lại cũng ít ỏi như nắm đất trong tay Ta; còn số chúng sanh vẫn còn luẩn quẩn trong trong ba đường ác và không được mang thân người, thì nhiều như đất cát trong đại địa vậy!"

Ðiều này chứng tỏ rằng thoát khỏi ba đường ác để làm người không phải là chuyện dễ.

2. "Ðã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam là khó." Ðược làm người là khó, tuy nhiên, được làm người nam (thay vì người nữ) thì lại càng khó hơn nữa! Song, đó là nói theo quan điểm của những người muốn làm người nam mà thôi  vì họ muốn mang thân nam nhưng không được toại nguyện nên mới cho là khó. Thế thì, muốn được thân nữ có khó không? Cũng khó khăn không kém! Cho dù quý vị có thích làm người nữ, thì quý vị cũng khó đoan chắc rằng mình sẽ được toại ý, bởi vì đó là chuyện không thể nói chắc được!

Làm người nam hay người nữ là việc mà bản thân quý vị không có quyền quyết định hay lựa chọn. Ðó không phải là chuyện mà mình muốn là được. Cho nên, điều này cũng chẳng dễ dàng chút nào!

3. "Ðã được thân nam, giả thử quý vị đã được làm người nam hoặc người nữ rồi; sáu căn đầy đủ là khó." Tôi không muốn chỉ nói về việc "được thân nam" mà thôi, bởi vì cũng có người ao ước được mang thân nữ kia mà! Nếu quý vị có được thân người với giới tính mình muốn - kẻ thích làm người nam thì được mang thân nam, kẻ thích làm người nữ thì được mang thân nữ - tức là quý vị đã được tùy tâm mãn nguyện, không thấy điều đó là khó nữa. Tuy nhiên, làm người mà có được sáu căn đầy đủ, hoàn chỉnh, lại càng không phải dễ.

Sáu căn tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Có nhiều kẻ tuy được mang thân người nhưng lại bị mù lòa hoặc không có mắt. Cũng có kẻ được làm người, song là người điếc, căn tai bị hư hoại. Hoặc có người thì lỗ mũi nghẹt, chẳng thông khí, nên có mũi mà cũng như không. Lưỡi là để nếm hương vị và nói năng, thế nhưng có người không nói được hoặc không biết được mùi vị - đó là do căn lưỡi bị hư hoại. Những người bị tê liệt, bán thân bất toại, không nhúc nhích hoặc cử động được, tức là căn thân của họ bị hư hoại. Hoặc có người thì căn ý bị hư hoại - họ không thể suy nghĩ và không hiểu được gì cả. Ðó là những thí dụ điển hình về trường hợp sáu căn không được đầy đủ, hoàn chỉnh. 

Sáu căn không toàn vẹn là chuyện thông thường, rất dễ xảy ra. Có được sáu căn đầy đủ, hoàn chỉnh mới là khó, rất khó.

4. "Sáu căn đã trọn đủ, hoàn chỉnh, không khuyết điểm - mắt ra mắt, tai ra tai - mà còn được sanh ra ở trung tâm quốc gia là khó." Trường hợp tai có hình dạng giống mắt còn mắt có hình dạng giống tai, hoặc môi thì trông giống như mắt còn mắt lại trông giống như môi - như thế là không tương xứng, không cân đối. Hoặc có trường hợp các căn đều "dọn nhà" tới ở chung với nhau  mắt, tai, mũi, miệng không tách riêng ra mà lại quy tụ về một chỗ như muốn làm thành một công ty hợp doanh vậy! Mắt, tai, mũi, miệng mà tập trung vào một chỗ với nhau, quý vị thấy như thế có khó coi lắm không" Song le, chẳng còn cách nào khác!

Ðã có sáu căn hoàn bị rồi mà còn được sanh ra ở vùng trung tâm đất nước nữa là điều khó.

Ở Trung-Hoa, dân chúng sinh sống tại bốn miền gần ranh giới chung quanh quốc gia được mệnh danh là Nam man, Bắc mạch (Bắc dịch), Ðông di, Tây nhung. Người ở phương nam thì được gọi là "man tử" (kẻ dã man, thô lỗ), ở phương bắc thì được gọi là "mạch" (mọi), ở phương đông thì được gọi là "di nhân," ở phương tây thì được gọi là "nhung nhân" (rợ). Ðó là theo sự phân chia trong nước Trung-Hoa, và những khu vực ấy bị xem là vùng "biên địa hạ tiện." Muốn được sanh ở miền biên giới là chuyện rất dễ dàng; nhưng muốn được sanh ra ngay giữa vùng trung tâm của quốc gia thì không phải dễ! Muốn được sanh ra tại trung tâm của nước ngoài thì cũng chẳng phải là chuyện dễ. Vậy, được sanh ra ở những nơi thuộc khu vực trung tâm đất nước là khó.

5. "Ðã sanh ở trung tâm quốc gia, được gặp đời có Phật là khó." Ðã được sanh ra ngay tại trung tâm của đất nước rồi, mà lại còn được nhằm vào thời kỳ có Phật ra đời nữa là chuyện không phải dễ.

6. "Ðã gặp đời có Phật, được gặp bậc Ðạo-giả là khó." "Bậc Ðạo-giả" tức là bậc Thiện-tri-thức. Nếu quý vị đã được sanh vào thời Phật trụ thế, gặp được đời có Phật rồi, mà lại còn được hạnh ngộ bậc Thiện-tri-thức người có Ðạo và tu Ðạo  thì chính quý vị cũng có thể tu Ðạo. Ðiều này không dễ dàng lắm, cho nên, "được gặp bậc Ðạo-giả là khó."

7. "Ðã gặp được Ðạo, phát khởi tín tâm là khó." Mặc dù đã gặp và hiểu được Phật Pháp, đã thấu suốt được các pháp môn tu Ðạo rồi, mà nếu quý vị còn có thể khởi lòng tin nữa thì lại không phải dễ. Có thể rằng quý vị đã gặp được Ðạo, nhưng quý vị lại không tu hành, không sanh tín tâm. Nếu không sanh tín tâm thì dẫu có gặp Ðạo cũng bằng thừa  bởi được gặp rồi mà vẫn không tin tưởng thì cũng chẳng khác gì chưa bao giờ gặp vậy.

8. "Ðã khởi tín tâm, phát Bồ-đề tâm là khó." Cho dù quý vị đã sanh lòng tin tưởng, mà muốn "y pháp tu hành" vẫn không phải dễ. Bởi vì đó chỉ là tin suông mà thôi! Có rất nhiều người tin tưởng Phật Pháp, nhưng khi quý vị bảo họ hãy lo tu hành thì họ lại không muốn. Ðừng nói gì khác, chỉ nội một việc cai thuốc lá, bỏ hút thuốc, mà lắm người còn làm không được thay! Bỏ thì thương mà vương thì tội  bỏ không được nên buông không đành!

A! Sanh khởi tín tâm là khó, nhưng cho dẫu quý vị đã có được tín tâm rồi đi chăng nữa, muốn phát tâm Bồ-đề lại càng khó hơn  quý vị không thể "y pháp tu hành."

9. "Ðã phát tâm Bồ-đề, được vô tu vô chứng là khó." Giả sử quý vị đã phát Bồ-đề tâm rồi. Phát khởi tâm Bồ-đề là chuyện khó, song cứ cho là quý vị cũng đã thực hiện được rồi. Thế nhưng, đạt đến cảnh giới không còn gì để tu, không còn gì để chứng, "sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu" (mọi việc cần làm đều đã làm xong, không còn phải luân hồi nữa) thì lại càng khó khăn hơn nhiều!

"Vô tu vô chứng" tức là đã tu xong rồi, đã chứng đắc rồi; do đó mà không cần phải tu thêm nữa  giống như ăn no rồi thì không cần ăn thêm, hoặc là ngủ đẫy giấc rồi thì không cần phải ngủ thêm nữa vậy.

Vì sao tu Ðạo mà lại "vô tu vô chứng?" Ðó tức là đạt đến ngôi vị Vô-học (không còn gì để học), chứng được Tứ-quả A-la-hán. Ðây là giải thích theo quan điểm của Tiểu-thừa.

Dưới cái nhìn của Ðại-thừa, thì "vô tu vô chứng" có nghĩa là chứng được Phật-quả, và bấy giờ:

Thượng vô Phật Ðạo khả cầu,

Hạ vô chúng sanh độ.

(Trên không còn đạo Phật để cầu,

Dưới chẳng còn chúng sanh để độ.)

Ðó là cảnh giới "vô tu vô chứng," và ngôi vị này lại càng không dễ đạt tới.

Cho nên, đối với việc tu hành, nếu quý vị không hiểu Phật Pháp thì không nói làm gì, nhưng nếu hiểu Phật Pháp thì phải gấp rút nỗ lực dụng công tu hành!
 

Chương 37

Niệm Giới Cận Ðạo 

(Nhớ Nghĩ Ðến Giới Là Gần Với Ðạo)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Phật tử ly ngô số thiên lý, ức niệm ngô giới, tất đắc Ðạo quả. Tại ngô tả hữu, tuy thường kiến ngô, bất thuận ngô giới, chung bất đắc Ðạo."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Phật tử ở cách Ta vài ngàn dặm mà nhớ nghĩ đến Giới của Ta, tất sẽ chứng được Ðạo quả; còn ở ngay bên phải bên trái Ta, tuy thường trông thấy Ta, nhưng chẳng y theo Giới của Ta, thì rốt cuộc sẽ không đắc được Ðạo."

giảng nghĩa: 

Chương thứ ba mươi bảy nói rằng nếu quý vị hết lòng tin tưởng vào giới luật của Ðức Phật, thì dù quý vị có ở cách Phật đến bao xa đi chăng nữa cũng vẫn như đang ở trước mặt Ngài; còn nếu quý vị không tin tưởng và không thọ trì giới luật của Phật, thì dầu có được thường xuyên ở trước mặt Phật, quý vị cũng chẳng thấy được Phật, chẳng nghe được Pháp! Ðiều này cũng tương tự như lời dạy của Ðức Lục Tổ Huệ Năng: "Nếu các ông tin Ta, thì dù ở cách Ta đến mười vạn tám ngàn dặm đường mà vẫn như đang ở bên cạnh Ta. Nhưng nếu các ông không tin Ta, thì tuy các ông luôn luôn ở bên cạnh Ta mà lại như xa cách Ta cả mười vạn tám ngàn dặm đường vậy!" Và, đó cũng là đại ý của chương kinh này.

Ðức Phật dạy: "Phật-tử ở cách Ta vài ngàn dặm mà vẫn nhớ nghĩ đến giới của Ta, tất sẽ chứng đắc Ðạo-quả." Ðức Phật dạy rằng: "Những đệ tử của Ta mà ở cách Ta rất xa, xa tới cả vài ngàn dặm đường đi nữa, nếu họ có thể luôn luôn ghi nhớ, không bao giờ quên nghĩ đến giới luật của Ta, và nếu họ biết hành trì đúng theo giới luật, thì họ nhất định sẽ chứng được quả-vị trong việc tu Ðạo."

"Còn ở ngay bên phải bên trái Ta, những đệ tử luôn kề cận bên mình Ta, tuy thường trông thấy Ta nhưng chẳng y theo Giới của Ta, thì rốt cuộc sẽ không đắc Ðạo được. Mặc dù họ luôn luôn gặp Ta, nhưng nếu họ chẳng vâng theo giới luật của Ta đặt ra mà tu hành, thì không dễ gì chứng được Ðạo."

Phần kinh văn này cho thấy rằng nếu quý vị vâng theo lời dạy của Phật và tu hành đúng theo Phật Pháp, thì quý vị là những đệ-tử chân chánh của Ðức Phật  quý vị sẽ thường được thấy Phật, thường được theo Phật để học hỏi. Trái lại, nếu quý vị không thọ trì giới luật, thì quý vị cũng có thể lỡ mất dịp may trước mắt như thường!

Thuở trước, có hai thầy Tỳ-khưu nọ ở nước Ba-la-nại (Varanasi) muốn đến nước Xá-vệ (Shravasti) để bái kiến Ðức Phật. Cả hai thầy đều đi bộ và phải vượt qua những chặng đường dài thăm thẳm. Dọc đường, họ cảm thấy rất khát nước; khát đến nỗi không có cách gì để đi tiếp tục nữa. Khi họ sắp chết khát thì bỗng thấy đằng trước có một chút nước đọng trong một cái sọ người! Một thầy Tỳ-khưu liền chụp lấy cái sọ và bưng lên uống, rồi đưa cho thầy kia. Thầy Tỳ-khưu này vì thấy đó là nước đọng trong sọ người, hơn nữa, trong nước lại có rất nhiều lăng quăng, giòi bọ, nên từ chối, không uống.

Thầy Tỳ-khưu thứ nhất bèn hỏi: "Tại sao thầy không uống! Coi chừng bị chết khát đó!"

Thầy Tỳ-khưu kia đáp: "Vì trong giới luật của Ðức Phật có dạy không được uống nước có lăng quăng, giòi bọ. Tôi thà chịu chết khát chớ không đời nào uống thứ nước có giòi bọ này! Tôi muốn tu hành đúng theo giới luật của Phật." 

Thầy Tỳ-khưu thứ nhất nói: "Thầy thật là ngu xuẩn! Thầy sắp bị chết khát rồi  nếu thầy uống nước thì còn có thể gặp Phật; còn không uống thì thầy sẽ phải chết khát. Thầy phải biết linh động một chút, không nên cố chấp như thế!" Thấy nói như vậy mà thầy kia vẫn khăng khăng không chịu uống, thầy Tỳ-khưu thứ nhất bèn uống luôn nước cặn; và khi tiếp tục đi, thầy cảm thấy trong người khỏe khoắn hơn nhiều.

Thầy Tỳ-khưu thứ hai, người không chịu uống nước, quả nhiên bị chết khát dọc đường. Nhờ chuyên tâm trì giới nên sau khi chết, thầy được sanh lên cõi trời Ðao-Lợi và có đầy đủ phước tướng của người trời (thiên-nhân). Từ cung trời Ðao-Lợi, thầy đi bái kiến Ðức Phật và được Phật thuyết pháp cho nghe. Bấy giờ, thầy đắc được Pháp Nhãn Tịnh và chứng được quả-vị.

Trong khi đó, thầy Tỳ-khưu uống nước trong sọ người thì ba ngày sau mới đến được nước Xá-vệ. Thầy Tỳ-khưu bị chết khát thì được bái kiến Phật ngay tối hôm thầy chết và sau đó chứng được quả-vị. Ba hôm sau, thầy Tỳ-khưu không bị chết khát cũng tới nơi và đến bái kiến Phật. Ðức Phật hỏi thầy: "Ông từ đâu đến? Có bao nhiêu người cùng đi với ông? Ông đi đường được bình an cả chứ?"

Thầy Tỳ-khưu kia thưa với Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con từ nước Ba-la-nại đến. Ðường đến đây rất xa xôi; dọc đường còn phải vượt qua một nơi hoàn toàn không có nước uống. Về sau, tìm được chút nước còn đọng trong một cái sọ, con bèn uống tạm một chút. Còn người bạn đồng tu đi với con vì thấy trong nước ấy có nhiều lăng quăng, giòi bọ, nên không chịu uống, do đó mà bị chết khát rồi. Âu cũng bởi thầy ấy không có thiện duyên với Phật nên mới phải chết mà chưa được gặp Phật! Vả lại, thầy ấy cũng cố chấp quá. Lòng chấp trước của thầy ấy quá nặng nề!"

Thầy kia nói xong, Ðức Phật gọi thầy Tỳ-khưu bị chết khát ra cho thầy kia gặp mặt, và dạy: "Chính trong ngày hôm đó ông ấy được vãng sanh lên cõi trời và được hưởng thọ mạng rất lâu dài của một vị thiên nhân. Ông ấy đã đến Pháp-hội của Ta, và Ta đã thuyết pháp cho ông ấy nghe. Nay ông ấy đã chứng được quả-vị! Ông chê ông ấy ngu xuẩn, kỳ thực, chính ông mới thật là ngu xuẩn! Ông không giữ giới luật của Phật, thì tuy ông được gặp Ta mà cũng như không gặp. Ðó là vì ông không thật lòng, không thành tâm, không nghiêm trì giới luật!"

Qua công án này có thể thấy rằng bất luận quý vị có ở trước mặt Phật hay không, nếu quý vị lúc nào cũng tu hành đúng theo giới luật của Phật, tức là quý vị được thấy Phật. Trái lại, nếu quý vị không y theo giới luật của Phật mà tu hành thì dẫu có ở bên cạnh Phật cũng chẳng khác nào chưa từng được gặp Phật vậy!


x
Souce: Vạn Phật Thánh Thành

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap