CHƯƠNG
BỐN
LỘ
TRÌNH CỦA TÂM (CITTA-VÌTHI)
PHẦN
MỘT: LỘ TRÌNH CỦA TÂM QUA 5 CĂN
BÀI
KỆ GIỚI THIỆU
I.
PÀLI VĂN.
- Cittuppàdànamiccevam
katvà sangahamuttaram,
Bhùmi-puggala-bhedena
pubbàpara-niyàmitam.
Pavatti-sangaham
nàma patisandhi-pavattiyam.
Pavakkhàmi
samàsena yathàsambhavatokatham.
II.
THÍCH VĂN.
- Cittupàdànam:
Những tâm sở cùng khởi với tâm. Sangahamuttaram: Sự tổng
hợp vô thượng của các tâm, tâm sở. Bhùmi-puggala-bhedena:
Theo sự phân chia các cảnh giới và loài người. Pubbàparaniyàmitam:
Như đã quyết định bởi những gì xảy ra ở trước và ở
sau. Pavattisangaham: Tổng hợp sự diễn tiến (của tâm thức).
Patisandhipavattiyam: Sự tiếp tục của kiết sanh thức Pavakhàmi:
Tôi sẽ nói. Samàsena: Tóm tắt. Yathàsambhavam: Tùy theo sự
hiện hữu. Katham: Lời nói.
III.
VIỆT VĂN.
- 1)
Sau khi tổng hợp các tâm và tâm sở, tôi sẽ nói một cách
vắn tắt, theo thứ tự, sự tổng hợp của tâm khi thọ sanh
và khi sống, theo các cảnh giới và theo loại người như đã
được định đoạt bởi những tâm nào trước những tâm
nào sau.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Chương
trước đã giải thích các tâm và tâm sở, tổng hợp theo
thọ, môn v.v... Chương này bàn đến sự diễn tiến của tâm
thức khi thọ sanh và khi sinh hoạt thường ngày tùy theo loại
người và các cảnh giới. Chữ "định đoạt bởi những tâm
nào trước những tâm nào sau" nghĩa là một tâm này khởi
lên,theo sau một số tâm và đi trước một số tâm.
6 LOẠI,
6 THỨ
I.
PÀLI VĂN.
- 2)
Cha vatthùni, cha dvàràni, cha àrammanàni, cha vinnànàni, cha vìthiyo,
chadhà visayappavatti ceti vìthi-sangahe cha chakkàni veditabbàni.
3)
Vithì-muttànam pana kamma-kammanimitta-gatinimittavasena tividhà hoti
visayappavatti.
4)
Tattha vatthu-dvàràrammanàni puble vuttana-yàneva.
5)
Cakkhu-vinnànam, sota-vinnànam, ghàna-vinnànam, jivhà-vinnànam, kàya-vinnànam,
mano-vinnànam ceti cha vinnànàni.
II.
THÍCH VĂN.
- Vatthùni:
Trú căn. Dvàràni: Môn. Àrammanàni: Sở duyên, đối tượng.
Vìthiyo: Con đường diễn tiến của tâm thức. Visayappavatti:
Sự trình bày của đối tượng. Vìthimuttànam: Thoát ly lộ
trình.
III.
VIỆT VĂN.
- 2)
Về sự tổng hợp lộ trình của tâm, 6 loại mỗi loại 6
thứ cần phải biết: 6 trú căn, 6 căn môn, 6 sở duyên, 6 thức,
6 lộ trình, 6 sự trình bày của đối tượng.
3)
Ðối với tâm thoát ly ngoài lộ trình, đối tượng hiện
khởi có ba: nghiệp, nghiệp tướng và thú tướng.
4)
Ở đây, các trú căn, căn môn và sở duyên đã nói trước
rồi.
5)
6 thức tức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức và ý thức.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Các
tâm có những tác động Patisandhi, Bhavanga và Cuti không phải
là tâm sát-na trong lộ trình của tâm thức, cho nên các tâm
ấy được gọi là thoát ly lộ trình của tâm.
CÁC
LOẠI LỘ TRÌNH
I.
PÀLI VĂN.
- 6)
Cha vìthiyo pana cakkhu-dvàra-vìthi, sota-dvàra-vìthi, ghàna-dvàra-vìthi,
jivhà-dvàra-vìthi, kàya-dvàra-vithì, mano dvàra-vithì, ceti dvàravasena
và. Cakkhu-vinnàna-vìthi, sota-vinnàna-vìthi, ghàna-vinnàna-vìthi,
jihvà-vinnàna-vìthi, kàya-vinnàna-vìthi, mano-vinnàna-vìthi, ceti
vinnàna-vasena và dvàrappavattà cittappavattiyo yojetabbà.
II.
THÍCH VĂN.
- Cakkhudvàravìthi:
Lộ trình của tâm ngang qua nhãn môn. Dvàrappavattà: Diễn khởi
ngang qua căn môn. Cittappavattiyo: Sự diễn tiến của tâm. Yojetabbà:
Cần phải liên quan như vậy.
III.
VIỆT VĂN.
- 6)
Theo các môn, lộ trình của tâm có 6: Lộ trình qua nhãn môn,
lộ trình qua nhĩ môn, lộ trình qua tỷ môn, lộ trình qua thiệt
môn, lộ trình qua thân môn, lộ trình qua ý môn.
Hay
theo thức cũng có sáu. Lộ trình của nhãn thức, lộ trình
của nhĩ thức, lộ trình của tỷ thức, lộ trình của thiệt
thức, lộ trình của thân thức, lộ trình của ý thức. Như
vậy sự diễn tiến của tâm đối với các môn cần phải
tương quan như vậy.
TÂM
SÁT NA - LỘ TRÌNH CỦA TÂM
Tâm
trạng thụ động của tâm, khi được trôi chảy không bị
một kích thích nào, được gọi là Bhavanga hay hữu phần.
Các tâm khởi lên trên mặt Bhavanga rồi chìm xuống vào Bhavanga.
Thông thường, chúng ta không thể giữ mãi một tâm, không
cho chìm xuống Bhavanga. Một tâm có thể sánh như một làn
sóng nổi lên trên mặt biển, tồn tại trong một thời gian
rồi chìm xuống để làm nổi dậy một làn sóng khác rồi
đến một làn sóng khác. Cũng như vậy, một tâm khởi lên
trên mặt Bahavanga, được nhận thức rồi tâm ấy chìm xuống
để làm khởi dậy một tâm khác và một tâm khác nữa. Như
vậy một tâm có ba giai đoạn: 1) Uppàda (2) (Sanh) Thiti (trú)
và Bhanga (diệt). Ðời sống của một tâm, từ khi khởi cho
đến khi chìm xuống gọi là Cittakhana (Tâm sát-na).
Khi
một kích thích ở ngoài được thọ lãnh ngang qua 5 căn,
1.
Sự trôi chảy yên tịnh của Bhavanga bị rung động trong một
tâm sát-na và được gọi là Bhavangacalana (sự rung động của
hữu phần).
2.
Rồi dòng Bhavanga đứng dừng lại trong một tâm sát-na và
gọi là Bhavangupaccheda (sự dừng đứng của Bhavanga).
Rồi
cùng trên một đối tượng ấy, những tâm sát-na sau này khởi
lên, tiếp nối nhau một cách mau lẹ, khởi lên rồi chìm xuống.
3.
Pancadvàravajjana (ngũ môn hướng tâm)
4.
Cakkhuvinnàna (nhãn thức hay một trong 4 thức khác).
5.
Sampaticchana (Tiếp thọ tâm).
6.
Santìrana (Suy đạc tâm).
7.
Votthapana (Xác định tâm).
8 -
14) Javana (Tốc hành tâm). Tâm này mạnh đến 7 sát-na.
15
- 16) Tadàlambana (Ðồng sở duyên). Tâm này gìn giữ và ghi
nhận vào trong tiềm thức và lập đi lập lại đến hai sát-na.
Như
vậy, từ Bhavanga calana đến Tadàlambana có đến 16 tâm sát-na
tất cả và hoàn tất sự diễn tiến của tâm ngang qua 5 môn
gọi là Pancadvàravìthi (Lộ trình của tâm qua 5 môn). Khi chúng
ta nghe tiếng, ngửi hương, nếm vị, chúng ta có đến hàng
ngàn Vithì (Lộ trình). Khi chúng ta tiếp tục phân biệt các
pháp, mỗi lần chúng ta ghi nhận kinh nghiệm vào trong tiềm
thức.
Sự
tương quan giữa tâm và vật chất.
Vật
ở đời hình như ở yên, những sự thật những vật ấy
luôn luôn chuyển dịch thay đổi. Chúng có thể ví dụ như
lửa một ngọn đèn, ngọn lửa hình như bất dịch nhưng sự
thật luôn luôn đổi mới từng sát-na một. Ðó là định
lý Anicca của đạo Phật.
Nhưng
nếu sự vật thay đổi biến dịch mau chóng như vậy, vì sao
một lộ trình của tâm có thể diễn tiến trên một sự vật
làm đối tượng, vì một lộ trình dài cho đến 16 tâm sát-na.
Abhidhamma giải thích rằng sự biến dịch của sự vật chậm
hơn sự biến dịch của tâm đến 16 lần.
Một
vật hay đối tượng cần một tâm sát-na để khởi lên rồi
đến sát-na thứ hai được tâm nhận lãnh. Như vậy tuổi
thọ đời sống của một đối tượng có tất cả là 17 tâm
sát-na. Ðến cuối sát-na thứ 17, lộ trình của tâm được
trọn đủ và đời sống của vật đối tượng được tiêu
diệt.
PHÂN
LOẠI CÁC ÐỐI TƯỢNG
I.
PÀLI VĂN.
- 7)
Ati-mahantam, mahantam, parittam, atiparittam, ceti pancadvàre. Mano-dvàre
vibhùtamavibhùtam ceti chadhà visayappavatti veditabbà.
II.
THÍCH VĂN.
- Atimahantam:
Rất lớn. Mahantam: Lớn. Paritta: Nhỏ. Atiparitta: Rất nhỏ.
Vibhùta: Rõ ràng. Avibhùta: Không rõ ràng. Visayappavatti: Sự
trình bày của đối tượng.
III.
VIỆT VĂN.
- 7)
Ðối tượng được trình bày theo sáu hình thức như sau:
Ngang
qua 5 môn: Rất lớn, lớn, nhỏ và rất nhỏ.
Ngang
qua ý môn: Rõ ràng và không rõ ràng.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 1)
Khi sự kích thích của đối tượng quá rõ ràng, sự kích
thích ấy được lãnh thọ chỉ một sát-na sau khi khởi lên
rồi lộ trình của tâm tiếp theo, kéo dài đến 16 sát-na,
và đời sống của đối tượng được chấm dứt. Một đối
tượng như vậy được gọi là Atimahanta hay Rất lớn.
2)
Khi sự kích thích của đối tượng không quá rõ ràng như
trên, sự kích thích ấy được lãnh thọ có thể chậm trễ
hơn sau khi khởi lên và bị chấm dứt giữa chừng trước
khi lộ trình của tâm được hoàn thành. Lộ trình ấy chỉ
tồn tại cho đến cuối giai đoạn Javana (tốc hành). Do vậy
các tâm sát-na của Ðồng sỏ duyên (Tadàlambana) không khởi
lên. Ðối tượng như vậy được gọi là Mahanta hay lớn.
3)
Khi sự kích thích của đối tượng còn yếu ớt hơn, sự
kích thích ấy được lãnh thọ còn chậm trễ hơn nữa sau
khi khởi lên và bị chấm dứt trước khi giai đoạn Javana
được bắt đầu. Trong trường hợp này, tâm sát-na của Votthapana
(xác định tâm) được lập lại hai hay ba lần rồi chìm vào
trong Bhavanga. Ðối tượng như vậy được gọi là Paritta hay
nhỏ.
4)
Khi sự kích thích quá muội lược, sự kích thích này lại
quá chậm và chấm dứt sau khi khiến Bhavanga rung động, trước
khi một tâm sát-na nào có thể khởi lên. Một đối tượng
như vậy gọi là Atiparitta hay rất nhỏ.
5)
Khi sự kích thích qua ý môn được rõ ràng, thời một lộ
trình của tâm được diễn ra đầy đủ cho đến cả hai tâm
sát-na của Tadàlambana (Ðồng sở duyên). Ðối tượng này
được gọi là vibhùta hay quá rõ ràng.
6)
Khi sự kích thích không được rõ ràng, thời lộ trình của
tâm chỉ diễn tiến đến Javana rồi chìm xuống Bhavanga. Như
vậy hai sát na của Tadàlambana không khởi. Ðối tượng như
vậy gọi là không rõ ràng.
LỘ
TRÌNH CỦA TÂM
I.
PÀLI VĂN.
- 8)
Katham? Uppàdatthitibhangavasena khanattayam ekacittakkhanam nàma. Tàni
pana sattarasacittakkhanàni rùpadhammànamàyu. Ekacittakkhanàtìtàni
và bahucittakkhanàtìtàni và thitippattàneva pancàrammanàni pancadvàre
àpàthamàgacchanti.
Tasmà,
yadi ekacittakkhanàtìtakam rùpàrammanam cakkhussa àpàthamàgacchanti,
tato param dvikkhattum bhavange calite bhavangasotam vocchinditvà tameva
rùpàrammanam àvajjantam pancadvàràvajjanacittam uppajjitvà nirujjhati.
Tato tassànantaram tameva rùpam passantam cakkhuvinnànam. Sampaticchantam
sampaticchanacittam. Santìrayamànam santìranacittam. Vavatthapentam
votthapanacittam ceti yathàkkamam uppajjitvà niruj’hanti.
Tato
param ekùnatimsa-kàmàvacarajavanesu yam kinci laddhappaccayam yebbhuyyena
sattakkhattum javati. Javanànubandhàni ca dve tadàrammanapàkàni yathàraham
pavattanti. Tato param bhavangapàto.
II.
THÍCH VĂN.
- Katham:
Sao. Uppàda: Sinh. Thiti: Trú. Bhanga: Diệt. Khanattayam: 3 sát-na.
Ekacittakkhanam: Một tâm sát-na. Sattarasacittakkhanàni: 17 tâm sát-na.
Rùpadhammànamàyu: Tuổi thọ của các sắc pháp. Ekacittakkhanàtìtàni:
Một sát-na tâm về quá khứ. Bahucittakkhanàtìtàni: Nhiều sát-na
tâm về quá khứ. Thitippattàni: Tại giai đoạn trú. Àpàthamàgacchanti.
Ðến trong phạm vi nhận thức của 5 căn. Tato param: Rồi tiếp
đến. Dvikkhattum: Hai lần. Bhavangasotam: Giòng hữu phần. Vocchinditvà:
Bị gián đoạn. Nirujjhati: Diệt. Tato tassànantaram: Từ đó,
tiếp liền theo tâm ấy. Ekùnatimsa: 29. Laddhappaccayam: Nhận
lãnh bởi nhân duyên. Yebhuyyena: Phần lớn. Bhavangapàto: Rơi
vào hữu phần.
III.
VIỆT VĂN.
- 8)
Như thể nào? Một sát-na tâm gồm có ba giai đoạn sanh, trú
và diệt. 17 sát-na tâm như vậy là tuổi thọ của các sắc
pháp. 5 đối tượng của giác quan được vào trong phạm vi
tiếp nhận của 5 căn hoặc một tâm sát-na chậm hơn hoặc
nhiều tâm sát-na chậm hơn.
Do
vậy, khi sắc pháp được vào trong phạm vi tiếp nhận của
mắt một tâm sát-na chậm hơn, tiếp theo hữu phần rung động
hai lần và giòng hữu phần dừng nghỉ, rồi ngũ môn hướng
tâm khởi lên và diệt mất, làm phận sự hướng tâm đến
sắc đối tượng ấy. Tiếp theo tâm ấy, các tâm sau đây
tuần tự khởi lên rồi diệt mất: nhãn thức thấy sắc,
tiếp thọ tâm lãnh thọ (sắc), suy đạc tâm suy đạc (sắc),
xác định tâm xác định (sắc).
Tiếp
theo, một trong 29 Dục giới tốc hành tâm do nhân duyên chi
phối, phần lớn tồn tại đến 7 sát-na. Theo sau Javanà là
hai Ðồng sở duyên tâm tùy theo mà khởi lên. Tiếp đến,
lộ trình chìm trong Bhavanga.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Theo
thông lệ, khi một đối tượng vào trong phạm vi nhận thức
của thức, qua một trong 5 cửa, một sát na của Bhavanga được
trôi qua. Sát na ấy gọi là quá khứ hữu phần (atìtabhavanga).
Rồi lộ trình của các tâm tiếp tục tiếp diễn cho đến
16 sát-na. Một đối tượng như vậy gọi là rất lớn.
- 29
Dục giới tốc hành tâm là: Bất thiện 12 + Thiện 16 + Tiếu
sanh tâm 1.
- Một
đối tượng tồn tại cho đến 17 tâm sát-na như sau:
* Pancadvàràvajjana
1 + cakkhuvinnànam 1 + sampaticchana 1 + santìrana 1 + votthapana 1 +
Javana 7 + Tadàlambana 2 = 14.
* Bhavannga
rung động 2 + quá khứ hữu phần 1 = 3.
CÁC
ÐỐI TƯỢNG RẤT LỚN, LỚN, NHỎ, RẤT NHỎ
I.
PÀLI VĂN.
- 9)
a) Ettàvatà cuddasa vìthicittuppàdà, dve bhavangacalanàni, pubbevàtìtakamekacittakkhananti
katvà sattarasacittakkhanàni paripùrenti, tato param nirujjhati. Àrammanametam
atimahantam nàma gocaram.
b)
Yàva tadàrammanuppadà pana appahontàtìtakamàpàthamàgatam àrammanam
mahantam nàma. Tattha javanàvasàne bhavangapàto va hoti, natthi tadàrammanuppàdo.
c)
Yava javanuppàdà pi appahontàtìtakamàpàthamàgatam àrammanam parittam
nàma. Tattha javanampi anuppajjitvà dvittikkhattum votthapanameva pavattati,
tato param bhavangapàto va hoti.
d)
Yàva votthapanuppàdà ca pana appahontàtìtakamàpàthamàgatam nirodhàsannamàrammanam
atiparittam nàma. Tattha bhavanga-calanameva hoti, natthi vìthicittuppàdo.
e)
Iccevam cakkhudvàre tathà sotadvàràdisu ceti sabbathàpi pancadvàre
tadàrammana-javana-votthapana-moghavàrasankhàtànam catunnam vàrànam
yathàkkamam àrammabhùtà visayappavatti-catudhà veditabbà.
II.
THÍCH VĂN.
- Cuddasa
vìthicittuppàdà: 14 sự sinh khởi các tâm ở trong lộ trình.
Patipùrenti: Làm cho đầy đủ. Gocaram: Cảnh, đối tượng.
Appahontàtìtakam: Trải qua một thời gian ngắn. Dvittikkhattun:
2 hay 3 lần. Nirodhàsannamàrammanam: Ðối tượng sắp sửa diệt.
Mogha: Trống rổng, vô ích. Vàra: Sự trình bày.
III.
VIỆT VĂN.
- 9)
a) Như vậy một đối tượng sống đầy đủ cho đến 17 tâm
sát-na sau khi được thâu nhận chậm đến một tâm sát-na,
tức là 14 tâm sanh ra ở trên lộ trình, hai sự rung động
của hữu phần. Sau đó tâm ấy diệt. Một đối tượng như
vậy gọi là rất lớn.
b)
Một đối tượng được gọi là lớn nếu được thâu nhận
chậm hơn và không thể tồn tại cho đến khi đồng sở duyên
khởi lên. Ðến cuối Tốc hành tâm, đối tượng ấy chìm
vào hữu phần và đồng sở duyên tâm không khởi lên.
c)
Một đối tượng được gọi là nhỏ nếu được thâu nhận
chậm hơn và không thể tồn tại cho đến khi Tốc hành tâm
khởi lên, ở đây Tốc hành tâm không khởi lên, xác định
tâm phải tồn tại hai hay ba tâm sát-na. Xong lại chìm vào
hữu phần.
d)
Một đối tượng sắp sửa diệt được gọi là rất nhỏ
nếu được thâu nhận rất chậm và không thể tồn tại cho
đến khi xác định tâm khởi lên. Ở đây Hữu phần chỉ
rung động, lộ trình tâm không khởi lên.
e)
Như vậy đối với nhãn môn. Cũng vậy đối với nhĩ môn
v.v... tổng cộng tất cả 5 môn, có 4 sự trình bày của đối
tượng, tùy theo thứ tự, theo 4 cách, được biết là Tadàlambana-vàra,
tồn tại cho đến Tốc hành tâm, Votthapanavàra, tồn tại cho
đến xác định tâm và moghavàra, chỉ khiến cho Hữu phần
rung động.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Vìthicitta:
Những tâm khởi ra trên lộ trình có 14: Ngũ môn hướng tâm
1 + Nhãn thức + Tiếp thọ tâm 1 + Suy đạc tâm 1 + Votthapana
1 + Javana 7 + Tadàlambana 2.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 10)
Vìthicittàni satteva cittuppàdà catuddasa, Catupannàsa vitthaàrà
pancadvàre yathàraham.
II.
THÍCH VĂN.
- Vìthicittàni:
Những tâm trên lộ trình. Catupannàsa: 54. Vitthàrà: Nói rộng
ra.
III.
VIỆT VĂN.
- 10)
Tại 5 môn khởi lên, tùy theo thứ tự:
1.
Chỉ có 7 giai đoạn Tâm sát-na trên lộ trình của tâm.
2.
14 sát-na tâm
3.
Và rộng hơn có 54 tâm.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 7
giai đoạn của tâm sát-na là ngũ môn hướng tâm, một trong
năm thức, tiếp thọ tâm, suy đạc tâm, xác định tâm, Tốc
hành tâm và Ðồng sở duyên.
- 14
Tâm sát-na là ngũ môn hướng tâm 1 + một trong 5 thức 1 + Tiếp
thọ tâm 1 + Suy đạc tâm 1 + Xác định tâm 1 + Tốc hành tâm
7 + Ðồng sở duyên 2: 14.
- 54
tâm là 54 Dục giới tâm (12 bất thiện + 18 vô nhân tâm + 24
Tịnh quang tâm).
PHẦN
HAI - LỘ TRÌNH QUA Ý MÔN
I.
PÀLI VĂN.
- 11)
Mano-dvàre pana yadi vibhùtamàlambanam àpàthamàgacchati, tato param
bhavangacalana-manodvàràvajjana-javanàvasàne tadàlambana-pàkàni
pavattanti, tato param bhavanga-pàto.
Avibhùte
àlambane javanàvasàne bhavangapàtova hoti, natthi ta-dàlambanuppàdo.
II.
THÍCH VĂN.
- Yadi:
Nếu. Vibhùtamàlambanam: Ðối tượng rõ ràng. Avibhùte: Không
rõ ràng.
III.
VIỆT VĂN.
- 11)
Nếu một đối tượng rõ ràng vào trong phạm vi nhận thức
ngang qua ý môn, tiếp theo đó Ðồng sở duyên dị thục tâm
khởi lên sau Hữu phần rung động, Ý môn hướng tâm, Tốc
hành tâm. Tiếp theo lại chìm vào Hữu phần. Nếu một đối
tượng không rõ ràng, thời sau Tốc hành tâm, rơi vào Hữu
phần, Ðồng sở duyên tâm không sanh khởi.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Những
đối tượng của sự nhận thức ngang qua ý môn thuộc về
Dục giới, như khi tưởng nhớ, suy nghĩ hay nội quán. Hay thuộc
về Ðại hành, như là quang tướng của đối tượng tu thiền;
Hay là những khái niệm của vô sắc giới, hay của siêu thế
giới, tức là Niết bàn.
Ðối
tượng ở Dục giới có thể rõ ràng hay không rõ ràng. Khi
đối tượng rõ ràng, lộ trình của tâm tồn tại cho đến
2 sát-na của Ðồng sở duyên tâm. Nhưng nếu đối tượng
không rõ ràng, thời chỉ đến giai đoạn Tốc hành tâm rồi
chìm xuống Hữu phần.
Khi
một người tu hành quán tưởng trên một đối tượng của
Ðại hành hay của Siêu thế, vị này chứng được nhiều
lộ trình trên đối tượng này và chìm xuống Bhavanga (Hữu
phần) nhiều lần. Sau một thời gian tu tập, vị ấy có thể
tùy theo ý muốn gìn giữ Tốc hành tâm (Javana) không cho chìm
xuống Bhavanga (hữu phần). Ðó gọi là Thiền tâm được tên
là Appanà (An-chỉ). Lộ trình Dục giới tâm này rất quan trọng
và được gọi là Appanà-Javana-vàra hay lộ trình của tâm
đến Appanà-Javana. Lộ trình này rất quan trọng, vì chính
ở lộ trình này mà Dục giới tâm chấm dứt và Ðại Hành
hay Siêu thế tâm bắt đầu.
Dục
giới Tốc hành tâm này phải là một trong 8 Tịnh quang tâm
tương ứng với Trí (4 Thiện + 4 Duy tác), không thể là bất
thiện hay không tương ứng với Trí. Ba hay bốn Sát-na tâm
đầu của Dục giới Tốc hành tâm này thuộc về Dục giới.
Ðại hành hay Siêu thế Tốc hành bắt đầu từ thứ tư hay
thứ năm. Nhưng Dục giới Tốc hành tâm này rất mạnh và
được gọi: 1) Parikamma (Chuẩn bị), 2) Upacàra (Cận hành),
3) Anuloma (Thuận thứ) và 4) Gotrabhù (Chuyển tánh). Sau Appanà
Javana, sẽ không có Tadàlambana (Ðồng sở duyên), vì ở đây
đối tượng không phải thuộc Dục giới.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 12)
Vìthi - cìttàni tineva cittuppàdà daserità Vitthàrena panethekacattàlìsa
vibhàvaye.
II.
THÍCH VĂN.
- Daserità:
Ðược trình bày. Vibhàvaye: Sẽ làm cho rõ ràng, sẽ giải
thích.
III.
VIỆT VĂN.
- 12)
3 loại và 10 loại (tâm) trên lộ trình của tâm được trình
bày. Sẽ được giải thích với các chi tiết, là có tất
cả 41 loại tâm.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 3
loại tức là 3 tâm: Ý môn hướng tâm, Tốc hành tâm và Ðồng
sở duyên.
- Mười
tâm sát-na là Ý môn hướng tâm 1 + Tốc hành tâm 7 + Ðồng
sở duyên 2.
- 41
tâm thuộc Dục giới được khởi lên, trừ 13 tâm sau này:
10 Thức tâm + 1 Ngũ môn hướng tâm + 2 Tiếp thọ tâm. Nên
để ý rằng 3 Suy đạc tâm và 8 Ðại Dị thục khởi lên
trên lộ trình qua ý môn, dưới danh nghĩa Ðồng sở duyên.
LỘ
TRÌNH CỦA AN-CHỈ TỐC HÀNH TÂM
I.
PÀLI VĂN.
- 13)
Appanàjavanavàre pana vibhùtàvibhùtabhedo natthi. Tathà tadàrammanuppàdo
ca. Tattha hi nànasampayut-takàmàvacarajavanànamatthannam annatarasmim
parikammopacàrànulo-magotrabhùnàmena catukkhattum tikkhattumeva và
yàthàkkamam up-pajjitvà niruddhànantarameva yathàraham catuttham pancamam
và chabbìsati mahaggata-lokuttara-javanesu yathàbhinìhàravasena yam
kinci javanam appanàvìthimotarati, tato param appanà-javanàvasàne
bhavangapàto va hoti.
II.
THÍCH VĂN.
- Parikamma:
Chuẩn bị. Upacàra: Cận hành. Anuloma: Thuận thứ. Gotrabhù:
Chuyển tánh. Chabbìsati: 26. Yathàbhinìhàravasena: Tùy theo sự
nỗ lực thích hợp. Appanàvìthimotarati: Ði xuống lộ trình
của Appanà (An chỉ).
III.
VIỆT VĂN.
- 13)
Trong sự diễn hành của An-chỉ tốc hành, không có phân biệt
đối tượng rõ ràng và không rõ ràng. Cũng không có sự sanh
khởi của Ðồng sở duyên. Ở đây, một trong 8 Dục giới
Tốc hành tâm, tương ứng với trí, tùy theo thứ tự khởi
lên, 4 lần hay 3 lần, dưới danh nghĩa Parikamma (chuẩn bị),
Upacàra (cận hành) Anuloma (thuận thứ) và Gotrabhù (chuyển
tánh). Liền sau khi chúng diệt, trong sát-na thứ tư hay thứ
năm tùy theo trường hợp, một Tốc hành tâm trong 26 Ðại
hành và Siêu thế tâm đi vào trong lộ trình của An chỉ chỉ
tùy theo sự cố gắng thích hợp.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Appanà
nghĩa là hướng dẫn và y chỉ nhứt tâm trên đối tượng
(Ekaggam cittam àrammane appenti), như vậy là một hình thức của
vitakka (tầm) nhưng sắc sảo và mãnh liệt hơn. Vị muốn tu
thiền lựa chọn một đối tượng thích hợp, tùy theo tánh
tình của mình rồi chuyên chú quán tưởng cho đến khi chứng
được sơ thiền. Ở đây lộ trình của tâm sẽ như sau: Manodvàràvajjana
(Ý môn hướng tâm), Parikamma (Chuẩn bị tâm), Upacàra (Cận
hành tâm), Anuloma (Thuận thứ tâm), Gotrabhù (Chuyển tánh),
Appanà (An chỉ). Tâm đầu là Ý môn hướng tâm, đến trước
Tốc hành tâm, và tùy thuộc với đối tượng được nhận
thức.
Thứ
đến Parikamma (Chuẩn bị tâm), sở dĩ được gọi vậy vì
tâm này sửa soạn chuẩn bị cho một tâm cao hơn, hoặc là
Ðại-hành tâm, hoặc là Siêu thế tâm. Xong đến Upacàra hay
Cận hành tâm, vì tâm này khởi lên rất gần với thiền tâm
hay Siêu thế tâm sắp chứng được. Thông thường hai sát-na
tâm này khởi lên, bắt đầu cho lộ trình của Appanà (An chỉ).
Nhưng đối với vị tu hành đã thuần thục, chỉ có Upacàra
tâm khởi lên, không có Parikamma tâm. Tâm sát-na thứ ba được
gọi là Anuloma (Thuận thức) vì tâm này vừa thuận với tâm
trước và thuận với tâm tiếp (gotrabhù). Gotrabhù nghĩa là
tâm đã diệt trừ Dục giới tánh, phát triển đại hành tánh
hoặc siêu thế tánh. Tiếp theo tâm này là tâm Appanà. Ðến
đấy định tâm đã đạt được mức độ rất cao.
Một
Jhàna chưa phát triển đến mực độ tối đa được gọi
là Upacàrasamàdhi. Ðối với người phàm phu hay người hữu
học (Sekha), một trong 4 Dục giới Tốc hành thiện tâm, tương
ứng với trí khởi lên. Ðối với vị vô học (asekha), thời
một trong 4 Dục giới Tốc hành Duy tác tâm, tương ứng với
trí khởi lên. Lộ trình của Siêu thế appanà-javana được
diễn tiến như sau:
1)
Parikamma, 2) Upacàra, 3) Anuloma, 4) Gotrabhù, 5) Magga, 6) Phala, Phala,
(Chuẩn-bị,
Cận-hành, Thuận-thứ, Chuyển-tánh, Ðạo tâm, Quả tâm, Quả
tâm).
Trong
lộ trình này, Parikamma có thể khởi hay không tùy theo trình
độ tu hành. Ở đây Gotrabhù nghĩa là tâm đã diệt trừ dục
giới tánh và phát triển siêu thế tánh.
Một
trong 4 Dục giới Tốc hành thiện tâm, tương ứng với trí
khởi lên trong 4 giai đoạn sơ khởi này. Ðối tượng của
ba tâm sát-na đầu tiên thuộc về Dục giới, nhưng đối tượng
của tâm sát-na thứ tư là Niết-bàn. Tuy vậy tâm sát-na Gotrabhù
(Chuyển tánh) này chưa có thể diệt trừ các phiền não. Chỉ
có Ðạo tâm (magga) tiếp theo mới làm cả hai phận sự thể
nhập Niết-bàn và diệt trừ phiền não. Magga hay đạo tâm
chỉ khởi có một lần, tiếp theo là 2 quả tâm, nếu có Parikamma,
hoặc 3 Quả tâm nếu không có Parikamma.
Trong
trường hợp đệ nhị, đệ tam, đệ tứ thiền, tâm sát-na
thứ tư được gọi là Vodàna (thanh tịnh), thế cho Gotrabhù.
Nếu có tâm Parikamma, thì Vodàna khởi lên vào sát-na thứ tư,
nếu không thì vào sát-na thứ ba.
Một
trong 4 Ðạo tâm (Magga) chỉ khởi lên một lần trong đời
người. Nhưng Quả tâm thì có thể chứng được cả ngày
liên tục. Ba Quả tâm trước, Dự lưu, Nhứt lai, Bất lai khởi
lên sau một Tốc hành thiện tâm.
Khi
hưởng quả A la hán, thì Tốc hành tâm khởi trước phải
là Duy-tác, vì một vị A la hán không có Tốc hành thiện tâm.
- 26
Tốc hành tâm tức là Ðại hành 18 + Siêu thế 8.
SỰ
LIÊN LẠC GIỮA TỐC HÀNH VÀ AN CHỈ-TÂM
I.
PÀLI VĂN.
- 14)
Tattha somanassasahagatajavanànantaram appanà pi somanassasahagatà va
pàtikankhitabbà. Upekkhàsahagatajavanànantaram upekkhàsahagatà va.
Tatthàpi kusalajavanànantaram kusalajavanam ceva hetthimam ca phalattayamappeti.
Kriyàjavanànantaram kriyàjavanam arahattaphalan cà ti.
II.
THÍCH VĂN.
- Pàtikankhitabbà:
Cần được mong đợi. Hetthimam: Thấp hơn.
III.
VIỆT VĂN.
- 14)
Ở đây, tiếp theo Tốc hành tâm tương ứng với hỷ, thời
Appanà tâm sẽ tương ứng với hỷ. Appanà tâm sẽ tương ứng
với xả, nếu Tốc hành tâm đi trước tương ứng với xả.
Ở đây, nếu Tốc hành tâm đi trước là thiện, thì Appanà-javana
cũng thiện hay, nếu là ba Quả chứng, thời ba Quả tâm thấp
hơn khởi lên. Một Tốc hành Duy-tác sẽ được một Tốc
hành Duy-tác tiếp theo hay A la hán quả tiếp theo.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 15)
Dvattimsasukhapunnamhà dvàdasopekkhakà param.
Sukhitakriyato
attha cha sambhonti upekkhakà.
Puthujjanàna
sekkhànam kàmapunna-tihetuto.
Tihetukàmakriyato
vìtaràgànamappanà.
II.
THÍCH VĂN.
- Dvattimsa:
32. Sambhonti: Có. Tihetuto: Từ ba nhân. Vìtaràgànam: Các vị
đã diệt trừ tham, tức là các vị A la Hán.
III.
VIỆT VĂN.
- 15)
Sau Thiện tâm câu hữu với hỷ, 32 tâm khởi lên; Sau thiện
tâm câu hữu với xả, 12 tâm khởi lên; sau Duy tác tâm câu
hữu với hỷ, 8 tâm khởi lên; sau Duy-tác tâm câu hữu với
xả, 6 tâm khởi lên.
Ðối
với phàm phu và các hạng Hữu-học, quả Appanà (An-chỉ) khởi
lên tiếp theo Dục giới thiện tâm có ba nhân; Ðối với các
vị A la Hán, thời quả Appanà (An-chỉ tâm) khởi lên tiếp
theo Dục giới Duy-tác tâm có ba nhân.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Thiện
tâm câu hữu với hỷ là 2 Dục giới tâm câu hữu với hỷ
và tương ứng với trí.
- Có
32 An-chỉ thiện tâm câu hữu với Hỷ:
Sắc
giới (4 thiền câu hữu với lạc): 4
Ðạo
(4 Ðạo x 4 thiền): 16
Quả
(3 quả trước x 4 Thiền): 12
- Có
8 An-chỉ Duy tác tâm câu hữu với Hỷ:
Sắc
giới (4 thiền đầu): 4
Siêu
thế giới (A la hán quả x 4 thiền): 4
- 12
An-chỉ thiện tâm câu hữu với xả:
Sắc
giới (Thiền thứ 5): 1
Vô
sắc giới: 4
Siêu
thế (Trừ A la Hán quả): 7
- Có
6 An-chỉ Duy-tác tâm câu hữu với xả:
Sắc
giới (Thiền thứ 5): 1
Vô
sắc giới: 4
Siêu
thế, A la Hán quả: 1
PHẦN
BA - ÐỒNG SỞ DUYÊN TÂM (Tadàlambana)
I.
PÀLI VĂN.
- 16)
Sabbathà pi panettha anitthe àrammane akusalavipàkàneva pancavinnàna-sampaticchana-santìrana-tadàrammanàni.
Itthe kusala-vipàkàni. Atiitthe pana somanassa-sahagatàneva santìranata-dàrammanàni.
Tatthàpi
somanassasahagatakriyàjavanàvasàne somanassasahagatàneva tadàrammanàni
bhavanti. Upekkhàsahagatakriyàjavanàvasàne ca upekkhà-sahagatàni
honti.
II.
THÍCH VĂN.
- Anitthe
àrammane: Ðối tượng không khả ái. Itthe: Khải ái. Atiitthe:
Hết sức khả ái.
III.
VIỆT VĂN.
- 16)
Trong tất cả trường hợp, nếu là một đối tượng không
khả ái, thời 5 Thức tâm, Tiếp thọ tâm, Suy đạc tâm, và
Ðồng sở duyên là Bất thiện Dị thục. Nếu là một đối
tượng khả ái, thì các tâm trên thuộc Thiện dị-thục. Nếu
đối tượng rất khả ái, thời Suy đạc tâm và Ðồng sở
duyên tâm câu hữu với hỷ.
Nếu
Tốc hành tâm của vị A la hán câu hữu với hỷ, Ðồng sở
duyên của vị này cũng sẽ câu hữu với hỷ. Nếu Tốc hành
tâm câu hữu với xả, Ðồng sở duyên của vị này sẽ câu
hữu với xả.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Một
kinh nghiệm hiện tại ở Dục giới được tâm thức ghi nhận
tùy theo thái độ của chúng ta đối với đối tượng, thái
độ này tùy thuộc kết quả của nghiệp chúng ta ở quá khứ.
Do vậy, những tâm làm công tác Tadàlambana là 11 Dị thục
tâm tức là 3 Suy đạc tâm và 8 Ðại Dị thục.
Nếu
Suy đạc tâm câu hữu với hỷ, đối với một đối tượng
rất khả ái, thời Tadàlambana cũng câu hữu với hỷ. Tadàlambana
vì quá muội lược nên không có thể tương ứng với sân.
Tadàlambana là kết quả của những kinh nghiệm quá khứ của
chúng ta. Một người có thể quán một vật khả ái đầy
những nguy hiểm, nhưng Tadàlambana có thể câu hữu với hỷ.
Cũng vậy một người có thể quán Từ bi đối với con rắn,
nhưng tại Tadàlambana, người ấy chỉ có xả, không có hỷ.
Chỉ có A la hán có thể chế ngự Tadàlambana, và trong trường
hợp này, Tadàlambana với Javana đồng tánh với nhau.
ÐỒNG
SỞ DUYÊN VÀ ÐỐI TƯỢNG Ở DỤC GIỚI
I.
PÀLI VĂN.
- 17)
Domanassasahagatajavanàvasàne pana tadàrammanàni ceva bhavangàni ca
upekkhàsahagatàni eva bhavanti. Tasmà yadi somanassapatisandhikassa
domanassa-sahagatajavanàvasàne tadà-rammanasambhavo natthi, tadà yam
kinci paricitapubbam parittàramma-namàrabbha upekkhàsahagatasantìranam
uppajjati. Tamanantaritvà bhavangapàto va hotìti vadanti àcariyà.
Tathà
kàmàvacarajavanàvasàne kàmàvacarasattànam kàmàvacaradhammesveva
àrammnabhùtesu tadàrammanam icchantìti.
II.
THÍCH VĂN.
- 17)
Domanassa: Ưu. Avasàne: Cuối cùng. Paricitapubbam: Quen thuộc ở
quá khứ. Parittàrammanàrabbha: Y cứ trên dục giới đối tượng.
Anantaritvà: Tiếp theo, sau khi đó. Àcariyà: Pháp sư.
III.
VIỆT VĂN.
- 17)
Tiếp theo Tốc hành tâm câu hữu với ưu, cả hai Ðồng sở
duyên và Hữu phần đều tương ứng với xả. Do vậy, đối
với một người mà Kiết sanh thức tương ứng với hỷ, thời
sau Tốc hành tâm tương ứng với ưu, sẽ không có Ðồng sở
duyên, khi ấy một Suy đạc tâm tương ứng với xả khởi
lên, từ một đối tượng thuộc Dục giới mà người ấy
quen thuộc trong quá khứ. Liền sau đó, theo ý kiến một vài
Pháp-sư, sẽ chìm xuống trong Hữu phần. Ðồng sở duyên chỉ
có thể khởi, cuối cùng một Dục giới Tốc-hành tâm, với
những chúng sanh ở Dục giới và chỉ đối với một đối
tượng thuộc Dục giới.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Ðồng
sở duyên tiếp theo một Dục giới Tốc hành tâm câu hữu
với hỷ sẽ câu hữu với hỷ. Cũng vậy, những Tốc hành
tâm câu hữu với xả. Theo thông lệ, Tốc hành tâm đi trước
và Ðồng sở duyên tâm đi sau đều cùng chung một cảm thọ.
Nhưng nếu Tốc hành tâm câu hữu với ưu, thời Ðồng sở
duyên sẽ tương ứng với xả. Nếu Kiết sanh thức (Patisandhi)
của một người câu hữu với hỷ thời sẽ không có Ðồng
sở duyên vì Bhavanga tiếp theo cũng câu hữu với Hỷ. Trong
trường hợp này Suy đạc tâm câu hữu với xả khởi lên
trong một sát-na và được gọi là àganutukabhavanga. Thông thường,
đối tượng của Tốc hành tâm và của Ðồng sở duyên tâm
giống nhau. Trong trường hợp này, đối tượng lại khác nhau.
Ðối tượng của Santìrana (Suy đạc tâm) là một Dục giới
đối tượng mà người này đã quen thuộc trong đời trước
của người này. Ðối tượng này được gọi là Paritta (nhỏ)
so sánh với sắc giới, vô sắc giới, siêu thế giới đối
tượng. Nếu Kiết sanh thức (Patisandhi) không câu hữu với
hỷ, thời Ðồng sở duyên sẽ trở thành Upekkhà (xả) cũng
như Bhavanga tiếp theo...
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 18)
Kàme javanasattàrammanànam niyame sati Vibhùtetimahante ca tadàrammanam
ìritam.
II.
THÍCH VĂN.
- Satta:
Chúng sanh. Niyame: Chắc chắn. Sati: Có. Vibhùta: Rõ rệt. Iritam:
Ðược nói đến.
III.
VIỆT VĂN.
- 18)
(Các vị) nói rằng Ðồng sở duyên khởi lên, đối với những
đối tượng rõ rệt và rất lớn, khi nào có sự chắc chắn
đối Dục-giới tốc hành tâm, chúng sanh và đối tượng.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Tadàlammbana
chỉ khởi ra sau những Dục giới Tốc hành tâm, chỉ với
những chúng sanh ở Dục giới, với những đối tượng ở
Dục giới, những đối tượng này hoặc rất lớn hoặc rất
rõ ràng.
CÁC
TỐC HÀNH TÂM: THỜI GIAN TÁNH DỤC GIỚI VÀ ÐẠI HÀNH TÂM
I.
PÀLI VĂN.
- 19a)
Javanesu ca parittajavanavìthiyam kàmà-vacarajavannàni sattakkhattum
chakkhattumeva và javanti. Mandappavat-tiyam pana maranakàlàdisu pancavàrameva.
Bhagavato pana yamakapà-tihàriya-kàlàdisu lahukappavattiyam cattàri
panca và paccavekkhanacit-tàni bhavantìti pi vadanti. Àikammikassa
pana pathâkappanàyam mahaggatajavanàni abhinnàjavanàni ca sabbathàpi
ekavàrameva javanti, tato param bhavangapàto va.
II.
THÍCH VĂN.
- Sattakkhattum:
7 lần. Chakkhattumeva: 6 lần. Mandapavattiyam: Khi bị bất tỉnh.
Maranakàla: Khi sắp chết. Pacavàram: 5 lần. Yamakapàtihàriyakàlà:
Trong khi hiện thần thông Song hành. Kahukappavattiyam: Khi sự
diễn tiến quá mau lẹ. Àdikammika: Người mới tập sự. Pathamakappanàyam:
Trong khi tu sơ thiền. Abhinnàjavanàni: Những thắng trí tốc
hành tâm. Ekavàrameva: Chỉ có một lần.
III.
VIỆT VĂN.
- 19a)
Trong những Tốc hành tâm, khi lộ trình thuộc về Dục giới,
thời những Dục giới tốc hành tâm sẽ khởi lên 7 lần hay
sáu lần. Trong trường hợp bị bất tỉnh hay khi gần chết
v.v..., tốc hành tâm được lặp đi lặp lại 5 lần. Khi đức
Thế-Tôn làm các thần thông gọi là song hành v.v..., khi sự
diễn tiến rất mau lẹ, nên tâm suy quán khởi lên 5 hay 6 lần
(các vị Pháp sư) nói như vậy.
Ðối
với kẻ tu hành mới chứng lần đầu tiên, trong thiền thứ
nhất, những Ðại-hành tốc hành tâm và Thắng trí tốc hành
tâm khởi lên chỉ có một lần trong mọi trường hợp, rồi
bị chìm xuống Bhavanga (Hữu phần).
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Cả
về phương diện tâm lý và đạo đức, Javana tâm rất quan
trọng vì thiện hay ác được định đoạt trong giai đoạn
này. Thông thường Dục giới Tốc hành tâm tồn tại 6 hay
7 sát-na. Khi con người bị bất tỉnh hay sắp chết, tốc hành
tâm tồn tại chỉ có 5 sát-na. Khi đức Phật hiện thần thông,
phun lửa lẫn nước từ thân của Ngài, chỉ có 4 hay 5 Tốc
hành tâm khởi lên để suy quán những tâm sở thiền, một
điều kiện tiên quyết để hiện thần thông song hành. Khi
người tu thiền lần đầu tiên, chứng được sơ thiền Tốc
hành tâm chỉ tồn tại có một sát-na. Cũng vậy khi chứng
được 5 Thắng trí (Abhinnà) tức là: 1) Iddhividha (Thần túc
thông), 2) Dibbasota (Thiên nhĩ thông), 3) Dibbacakkhu (Thiên Nhãn
thông), 4) Paracittavijànana (Tha tâm-thông), 5) Pubbe nivàsànussatinànna
(Túc mạng thông).
SIÊU
THẾ TỐC HÀNH TÂM
I.
PÀLI VĂN.
- 19b)
Cattàro pana magguppàdà ekacittakkhanikà. Tato param dve tìni phalacittàni
yathàraham uppajjanti. Tato param param bhavangapàto. Nirodhasamàpattikàle
dvikkhattum catutthàruppajavanam javati. Tato param nirodham phusati.
Vutthànakàle ca anàgàmiphalam và arahattaphalam và yathàrahamekavàram
uppajjitvà niruddhe bhavangapàto va hoti.
Sabbathà
pi samàpattivìthiyam bhavangasote viya vìthiniyamo natthìti katvà
bahùni pi labbhantìti.
20.
Sattakkhattum parittàni maggàbhinnà sakim matà.
Avasesàni
labbhanti javanàni bahùni pi.
II.
THÍCH VĂN.
- Magguppàdà:
Khi đạo tâm sanh khởi. Ekacittakkhanikà: Nhứt tâm sát-na. Nirodhasamàpattikàle:
Khi chứng diệt tận định. Phusati: Cảm xúc. Catutthàruppajavanam:
Vô sắc đệ tứ thiền tốc hành tâm. Vutthànakàle: Khi từ
định khởi dậy. Ekavàram: Một lần. Bhavangasote: Trên dòng
của Hữu phần. Vìthiniyamo: Sự quyết định của lộ trình.
Sakim: Một lần. Matà: Cần phải hiểu. Avasesàni: Những trường
hợp khác.
III.
VIỆT VĂN.
- 19b.
4 Ðạo khởi lên chỉ tồn tại có một sát-na. Rồi đến
hai hay ba Quả tâm tùy thuộc khởi lên. Rồi chìm xuống Hữu-phần.
Khi chứng Diệt tận định, Ðệ tứ thiền Tốc hành tâm cõi
vô sắc chạy đến hai lần, rồi chứng Diệt tận định.
Khi từ định ấy khởi dậy, hoặc A-na-hàm quả hay A la hán
quả tùy thuộc khởi lên một lần. Khi quả tâm này diệt,
thời chìm xuống Hữu phần.
Trong
mọi trường hợp, trên lộ trình của sự quả chứng này,
lộ trình diễn tiến như dòng sông của Hữu phần, không có
sự dừng nghi lộ trình của tâm, Tốc hành tâm có thể tồn
tại lâu dài.
20.
Cần phải biết, Tốc hành tâm ở Dục giới khởi lên 7 lần,
Ðạo tâm và Thắng trí tâm chỉ có một lần. Các trường
hợp khác, các Tốc-hành tâm khởi lên nhiều lần.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 4
Tốc hành Ðạo tâm cũng chỉ có một tâm sát-na. Chính ở
đây mà Niết-bàn được trực nhận lần đầu tiên. Một
vị A na hàm hay A la hán đã tu sắc giới và vô sắc giới
thiền có thể, với sức mạnh của ý chí, tạm dừng sự
trôi chảy của tâm thức cho đến 7 ngày không dừng nghỉ.
Khi một người chứng đến quả này, mọi hoạt động tâm
linh đều dừng nghỉ, cho đến hơi thở cũng không, nhưng vẫn
còn mạng căn và sức nóng. Sự sai khác giữa một thây chết
và một vị vào Diệt tận định là vị này vẫn sống như
thường. Ðịnh này được đặt tên là Nirodhasamàpatti, nirodha
là diệt. Samàpatti là chứng đến. Sách nói rằng thân của
vị đang nhập định này không thể bị ai làm hại.
Liền
trước khi chứng định này, vị này chứng trong hai sát-na,
vô sắc đệ tứ thiền (phi tưởng phi phi tưởng xứ). Rồi
dòng tâm thức dừng lại cho đến khi vị này muốn xuất khỏi
Diệt tận định. Thường lệ, vị này nhập định khoảng
một tuần lễ. Khi vị này từ định khởi dậy, sát-na tâm
đầu tiên là A na Hàm quả tâm nếu vị này là vị A na Hàm;
hay là A la hán quả tâm nếu vị này là A la hán. Sau đó dòng
tâm thức chìm lại trong Bhavanga.
PUGGALA-BHEDA:
CÁC LOẠI CHÚNG SANH - VÔ NHÂN VÀ NHỊ NHÂN CHÚNG SANH
I.
PÀLI VĂN.
- 21)
Duhetukànamahetukànan ca panettha kriyàjavanàni ceva appanàjavanàni
ca na labbhanti. Tathà nànasampayutta-vipàkàni ca sugatiyam. Duggatiyam
pana nànavippayuttàni ca mahàvipàkàni na labbhanti.
II.
THÍCH VĂN.
- Duhetukànam:
Những chúng sanh có hai nhân. Ahetukànam: Những chúng sanh vô
nhân. Kriyàjavanàni: Duy tác tốc hành tâm. Appanàjavanàni: An
chỉ tốc hành tâm. Na labbhanti: Không có được. Sugatiyam: Ở
Thiện thú. Duggatiyam: Ở Ác thú.
III.
VIỆT VĂN.
- 21)
Ở đây, đối với chúng sanh có dị thục hai nhân và không
nhân, không có Duy-tác Tốc hành tâm và An chỉ Tốc hành tâm.
Cũng vậy chúng sanh ở thiện thú cũng không có Dị thục tâm
tương ứng với trí. Còn chúng sanh sinh ở ác thú thời Ðại
Dị-thục không tương ứng với trí cũng không có.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Vì
sự sai khác của tâm tánh nên chúng sanh chia làm ba loại.
a)
Chúng sanh hạ tánh: Tâm của chúng thuộc bản năng và hành
động của chúng bị tham, sân, si chi phối trong đời trước.
Tâm của chúng yếu ớt như Suy-đạc tâm câu hữu với xả,
tức là Dị-thục bất thiện tâm. Những hạng này không thể
chứng thiền tâm.
b)
Những kẻ ngu si, điếc và sinh ra mù. Tâm của chúng cũng thuộc
về bản năng như tâm của hạng trước, rất yếu ớt vì
hành động quá khứ của chúng được thiện nhân (kusala hetu)
rất yếu chi phối, yếu như Suy-đạc tâm câu hữu với xả,
tức là Di-thục của thiện tâm không tương ứng với trí.
Hai hạng chúng sanh này được gọi là Ahetuka (vô nhân chúng
sanh) vì Dị thục của chúng không có nhân nào. Chúng cũng
không có thể chứng thiền tâm.
c)
Những chúng sanh có vô tham và vô sân nhưng không có vô si
được gọi là Duhekuta (nhị nhân chúng sanh), vì hành động
của chúng được vô tham, vô sân chi phối mạnh ở quá khứ,
nhưng không có vô si. Chúng không có vô si trong Di thục tâm
của chúng. Hạng chúng sanh này không có Jhàna (Thiền)
TAM
NHÂN CHÚNG SANH
I.
PÀLI VĂN.
- 22)
Tihetukesu ca khìnàsavànam kusalàkusalajavanàni ca na labbhanti, tathà
sekkha-puthujjanànam kriyàjavanàni. Ditthigatasampayuttavicikicchàjavanàni
ca sekkhànam. Anàgàmipuggalànam pana patighajavanàni ca na labbhanti.
Lokuttarajavanàni ca yathàraham ariyànameva samuppajjantì ti.
II.
THÍCH VĂN.
- Tihetukesu:
Với chúng sanh có ba nhân. Khìnàsavànam: Ðã diệt trừ các
lậu hoặc. Sekkha: Hạng hữu học. Anàgàmipuggalànam: Các chứng
sanh chứng quả Bất lai. Patigha: Sân.
III.
VIỆT VĂN.
- 22)
Ðối với các vị đã diệt trừ lậu hoặc các hạng ba nhân
chúng sanh, thiện và bất thiện Tốc hành tâm không khởi lên.
Cũng vậy, đối với chúng sanh phàm phu và hàng hữu học,
Duy tác tốc hành tâm không khởi lên. Ðối với các hàng hữu
học, tâm tương ưng với tà kiến hay tâm tương ưng với nghi
không khởi lên. Ðối với chúng sanh đã chứng A-na-hàm, hai
tâm tương ưng với sân không khởi lên. Và những Siêu thế
Tốc hành tâm sẽ tùy thuộc sự thích ứng, khởi lên với
các vị Thánh.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Những
chúng sanh nào có tâm mạnh mẽ và sáng suốt vì hành động
của chúng ở quá khứ được vô tham, vô sân và vô si chi
phối, được gọi là ba nhân chúng sanh. Sở dĩ được gọi
như vậy vì tâm dị thục này câu hữu với ba thiện nhân.
Các vị này có thể tu thiền và chứng được Siêu thế tâm.
Các
vị có nhị nhân tâm và vô nhân tâm không có được Duy tác
hay An-chỉ tâm. Dầu chúng sinh ra làm người, chúng không có
Tịnh quang Dị thục tâm tương ưng với trí (vì chúng không
có Tịnh quang Thiện tâm tương ưng với trí trong đời trước).
Nếu sinh ra làm thú vật hay hạng chúng sanh thấp kém hơn,
chúng cũng không có Tịnh quang Dị thục tâm không tương ưng
với trí.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 23)
Asekkhànam catucattàlìsa sekkhànamuddise, Chapannàsàvasesànam catupannàsa
sambhavà.
II.
THÍCH VĂN.
- Uddise:
Ðược nói đến. Catucattàlìsa: 44. Chapannàsa: 56. Avasesànam:
Các chúng sanh còn lại. Catupannàsa: 54. Sambhavà: Có.
III.
VIỆT VĂN.
- 23)
Ðối với hạng vô học, có 44 tâm khởi lên. Ðối với hạng
hữu học, có 56 tâm khởi lên. Còn đối với chúng sanh còn
lại, có 54 tâm khởi lên.
IV.
THÍCH NGHĨA.
a)
Vị A la hán không có 45 tâm sau đây:
Bất
thiện 12 + Dục giới thiện 8 + Sắc giới thiện 5 + Vô sắc
giới thiện 4 + Ðạo tâm 4 + Ðại hành Dị thục 9 và ba quả
đầu 3.
Trừ
45 tâm này, các vị A la hán có thể có 89 - 54: 44 tâm.
b)
Các vị hữu học không có 33 tâm sau đây:
* Duy
tác tốc hành tâm (Tiếu sanh tâm 1 + Dục giới hữu nhân tâm
8 + Ðại hành tâm 9): 18.
* Bất
thiện tâm tương ưng với Tà kiến 4 + Bất thiện tâm tương
ưng với nghi 1 + A la hán quả 1 + Ðại hành Dị thục 9: 15
Trừ
33 tâm này, các vị hữu học có 89 - 33: 56 tâm.
c)
Các vị phàm phu không có 35 tâm sau đây:
Duy
tác tốc hành 18 + Siêu thế tâm 8 + Ðại hành Dị thục 9.
Trừ
35 tâm này, các vị phàm phu có 89 - 35: 54 tâm.
CÁC
ÐỊA GIỚI: BHÙMI
I.
PÀLI VĂN.
- 24)
Kàmàvacarabhùmiyam panetàni sabbàni vìthicittàni yathàrahamupalabbhanti,
rùpàvacarabhùmiyam patighajavanatadàrammanavajjitàni. Arùpàvacarabhùmiyam
pathamamaggarùpàvacarahasanahe thimàruppavajjitàni ca labbhanti. Sabbatthàpi
ca tạm-tạm-pasàdarahitànam tam-tam-dvàrikavìthicittàni na labbhanteva.
Asannasattànam pana sabbathà pi cittappavatti natthevà ti.
II.
THÍCH VĂN.
- Upalabbhanti:
Có được. Hetthhimà: Các tâm ở dưới. Pasàdarahitànam: Những
chúng sanh không có tịnh sắc căn. Asannasattànam: Các chúng
sanh vô tưởng. Cittappavatti: Sự diễn tiến của tâm.
III.
VIỆT VĂN.
- 24)
Ở trên Dục giới địa, tất cả tâm diễn tiến trên những
lộ trình đã nói đến trước đều được khởi lên, tùy
theo trường hợp. Trên Sắc giới địa, trừ tốc hành tâm
tương ưng với sân và tất cả tâm làm phận sự Ðồng sở
duyên.
Trên
vô sắc giới địa, đạo tâm thứ nhất, tất cả tâm ở
sắc giới, Tiếu sanh tâm và tâm của một sô sắc giới địa
thấp hơn không có thể khởi lên.
Trong
mọi trường hợp, khi nào thiếu một căn môn nào, thì những
tâm của lộ trình khởi qua căn môn ấy không thể khởi lên.
Ðối với chúng sanh vô tưởng, trong mọi trường hợp, không
có sự diễn tiến của tâm.
TÓM
TẮT
I.
PÀLI VĂN.
- 25)
Asìti vìthicittàni kàme rùpe yathàraham, Catusatthi tathà-rùpe
dvecattàlìsa labbhare.
26)
Iccevam chadvàrikacittappavatti yathàsambhavam bhavangantarità yàvatàyukamabbocchinnam
pavattatìti.
II.
THÍCH VĂN.
- Asìti:
8. Catusatthi:64. Dvecattàlìsa: 42. Labbhare: Khởi lên, chứng được.
Iccevam: Như vậy. Yathàsambhavam: Tùy theo sự có mặt. Bhavangantarità:
Sau khi chìm vào trong hữu phần: Yàvatàyukam: Cho đến mạng
chung. Abbocchinnam: Không gián đoạn. Pavattati: Diễn tiến.
III.
VIỆT VĂN.
- 25)
Ở Dục giới, 8 tâm có thể khởi trên lộ trình. Ở sắc
giới 64, và ở vô sắc giới 42 tâm có thể khởi lên tùy
theo trường hợp.
26)
Như vậy, sự diễn tiến của tâm ngang qua 6 căn môn tùy theo
chúng khởi lên, sau khi chìm trong hữu phần, được diễn tiến
không có gián đoạn cho đến lúc chết.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 1)
Trừ 9 Ðại hành Dị thục, tất cả 8 tâm còn lại có thể
khởi lên trong sự diễn tiến của tâm ở Dục giới.
2)
Trừ 16 tâm (Sân tâm 2 + Ðại Dục thục Ðồng sở duyên 8
+ Tỷ, thiệt, thân thức 6), 64 tâm còn lại (8 - 16) khởi lên
ở sắc giới.
3)
42 tâm sau đây khởi lên ở vô sắc giới:
Bất
thiện tâm (trừ 2 sâm tâm) 10 + Ý môn hướng tâm 1 + Dục giới
thiện duy tác tâm 16 + Vô sắc giới tâm 8 + Siêu thế tâm (trừ
Ðạo tâm thứ nhất) 7 tâm.
TÓM
TẮT CÁC LOẠI LỘ TRÌNH
I.
Qua 5 căn môn: Ðối tượng rất lớn.
1.
Atìta Bhavanga, 2) Bhavanga calana, 3) Bhavangupaccheda, 4) Pancadvàràvajjana,
5) Cakkhuvinnàna, 6) Sampaticchana, 7) Santìrana, 8) Votthapana, 9 -
15) Javana, 16 - 17) Tadàlambana.
(Hữu
phần quá khứ, Hữu phần rung động, Hữu phần ngưng lại,
5 môn hướng tâm, Nhãn thức, Tiếp thọ tâm, Suy đạc tâm,
Xác định tâm, Tốc hành tâm, Ðồng sở duyên).
II.
- Qua ý môn: Ðối tượng rất rõ ràng
1)
Manodvàràvajjana, 2 - 8) Javana. 9 - 10) Tadàlambana.
(Ý
môn hướng tâm, Tốc hành tâm, Ðồng sở duyên tâm).
III.
Các Sắc giới Thiền tâm
1)
Manodvàràvajjana, 2) Parikamma, 3) Upacàra, 4) Anuloma, 5) Gotrabhù,
6) Appanà
(Ý
môn hướng tâm, chuẩn bị, cận hành, thuận thứ, chuyển
tánh, an chỉ).
IV.
- Các vô sắc giới Thiền tâm
1)
Manodvàràvajjana, 2) Parikamma, 3) Upacàra, 4) Anuloma, 5) Gotrabhù,
6) Àkàsanancàyatana.
(Ý
môn hướng tâm, Chuẩn bị, Cận hành, Thuận thứ, Chuyển
tánh, Không vô biên xứ).
V.
- Siêu thế tâm
1)
Parikamma, 2) Upacàra, 3) Anuloma, 4) Gotrabhù, 5) Magga, 6 - 7) Phala.
(Chuẩn
bị, Cận hành, Thuận thứ, Chuyển tánh, Ðạc tâm, Quả tâm).