THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 

 

c
Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương Lược Giảng
Hòa Thượng Tuyên Hóa
(Giảng năm 1974 Tại Kim Sơn Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ)
00
01
02-10
11-15
16-24
25-30
31-35
36-37
38-42
Chương 38

Sanh Tức Hữu Diệt 
(Có Sanh Tất Có Diệt)
Kinh Văn: Phật vấn nhất Sa-môn: "Nhân mạng tại kỷ gian?"
Ðối viết: "Số nhật gian."
Phật ngôn: "Tử vị tri Ðạo."
Phục vấn nhất Sa-môn: "Nhân mạng tại kỷ gian?"
Ðối viết: "Phạn thực gian."
Phật ngôn: "Tử vị tri Ðạo."
Phục vấn nhất Sa-môn: "Nhân mạng tại kỷ gian?"
Ðối viết: "Hô hấp gian."
Phật ngôn: "Thiện tai! Tử tri Ðạo hỹ."

Dịch Nghĩa: 

Ðức Phật hỏi một vị Sa-môn: "Mạng người được bao lâu?"
Ðáp rằng: "Thưa, trong khoảng vài ngày."
Ðức Phật dạy: "Ông chưa hiểu Ðạo!"
Lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người được bao lâu?"
Ðáp rằng: "Thưa, trong khoảng một bữa ăn."
Ðức Phật dạy: "Ông chưa hiểu Ðạo."
Lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người được bao lâu?"
Ðáp rằng: "Thưa, trong khoảng một hơi thở."
Ðức Phật dạy: "Lành thay! Ông đã hiểu Ðạo rồi vậy!"

giảng nghĩa:

Ðức Phật hỏi vị Sa-môn: "Mạng người được bao lâu?" Ở đây, Ðức Phật cố ý đặt ra một cuộc vấn đáp. Ðức Phật vốn không cần phải hỏi người khác về vấn đề này, và cũng không phải vì Ngài không biết nên cần phải hỏi các thầy Sa-môn để có được một đáp án rõ ràng. Thật ra, bởi biết rằng chẳng ai biết tánh mạng con người có thể kéo dài trong bao nhiêu lâu, cho nên Ðức Phật mới có ý hỏi thầy Sa-môn: "Mạng người được bao lâu? Ông cho rằng con người sống được bao lâu?"

Ðáp rằng, thầy Sa-môn này bạch với Ðức Phật rằng: "Thưa, trong khoảng vài ngày. Chừng một vài hôm là có thể chết. Ðời người không dài lắm đâu!"

Ðức Phật dạy, Ðức Phật nói với thầy Sa-môn này rằng: "Ông chưa hiểu Ðạo. Ông vẫn còn chưa hiểu được Ðạo!"

Ðức Phật lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người được bao lâu?" Sanh mạng con người dài độ bao nhiêu?

Ðáp rằng, thầy Sa-môn bạch với Phật: "Thưa, trong khoảng một bữa ăn." Nghĩa là trong thời gian bằng chừng ăn xong một bữa cơm, sanh mạng con người có thể không còn nữa!

Ðức Phật dạy. Ðức Phật nói với thầy ấy: "Ông chưa hiểu Ðạo." Ông vẫn chưa hiểu rõ Ðạo!

Ðức Phật lại hỏi một vị Sa-môn khác: "Mạng người được bao lâu?" Trong quảng thời gian bao lâu thì mạng sống con người kết thúc?

Ðáp rằng, thầy Sa-môn này trả lời Ðức Phật: "Thưa, trong khoảng một hơi thở." Thọ mạng của con người chỉ nội trong một hơi thở ra vô mà thôi!

Ðức Phật dạy, Ðức Phật nói với vị Sa-môn ấy: "Lành thay! Thật tốt lắm thay! Ông đã hiểu Ðạo rồi vậy." Ông đã thấu rõ được Ðạo rồi!

Thuở trước, tại Ấn-Ðộ có một vị vua sùng tín ngoại đạo. Phái ngoại đạo thường tu nhiều loại khổ hạnh; như có người thì trì ngưu-giới (sống theo cách của bò), có người thì trì cẩu-giới (sống theo cách của chó), có người thì lấy tro bôi khắp mình mẩy, có người thì ngủ giường đinh...Họ tu những khổ hạnh của phái du-già, tự hành xác theo đủ mọi hình thức. Trái lại, các thầy Tỳ-khưu tu theo Phật Pháp thì trông có vẻ thanh nhàn, và họ không phải tu tập những khổ hạnh ấy.

Vì thế, vị vua nọ hỏi các đệ tử của Ðức Phật: "Trẫm tin rằng mặc dù phái ngoại đạo tu nhiều thứ khổ hạnh như thế, họ vẫn chưa thể đoạn trừ được lòng tham muốn sắc dục. Tỳ-khưu các thầy tùy tiện như thế thì làm sao mà đoạn trừ được phiền não và lòng dâm dục? Chắc chắn là các thầy không thể nào đoạn trừ được!"

Có một vị Pháp-sư trả lời nhà vua rằng: "Xin Bệ-hạ hãy cho gọi một tù nhân có án tử hình còn bị giam giữ trong ngục đến, và phán rằng: "Trẫm giao cho ngươi một bát dầu. Ngươi phải bưng bát dầu này bằng hai tay và đi trên đường phố. Trong lúc đi như thế, nếu ngươi làm nhiễu một giọt dầu ra khỏi bát, Trẫm sẽ cho đem ngươi ra xử tử; còn nếu nhà ngươi không làm đổ một giọt dầu nào cả, thì khi ngươi trở về, Trẫm sẽ tha tội chết và ngươi sẽ được phóng thích." Sau đó, Bệ-hạ hãy cho một số mỹ nữ đến đàn hát trên con đường mà tên tử tội bưng bát dầu sẽ phải đi qua. Ðợi đến khi tên tù đáng tội chết kia đi hết con đường, Bệ-hạ hãy xem xét bát dầu của hắn. Nếu dầu có bị đổ, thì đương nhiên là hắn phải bị giết. Tuy nhiên, nếu một giọt dầu cũng không đổ, thì Bệ-hạ hãy hỏi hắn đã trông thấy những gì ở dọc đường, thử xem hắn trả lời ra sao."

Nhà vua liền làm theo đúng như thế. Vua cho gọi một tù nhân đã bị kết án tử hình đến và truyền: "Hôm nay đáng lẽ nhà ngươi sẽ bị xử tử, nhưng nay Trẫm cho nhà ngươi một cơ hội có thể thoát được tội chết. Như thế nào ư? Trẫm sẽ giao cho ngươi một bát dầu; và ngươi phải bưng bát dầu trên tay mà đi diễu qua đường phố. Nếu ngươi không để cho một giọt dầu nào sánh ra ngoài, thì khi trở về, ngươi sẽ được miễn tội chết. Còn nếu như ngươi làm đổ dù chỉ một giọt dầu, thì lúc trở về, Trẫm sẽ chiếu theo bản án khi trước mà xử tử nhà ngươi! Vậy ngươi hãy đi thử đi.!"

Người tù nhân theo lệnh vua. Sau khi hắn đi hết con đường và quay trở về, bát dầu của hắn vẫn còn nguyên vẹn, không đổ một giọt!

Nhà vua bèn hỏi: "Khi đi trên đường phố, ngươi đã trông thấy những gì?"

Người tử tù đáp: "Tôi không trông thấy gì khác ngoài bát dầu này! Từng giây từng khắc tôi mải lo canh chừng bát dầu, giữ cho dầu khỏi sánh ra ngoài. Ngoại trừ dầu trong cái bát này ra, tôi chẳng thấy và cũng chẳng nghe gì cả."

Nhà vua hỏi vị Pháp-sư: "Như thế là ngụ ý gì?"

Nhà Sư đáp: "Người tử tù ấy ví như những bậc Sa-môn xuất gia  bởi nhận thấy sanh tử là đại sự, là vấn đề quan trọng hơn cả, nên họ không có thì giờ để vọng tưởng về sắc dục. Họ chỉ nghĩ đến chuyện sanh tử, tương tự như người tử tù kia vậy  nếu hắn sơ ý để sánh ra ngoài một giọt dầu hoặc có một chút phiền não, thì phải chịu chết. Các bậc Sa-môn xuất gia cũng thế  tại sao họ có thể đoạn trừ được dâm dục? Bởi vì họ xem vấn đề sanh tử là trọng đại! Vì sao những kẻ ngoại đạo không thể dứt bỏ lòng ham mê sắc dục? Vì họ không thể hiểu được vấn đề sanh tử, không biết rằng sanh tử là một sự việc lớn lao. Do đó, họ không đoạn trừ được lòng dâm dục." 

Vì sao quý vị tu Ðạo mà chưa đoạn trừ được tâm dâm dục? Vì quý vị chưa chân chánh nhận thức được rằng sự vô thường của sanh tử sẽ xảy đến. Nếu biết được tánh cách cấp bách của lẽ vô thường đối với vấn đề sanh tử, hẳn quý vị sẽ chẳng có thì giờ để khởi các vọng tưởng về sắc dục và cũng chẳng có thì giờ để sanh phiền não về vấn đề ấy!
 

Chương 39

Giáo Hối Vô Sai 

(Sự Dạy Bảo Vốn Không Phân Biệt)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Học Phật Ðạo giả, Phật sở ngôn thuyết, giai ưng tín thuận. Tỷ như thực mật, trung biên giai điềm, ngô Kinh diệc nhĩ."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người học Ðạo Phật, đối với những lời Phật nói đều phải nên tính thuận. Ví như ăn mật, trong ngoài đều ngọt; kinh điển của Ta cũng vậy."

giảng nghĩa:

Chương thứ ba mươi chín dạy rằng chúng ta nên tin tưởng và thọ trì tất cả kinh Phật. Chúng ta không nên phân biệt Ðại-thừa hay Tiểu-thừa, đốn (mau) hay tiệm (chậm), hoặc so đo bộ kinh nào quan trọng và bộ kinh nào không quan trọng. Chớ sanh ra nhiều tâm phân biệt như thế!

Tất cả kinh điển do Ðức Phật thuyết giảng nói chung thì không vượt ra ngoài hai thứ Quyền giáo2 và Thực-giáo3. Quyền-giáo được nói ra là vì Thực-giáo. Vì Thực-giáo nên Phật mới thuyết giảng Quyền-giáo. Nếu nói về Quyền-giáo một cách tỉ mỉ, cặn kẽ thì sẽ hiển xuất Thực-giáo; cho nên, Quyền và Thực thật ra chỉ là một!

Kẻ học Phật Pháp không nên phân biệt Ðại-thừa, Tiểu-thừa. Vì vậy, lúc ở Los Angeles tôi đã nói với vị Tỳ-khưu từ Thái-lan rằng: "Trong Phật Pháp vốn không có sự phân biệt giữa Ðại-thừa và Tiểu-thừa. Chẳng qua là vì trong Phật-giáo có một số Phật-tử cố chấp, không muốn chân chánh học Phật Pháp, cho nên mới phân chia ra Ðại với Tiểu, trở thành những đệ tử bất hiếu của Phật." Ðó cũng là ý chính của chương này.

Ðức Phật dạy: "Người học Ðạo Phật, đối với những lời Phật nói đều phải nên tín thuận." Tất cả quý vị, những người học tập Ðạo Phật, đều phải tin tưởng và thuận theo các kinh điển, giáo pháp do Ðức Phật thuyết giảng mà hành trì, chớ nên có tâm phân biệt.

Ví như ăn mật, trong ngoài đều ngọt; kinh điển của Ta cũng vậy. Mật đường thì ở giữa ngọt mà trên mặt cũng ngọt; cho nên cả trong lẫn ngoài đều có hương vị ngọt ngào như nhau, giống như giáo điển của Ta vậy. Kinh điển do Ta thuyết giảng đều là 'vi Thực thí Quyền, khai Quyền hiển Thực'  vì Thực-giáo mà ban bố Quyền-giáo và lập ra Quyền-giáo để làm hiển lộ Thực-giáo  nhằm giáo hóa chúng sanh, khiến tất cả chóng thành Phật Ðạo! Tất cả đều nằm trong đạo lý này."
 

Chương 40

Hành Ðạo Tại Tâm 

(Tâm Phải Thực Hành Theo Ðạo)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Sa-môn hành Ðạo, vô như ma ngưu, thân tuy hành Ðạo, tâm Ðạo bất hành. Tâm Ðạo nhược hành, hà dụng hành Ðạo?"

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Bậc Sa-môn hành Ðạo đừng như con trâu kéo xay, tuy thân hành Ðạo nhưng tâm lại chẳng theo Ðạo. Nếu tâm theo Ðạo thì cần gì hành Ðạo?"

giảng nghĩa:

Chương thứ bốn mươi nói rõ rằng tu Ðạo là ở tâm chớ không phải ở hình thức. Nếu không đặt hết tâm trí vào Ðạo, chỉ chú trọng tới việc phô trương bên ngoài, thì chúng ta sẽ giống như con trâu kéo bàn xay  suốt ngày trâu cứ đi vòng quanh cái cối xay, mải miết kéo tới kéo lui, không hề rời khỏi nhà xay lúa.

Ðức Phật dạy: "Bậc Sa-môn hành Ðạo đừng như con trâu kéo bàn xay." Thầy Tỳ-khưu tu hành Ðạo vô-thượng không nên giống như con trâu kéo bàn xay - cứ ru rú trong nhà xay mà kéo tới kéo lui, quanh đi quẩn lại mãi bên cái cối xay, chẳng ra được tới bên ngoài.

"Tuy thân hành Ðạo nhưng tâm lại chẳng theo Ðạo." Tuy rằng bên ngoài thì thân của quý vị vẫn tu hành theo Ðạo  lạy Phật, tụng Kinh, trì Chú, nhưng bên trong thì tâm của quý vị lại không làm và cũng không chú ý đến những công hạnh ấy.

"Nếu tâm theo Ðạo thì cần gì hành Ðạo." Nếu tâm của quý vị thật sự muốn tu Ðạo, nếu quý vị có thể tu Ðạo một cách chuyên nhất, không khởi vọng tưởng, và nếu quý vị có thể luôn luôn ở trong Ðịnh, thì quý vị cần gì phải hành Ðạo? Trong trường hợp này, quý vị không tu Ðạo cũng chẳng sao!

Ở đây ngụ ý là quý vị đã hàng phục được tâm mình. Nếu trong lòng quý vị không còn dấy khởi những vọng tưởng về sắc dục nữa, tức là tâm của quý vị đã được điều phục rồi. Còn nếu quý vị cứ tiếp tục khởi các vọng tưởng về sắc dục, tuy bề ngoài ra vẻ hiền lành, thật thà, nhưng bên trong lại không thành thật, cứ móng tâm vọng tưởng chuyện sắc dục; như thế thì bề ngoài dẫu có tốt đẹp thế nào đi nữa cũng chẳng có ích lợi gì cả!

Cho nên, tu hành cần phải chú trọng ở cái tâm. Hàng phục được tâm mình thì sẽ chứng được quả vị rất chóng. Nếu không hàng phục được tâm mình, cứ khởi các vọng tưởng về sắc dục, thì quý vị chẳng khác gì con trâu kéo bàn xay  cứ quanh quẩn bên cái cối xay mà kéo tới kéo lui, vất vả nhọc nhằn hết sức nhưng chạy không thoát, không ra khỏi nhà xay được!
 

Chương 41

Trực Tâm Xuất Dục 

(Ngay Thẳng Dứt Trừ Dục Vọng)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Phu vi Ðạo giả, như ngưu phụ trọng, hành thâm nê trung. Bì cực, bất cảm tả hữu cố thị. Xuất ly ứ nê, nãi khả tô tức. Sa-môn đương quán, tình dục thậm ư ứ nê, trực tâm niệm Ðạo, khả miễn khổ hỹ."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Người hành Ðạo ví như con trâu chở nặng đi trong bùn sâu. Trâu hết sức mỏi mệt, chẳng dám nhìn phải ngó trái; ra khỏi chỗ bùn lầy rồi mới được thư thả. Bậc Sa-môn phải quán tưởng tình dục còn hơn cả bùn lầy. Phải trực tâm niệm Ðạo thì mới có thể thoát được sự khổ."

giảng nghĩa:

Trong chương thứ bốn mươi mốt này, Ðức Phật dạy chúng ta nên dùng trực tâm mà tu Ðạo và suy nghĩ về Ðạo. Trong mỗi niệm, chúng ta nên lấy việc thoát vòng tình dục làm mục tiêu của mình. ái tình và dục vọng chính là bùn lầy; chúng ta cần phải vượt ra khỏi vũng bùn ấy.

Ðức Phật dạy: "Người hành Ðạo, tất cả đại chúng, những kẻ tu Ðạo, ví như con trâu chở nặng đi trong bùn sâu." Trên lưng đã chất đầy những đồ vật rất nặng nề, lại còn phải lội qua vũng bùn rất sâu, nên trâu bị sa lầy, không tự kéo chân ra được  hễ rút được chân này lên thì chân kia bị lún xuống; kéo được chân kia ra thì chân nọ lại lún sâu hơn!

"Trâu hết sức mỏi mệt, chẳng dám nhìn phải ngó trái." Trâu mệt mỏi vô cùng, mệt mỏi đến cực điểm, mệt đến nỗi nó không dám nhìn ngó hai bên.

"Ra khỏi chỗ bùn lầy rồi mới được thư thả." Chỉ đến khi đã lội qua khỏi vũng bùn, trâu mới có vẻ thảnh thơi, thoải mái đôi chút.

"Bậc Sa-môn, các vị Sa-môn xuất gia  Tỳ khưu, Tỳ-khưu ni  đều phải quán tưởng tình dục còn hơn cả bùn lầy." So với vũng bùn lầy lội, thì lòng ham muốn tình dục và các vọng tưởng về sắc dục còn nguy hại, đáng sợ hơn nhiều! Cho nên, "phải trực tâm niệm Ðạo, phải một lòng một dạ, chỉ có một cái tâm ngay thẳng để suy nghĩ về Ðạo và việc tu Ðạo, thì mới có thể thoát được sự khổ, tránh khỏi nỗi thống khổ bị sa lầy."
 

Chương 42

Ðạt Thế Như Huyễn 

(Hiểu Ðược Cõi Ðời Là Hư Huyễn)

Kinh Văn: Phật ngôn: "Ngô thị Vương Hầu chi vị như quá khích trần; thị kim ngọc chi bảo như ngõa lịch; thị hoàn tố chi phục như tệ bạch; thị đại thiên giới như nhất ha tử; thị A-nậu trì thủy như đô túc du."

Dịch Nghĩa: Ðức Phật dạy: "Ta xem ngôi vị Vương, Hầu như bụi qua kẽ hở; xem vàng ngọc quý báu như ngói gạch vỡ; xem y phục bằng tơ lụa như vải thô; xem đại thiên thế giới như một hạt ha; xem nước hồ A-nậu như dầu thoa chân.

giảng nghĩa:

Chương thứ bốn mươi hai, chương cuối cùng, nói rõ rằng Ðức Phật bình đẳng quán sát tất cả các pháp và phá tan mọi chấp trước của chúng sanh. Một trăm năm ở cõi nhân gian chúng ta chỉ là một ngày và một đêm ở cõi trời Ðao-Lợi; một đại kiếp ở thế giới Ta-Bà này cũng chỉ bằng một ngày và một đêm ở thế giới Cực-Lạc mà thôi. Cho nên, tất cả đều là hư huyễn, không thật.

Ðức Phật dạy: "Ta xem ngôi vị Vương, Hầu như bụi qua kẽ hở." "Vương" là Quốc-vương," tức là vua của một nước. "Hầu", hay "chư hầu", là vua của nước nhỏ (nước chư hầu). So với Hoàng-đế thì ngôi vị Chư-hầu có kém thua một chức  Hoàng-đế thì cũng như Tổng-thống, và chư hầu thì như Tỉnh-trưởng vậy. Nói chung, đó đều là những địa vị rất cao sang, quyền quý. Thế nhưng, Ðức Phật xem các địa vị Quốc-vương và Chư-hầu này đều như bụi bặm trong lỗ hổng vậy  chúng chẳng có giá trị gì cả, và cũng chẳng có gì đáng để chấp trước, bất quá chỉ là những hạt bụi trong khe hở mà thôi!

"Xem vàng, ngọc quý báu như ngói gạch vỡ." Ðức Phật nhìn những thứ vàng, bạc, ngọc thạch cũng như nhìn gạch ngói vỡ. Ðối với Ngài, các thứ châu báu chẳng qua chỉ là các mảnh vỡ của thứ ngói lợp nhà!

"Xem y phục bằng tơ lụa như vải thô." Những y phục may bằng tơ lụa là thứ y phục đẹp đẽ nhất, song Ðức Phật chỉ coi như mảnh vải thô rách nát, chẳng có gì đáng để chấp trước!

"Xem đại thiên thế giới như một hạt ha." Ðức Phật coi cả tam thiên đại thiên thế giới chỉ lớn bằng một hạt ha mà thôi! (Hạt ha là hạt của trái ha-lê-lặc và rất nhỏ chỉ cỡ trái trám hay trái cà-na).

"Xem nước hồ A-nậu như dầu thoa chân." Nước trong hồ A-nậu vốn rất nhiều, Song Ðức Phật thấy nó chỉ bằng lượng dầu ít ỏi đủ để thoa chân chứ không phải là nhiều lắm.

Những đạo lý này được nêu ra nhằm khuyên chúng ta từ bỏ sự chấp trước. Quý vị đừng nên cái gì cũng cho là quan trọng, rồi sanh lòng chấp trước một cách quá đáng. Hễ chấp trước, chẳng thể buông bỏ, thì sẽ không thể nào thành tựu được Ðạo-quả!

Kinh Văn: "Thị phương tiện môn như hóa bảo tụ; thị Vô-thượng Thừa như mộng kim bạch; thị Phật Ðạo như nhãn tiền hoa; thị Thiền Ðịnh như Tu-di trụ; thị Niết-bàn như trú tịch ngụ; thị đảo chánh như lục long vũ; thị bình đẳng như Nhất-chân địa; thị hưng hóa như tứ thời mộc."

Dịch Nghĩa: "Xem môn phương tiện như đống châu báu hóa hiện; xem Vô-thượng Thừa như giấc mộng vàng lụa; xem Phật Ðạo như hoa trước mắt; xem Thiền Ðịnh như trụ Tu-di; xem Niết-bàn như ngày đêm đều thức; xem sự đảo và chánh như sáu con rồng múa lượng; xem sự bình đẳng như một chân-địa; xem sự hưng hóa như cây cối bốn mùa."

giảng nghĩa:

"Xem môn phương tiện như đống châu báu hóa hiện." Tất cả các vật dụng trên cõi đời đều được làm bằng thất bảo. Thất bảo là bảy nguyên liệu quý giá; vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.

Ở thế giới Cực-Lạc, mặt đất đều bằng vàng ròng. Khi Bồ-tát Di-Lặc thành Phật, mặt đất của chúng ta sẽ biến thành lưu ly. Hiện tại thì mặt đất của chúng ta là bằng đất, đá, nên rất thô cứng. Ðối với vạn sự vạn vật, nếu quý vị thấy chúng là tốt thì chúng sẽ tốt, và nếu quý vị nghĩ chúng là xấu thì chúng cũng sẽ tùy theo tâm của quý vị mà biến đổi. Tất cả mọi thứ đều "duy tâm sở hiện"  đều từ trong chân tâm của chính quý vị biến hiện ra; vì thế, quý vị đừng để cho mình bị mê-hoặc bởi sự giả dối, hư vọng.

Những gì là giả dối, hư vọng? Tất cả hình tướng bên ngoài (ngoại tướng) đều là hư vọng, duy chỉ có bản tánh của chính quý vị là chân thật mà thôi! Vì thế, đừng nên "chấp vọng mê-chân"  đừng bám víu vào cái giả tạm mà quên mất cái chân thật!

Môn phương tiện tức là Pháp-môn Tam-Thừa do chư Phật đặt ra, bao gồm các pháp phương tiện của Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát. Nếu chúng sanh tu hành theo các pháp môn này thì sẽ chứng được quả-vị, được thành Phật. Ðức Phật "Vi Thực thí Quyền"  vì Thực-pháp mà ban bố Quyền-giáo, dùng giáo pháp tạm thời làm phương tiện để dẫn đến giáo pháp chân thật, rốt ráo. Cho nên, Ngài xem pháp môn phương tiện chẳng khác gì một đống châu báu đuợc biến hóa ra.

"Xem pháp Vô-thượng Thừa như giấc mộng vàng lụa." Vô-thượng Thừa vốn là chân thật, và cũng là thứ đạo lý sẵn có trong tự tánh của chúng sanh. Bởi chỉ có ở trong chứ không ở ngoài tâm chúng sanh, cho nên nói:

"Viên mãn Bồ-đề, quy vô sở đắc."

Một khi Bồ-đề đã viên mãn, sự giác ngộ đã trọn vẹn, thì cái gì cũng không còn nữa. Do đó, Ðức Phật coi Vô-thượng Thừa chẳng khác gì vàng bạc, lụa là trong giấc chiêm bao. Những vàng bạc trong mộng thì đều là giả, là hư huyễn cả.

"Xem Phật Ðạo như hoa trước mắt." Tất cả những gì được nói đến trong Phật Ðạo đều là vì hạng phàm phu. Nếu không có phàm phu thì Phật Ðạo trở nên vô dụng; vì thế mà gọi là "Vô-vi." Pháp Vô-vi thì "Vô-khởi diệt"  không có sự sanh khởi mà cũng chẳng có sự tịch diệt  và cũng chẳng thật, như bóng hoa trong hư không. Do đó, Ðức Phật xem Phật Ðạo chẳng khác nào hoa giữa không trung vậy.

"Xem Thiền Ðịnh như trụ Tu-di." Núi Tu-di vươn cao trên mặt biển cả và không sóng gió nào có thể lay chuyển được nó. Người tu Thiền Ðịnh cần có được thứ định lực "bất động" như núi Tu-di vậy. Thật ra thì núi Tu-di không phải là một thứ pháp chân thật để có thể chứng đắc; nó chẳng qua chỉ là một thí dụ để so sánh mà thôi. Khi thật sự chứng được quả vị, quý vị sẽ thấy mọi thứ đều là không!

Ðức Phật nói rằng: "Ta xem môn phương tiện như đống châu báu hóa hiện." Ðối với Ðức Phật thì pháp môn phương tiện "vi Thực thí Quyền, khai Quyền hiển Thực" giống như một hỗn hợp gồm những châu báu được biến hóa ra.

"Xem pháp Vô-thượng Thừa như giấc mộng vàng lụa." Ðức Phật xem pháp Ðại-thừa vô thượng giống như giấc mơ mà thấy vàng, bạc, châu báu.

"Xem Phật Ðạo như hoa trước mắt." Ðức Phật quán tưởng Phật Ðạo cũng như hoa đóm trước mắt, không có cái gì là thật cả.

"Xem Thiền Ðịnh như trụ Tu-di." Ðức Phật xem Thiền Ðịnh như núi Tu-di đứng sừng sững giữa biển, không hề lay động, chao đảo.

"Xem Niết-bàn như ngày đêm đều thức." Ðức Phật xem pháp môn Niết-bàn giống như cả ban ngày lẫn ban đêm đều thức, tỉnh táo, không hề ngủ vậy.

"Xem sự đảo và chánh như sáu con rồng múa lượn." Ðối với Ðức Phật, sự điên đảo và chánh đáng chẳng khác gì sáu con rồng múa lượn một cách hỗn loạn. Khi quý vị điên đảo, Lục-căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) liền chạy theo các cảnh giới của Lục-trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Bấy giờ, sáu căn giống như sáu con rồng đang múa may uốn lượn vậy.

"Xem sự bình đẳng như một chân-địa." Ðức Phật coi pháp môn bình đẳng giống như một chân-địa  nền tảng của sự chân thật.

"Xem sự hưng hóa như cây cối bốn mùa." Ðức Phật xem sự hưng hóa Phật Pháp, hoằng dương Phật Pháp, giống như cây cối trong bốn mùa vậy. Vào mùa xuân thì cây cối đâm chồi. Sang mùa hạ thì cây phát triển, lớn lên; qua mùa thu thì lá rụng; và tới mùa đông thì cây trơ cành trụi lá. Do đó, sự hưng thịnh của Phật Pháp cũng có chu kỳ, thời điểm của nó.

Ðức Phật giảng như thể để dạy mọi người không nên chấp trước vào cái gì cả. Phàm hễ có sở chấp thì không thể nào đạt được cảnh giới "nhân không, pháp không" là không thấy có người; "pháp không" tức là không thấy có pháp. Hạng phàm phu chẳng cho rằng người và pháp đều không  với cái nhìn của họ thì có người, có pháp.

Muốn chứng đắc quả vị của hàng thánh nhân, quý vị cần phải thấy được người và pháp đều là không. Không thấy có người, không thấy có pháp, thì sự chấp trước vào người không còn và sự chấp trước vào pháp cũng chẳng hiện hữu. Khi cả hai thứ chấp trước ấy không còn tồn tại tức là quý vị đã phá được mọi sở chấp, hiểu được đạo lý về tánh không của tất cả mọi thứ. Vậy, người là không và pháp cũng là không. Nếu quý vị chẳng thấy được người là không thì chẳng thể chứng đắc thánh-quả, và chẳng thấy được pháp là không thì chẳng thể đạt được trí huệ của hàng thánh-nhân!

Ðức Phật giảng chương này nhằm dạy chúng ta từ bỏ mọi vọng tưởng, chấp trước. Nếu quý vị buông bỏ được hết thì sẽ đạt được sự tự tại chân chánh. Ðạt được sự tự tại chân chánh tức là đạt được sự tự do chân chánh. Có được sự tự do chân chánh rồi, quý vị muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Ðến, đi tự do; tới, lui tùy ý. Tự do hành động, tự do trong tất cả mọi sự việc, hoàn toàn không bị bó buộc. Ðây là sự tự do chân chánh chứ không phải là thứ tự do giả tạo!

Hết chương 42 trọn bộ


x
Souce: Vạn Phật Thánh Thành

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap