CHƯƠNG
NĂM
VÌTHIMUTTA
(Ra ngoài lộ trình): CÁC ÐỀ TÀI ÐƯỢC BÀN ÐẾN
I.
PÀLI VĂN.
- 1)
Vìthicittavasenevam pavattiyamudìrito, Pavattisangaho nàma sandhiyan
dàni vuccati.
2)
Catasso bhùmiyo, catubbidhà patisandhi, cattàri kammàni, catudhà maranuppatti
ceti vìthimuttasangahe cattàri catukkàni veditabbàni.
II.
THÍCH VĂN.
- Pavattiyamudìrito:
Ðã giải thích sự diễn tiến của tâm. Vìthicittavasena: Theo
lộ trình của tâm. Sandhiyam: Sự nối liền. Dàni: Nay. Cuccati:
Nói đến. Maranuppatti: Nhân của chết. Vìthimuttasangaho: Sự
tổng hợp các pháp ra ngoài lộ trình. Veditabbàni: Cần phải
biết đến.
III.
VIỆT VĂN.
- 1)
Ðã nói đến sự diễn tiến của tâm qua lộ trình. Nay nói
đến sự diễn tiến của tâm lúc tái sanh.
2)
Trong sự tổng hợp của tâm thoát ngoài lộ trình, 4 loại
4 thứ cần được biết tức là 4 địa, 4 sự tái sanh, 4 nghiệp,
4 nguyên nhân của chết.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Sự
diễn tiến của tâm có hai: 1) Ngang qua lộ trình (Vìthicitta)
như đã nói đến trước. 2) Khi tái sanh, tiếp nối từ đời
nay qua đời khác. Phần trước đã nói đến trong các chương
trước. Nay nói đến phần thứ hai.
BỐN
ÐỊA
I.
PÀLI VĂN.
- 3)
Tattha apãyabhùmi, kãmasugatibhùmi, rùpàvacarabhùmi, arùpàvacarabhùmi
ceti catasso bhùmiyo nàma.
4)
Tàsu, nirayo, tiracchànayoni, pettivisayo, asurakàyo ceti apàyabhùmi
catubbidhà hoti.
5)
Manussà càtummahàràjikà, tàvatinsà, tusità, nimmànarati, paranimmitavasavattì
ceti kàmasugatibhùmi sattavidhà hoti.
Sà
panàyam, ekàdasavidhà pi kàmàvacarabhùmicceva sankhamgacchati.
II.
THÍCH VĂN.
- Apàyabhùni:
Ác thú địa. Kàmasugatibhùmi: Dục giới thiện thú địa. Niraya:
Ðịa ngục. Tiricchànayoni: Súc sanh. Pettivisaya: Ngạ quỷ. Asurakàya:
A-tu-la. Càtummahàràjikà: 4 thiên vương. Tàvatimsà: Tam thập
tam thiên. Yàmà: Dạ ma thiên. Tusità: Ðâu suất đà thiên.
Nimmànarati: Hóa lạc thiên. Paranimmitavasavattì: Tha hóa tự tại
thiên. Sattavidhà: Có 7 loại. Sankham gacchanti: Tổng hợp.
III.
VIỆT VĂN.
- 3)
Ở đây 4 địa là Ác thú địa, Dục giới thiên địa, Sắc
giới địa, Vô sắc giới địa.
4)
Ở đây ác thú địa này có 4 = Ðịa ngục, súc sanh, ngã quỷ
và A-tu-la.
5)
Dục giới thiên có 7 = Loài người, Tứ thiên vương, Tam thập
tam thiên, Dạ ma thiên, Ðâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên,
Tha hóa tự tại thiên.
Như
vậy Dục giới địa tổng cộng có 11 cõi tất cả.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Apàya:
apa + aya: Chỗ không có hạnh phúc. Niraya: Nis + aya (từ chữ
ì): Ði đến chỗ tiêu diệt.
Tiracchàna:
Tiro: Ngang Acchàna: Ði. Các súc sanh đi ngang, bò xuống, không
đi thẳng như người.
Peta:
Pa + i + ta: Chúng sanh đã đi nghĩa là đã chết. Chúng không
phải là ma quỷ vô hình. Chúng có sắc thân nhưng mắt người
không có thể thấy. Chúng không có cảnh giới riêng. Chúng
sống trong rừng hay tại các chỗ nhớp nhúa.
Asura
nghĩa là những vị không có hoan lạc hay không có chói sáng.
Những A-tu-la này khác với một loại A-tu-la thù nghịch với
chư thiên và sống ở Tam thập tâm thiên.
Manussa:
Loài người. Ma-no Ussannam etesam, những người có những tâm
cao thượng. Chữ Phạm Manusya nghĩa là con của Manu, loài người
trở thành văn minh sau vị tu sĩ Manu.
Càtummahàràjika:
Tứ thiên vương. Cõi này là cõi thấp nhất trong các cõi chư
Thiên.
Tàvatimsa:
Tam thập tam thiên Sakka, Ðế Thích ở tại đây. Sở dĩ được
gọi như vậy là theo tích truyện có 33 vị, dưới sự hướng
dẫn của Magha đã làm những thiện sự và được sinh vào
cõi này.
Yàma:
Yam nghĩa là tàn phá, diệt trừ. Diệt trừ khổ đau nên gọi
là Yàma.
Tusita:
Những vị sống sung sướng. Theo tục truyền, vị Bồ tát
tương lai sống tạ đây và chờ đợi cơ hội thuận tiện
để sinh ra làm người và thành Phật.
Nimmànarati:
Những vị sống hoan lạc trong những lâu đài tự tạo ra.
Paranimmitavasavatti:
Những vị đem dưới quyền của mình các vật do các vị khác
hóa hiện.
SẮC
GIỚI THIÊN VÀ VÔ SẮC GIỚI THIÊN
I.
PÀLI VĂN.
- 6)
Brahamapàrisajjà, Brahmapurohità, Mahàbrahmà ceti pathamajjhànabhùmi,
Parittàbhà, Appamànàbhà, Àbhassarà ceti dutiyajjhànabhùmi. Parittasubhà,
Appamànasubhà, Subhakinhà ceti tatiyajjhànabhùmi. Vehapphalà, Asannasattà,
Suddhàvàsà ceti catutthajjhànabhùmì ti rùpàvacarabhùmi solasavidhà
hoti. Avihà, Atappà, Sudassà, Sudassì, Akanitthà ceti suddhàvàsa-bhùmi
pancavidhà hoti.
7)
Àkàsànancàyatanabhùmi, Vinnànancàyatanabhùmi, Àkincànnàyatanabhùmi,
Nevasannànàsannàyatanabhùmi ceti arùpabhùmi catubbidhà hoti.
II.
THÍCH VĂN.
- Brahmapàrisajjà:
Phạm chúng thiên. Brahmapurohità: Phạm phụ thiên. Mahàbrahmà:
Ðại Phạm Thiên. Parittàbhà: Thiểu quang thiên. Appamànàbhà:
Vô lượng quang thiện. Àbhassarà: Quang âm thiên. Parittasubhà:
Thiểu tịnh thiên. Appamanàsubhà: Vô lượng tịnh thiên. Subhakinhà:
Biến tịnh thiên. Vehapphalà: Quảng quả thiên. Asannasattà:
Vô tưởng thiên. Suddhàvàsà: Phước sanh thiên. Solasavidhà:
16 loại. Avihà: Vô phiền thiên. Atappà: Vô nhiệt thiên. Sudassà:
Thiện hiện thiên. Sudassì: Thiện kiến thiên. Akanitthà: Sắc
cứu cánh thiên.
III.
VIỆT VĂN.
- 6)
Ðệ nhứt thiền thiên có ba: Phạm chúng thiên. Phạm phụ
thiên. Ðại Phạm thiên. Ðệ nhị thiền thiên có ba: Thiểu
quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên. Ðệ tam thiền
thiên có ba: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến
tịnh thiên. Ðệ tứ thiền thiên có ba: Quảng quả thiên,
Vô tưởng thiên, Phước sanh thiên. Phước sanh thiên chi làm
5: Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện hiện thiên, Thiện
kiến thiên và Sắc cứu kính thiên.
7)
Vô sắc giới thiên có 4: Không vô biên xứ thiên, Thức vô
biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi
tưởng xứ thiên.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Có
ba Phạm thiên, chỗ sanh trưởng của những vị đã chứng
sơ thiền. Cảnh giới thấp nhất là Phạm chúng thiên nghĩa
là những vị sanh ra giữa những đồ chúng của Ðại Phạm
Thiên. Cảnh thứ hai là Phạm phụ thiên nghĩa là những phụ
tá, những tổng trưởng của Ðại Phạm Thiên. Cảnh giới
thứ ba là Ðại Phạm Thiên. Các vị này được gọi vậy
vì các vị này sống lâu hơn; hình thái đẹp hơn và nhiều
hạnh phúc hơn.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 8)
Puthujjanà na labbhanti suddhàvàsesu sabbathà.
Sotàpannà
ca sakadàgàmino càpi puggalà.
Ariyà
nopalabbhanti asannàpàyabhùmisu.
Sesatthànesu
labbhanti aryànariyà pi ca.
II.
THÍCH VĂN.
- Puthujjanà:
Phàm phu. Suddhàvàsesu: Ở Phước sanh thiên. Ariyà: Các bậc
thánh. Anariyà: Các bậc không phải thánh.
III.
VIỆT VĂN.
- 8)
Ở Phước sanh thiên, các phàm phu, các bậc Dự lưu, Nhứt
Lai không có sanh trong mọi trường hợp. Các vị Thánh không
có sanh trong Vô tưởng thiên và ác thú. Các vị Thánh hay không
phải Thánh sanh trong những cảnh giới còn lại.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Ở
Phước sanh thiên, chỉ có các vị A-na-hàm và A la hán sanh.
Các vị A-na-hàm được sanh ở đây, chứng quả A la hán và
sống cho đến khi thọ mạng mãn.
CÁC
LOẠI KIẾT SANH THỨC Ở ÁC THÚ
I.
PÀLI VĂN.
- 9)
Apàyapatisandhi, kàmasugatipatisandhi, rùpàvacarapatisandhi, arùpàvacarapatisandhi
ceti catubbidhà patisandhi nàma.
10)
Tattha akusalavipàkopekkhàsahagatasantìranam apàyabhùmiyam okkantikkhane
patisandhi, hutvà, tato param bhavangam, pariyosànecavanam ca hutvà
vocchijjati. Ayamekàpàyapatisandhi nàma.
II.
THÍCH VĂN.
- Okkantikkhane:
Khi thác sanh vào. Pariyosàne: Cuối cùng.
III.
VIỆT VĂN.
- 9)
Kiết sanh thức có 4: Ác thú kiết sanh thức, Dục giới thiên
kiết sanh thức, Sắc giới thiên kiết sanh thức và Vô Sắc
giới thiên kiết sanh thức.
10)
Ở đây, Suy đạc tâm, bất thiện dị thục tương ưng với
xả làm Kiết sanh thức khi thác sanh vào Ác thú, rồi thành
Hữu phần, cuối cùng thành Tử thức và bị diệt. Ðó là
kiết sanh thức độc nhất ở Ác thú.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Kiết
sanh thức ở Ác thú là Suy đạc tâm câu hữu với xả và
thuộc bất thiện dị thục.
KIẾT
SANH THỨC Ở DỤC GIỚI
I.
PÀLI VĂN.
- 11)
Kusalavipàkopekkhàsahagatasantìranam pana kàmasugatiyam manussànam
ceva jaccandhàdìnam, bhummanissitànam ca vinipàtikasurànam patisandhi-bhavanga-cuti-vasena
pavattati. Mahàvipàkàni pana attha sabbatthà pi kàmasugatiyam patisandhi-bhavanga-cuti-vasena
pavattanti. Imà nava kàmasugatipatisandhiyo nàma.
Sà
panàyam dasavidhà pi kàmàvacarapatisandhicceva sankham gacchati.
II.
THÍCH VĂN.
- Jaccandhàdìnam:
Những người sanh ra đã mù v.v... Bhummanissitànam: Bị hệ thuộc
với địa giới. Vinipàtikàsurànam: Những A-tu-la bị đọa
lạc. Dasavidhà: Có 10 loại. Sankham gacchati: Tổng quát, tổng
cộng.
III.
VIỆT VĂN.
- 11)
Thiện Dị-thục Suy-đạc câu hữu với xả làm phận sự Kiết
sanh thức, Hữu phần và Tử tâm cho những người sinh ra đã
mù v,v... và những A-tu-la bị đọa lạc. Còn 8 Ðại Dị-thục
trong mọi trường hợp làm phận sự Kiết sanh thức, Hữu
phần và Tử tâm cho những chúng sanh sanh ở Dục giới thiên.
9 Kiết sanh thức này gọi là Kiết sanh thức trong Dục giới
thiên. Những Kiết sanh thức ấy họp thành Kiết sanh thức
ở Dục giới.
SỐ
LƯỢNG TUỔI THỌ
I.
PÀLI VĂN.
- 12)
Tesu catunnam apàyànam, manussànam vinipàtikàsurànam ca àyuppamànagananàya
niyamo natthi. Càtummahàràjikànam pana devànan dibbàni pancavassasatàni
àyuppamànam. Manussagananàya navutivassasatasahassappamànam hoti. Tato
cattuggunam tàvatimsànam. Tato catuggunam yàmànam. Tato catuggunam
tusitanam. Tato catuggunam nimmànaratìnam. Tato catuggunam tusitanam.
Tato catuggunam nimmànaratìnam. Tato catuggunam paranimmitavasavitìnam
devànam ayùppamànam.
13.
Navasatam cekavìsa vassànam kotiyo tathà,
Vassasatasahassàni
satthi ca vasavattisu.
II.
THÍCH VĂN.
- Àyuppamànaganana:
Số lượng tuổi thọ. Yiyamo natthi: Không có hạn định. Dibbàni
pancavassasatàni: 500 tuổi trời. Navutivassasatasahassappamànam:
Số lượng 9.000.000 năm. Catuggunam: 4 lần nhiều hơn. Navasatam:
900. Ekavìsa: 21. Koti: 10 triệu (10.000.000).
III.
VIỆT VĂN.
- 12)
Không có hạn định về số lượng tuổi thọ của những
chúng sanh sanh ở 4 cõi Ác thú, của loài người và các A-tu-la
bị đọa lạc. Số lượng tuổi thọ của Tứ-thiên-vương
là 500 tuổi trời. Tính toán theo tuổi người là 9.000.000 năm.
Tuổi thọ của Tam thập tam thiên là 4 lần nhiều hơn, của
Dạ ma thiên là 4 lần nhiều hơn, của Ðâu suất thiên là
4 lần nhiều hơn, của Hóa lạc thiên là 4 lần nhiều hơn
và của Tha hóa tự tại thiên là 4 lần nhiều hơn.
13.
Thọ mạng của Tha hóa tự tại thiên là 9.216.000.000 tuổi
người.
KIẾT
SANH THỨC Ở SẮC GIỚI
I.
PÀLI VĂN.
- 14)
Pathamajjhànavipàkam pathamajjhànabhùmiyam patisandhi-bhavanga-cutivasena
pavattati, tathà dutiyajjhànavipàkam, tatiyajjhànavipàkanca, dutiyajjhànabhùmiyam,
catutthajjhànavipàkam tatiyajjhànabhùmiyam, pancamajjhànavipàkam
catutthajjhàna-bhùmiyam. Asannasattànam pana rùpameva patisandhi hoti,
tathà tato param pavattiyam cavanakàle ca rùpameva pavattitvà nirujjhati.
Imà cha rùpàvacarapatisandhiyo nàma.
II.
THÍCH VĂN.
- Tato
param: Tiếp theo đó. Cavanakàle: Khi lâm chung.
III.
VIỆT VĂN.
- 14)
Sơ thiền dị thục tâm tác động ở sơ thiền giới, phận
sự Kiết sanh thức, Hữu phần và Tử tâm. Cũng vậy đệ
nhị thiền dị-thục tâm và đệ tam thiền dị-thục tâm ở
đệ nhị thiền thiên giới, đệ tứ thiền dị-thục tâm
ở đệ tam thiền thiên giới, đệ ngũ thiền dị-thục tâm
ở đệ tứ thiền thiên giới. Riêng đối với chúng sanh ở
Vô tưởng thiên, Kiết sanh thức là sắc pháp và tiếp theo
đó cũng vậy trong đời sống và khi lâm chung, chỉ có sắc
pháp tồn tại và diệt mất. Những tâm này là 6 Kiết sanh
thức ở Sắc giới.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Các
địa giới thiền phân loại theo kinh tạng nên chỉ có 4, nhị
thiền và tam thiền hợp lại thành một.
THỌ
MẠNG TRÊN SẮC GIỚI THIÊN
I.
PÀLI VĂN.
- 15)
Tesu brahmapàrisajjànam devànam kappassa tatiyo bhàgo àyuppamànam,
brahmapurohitànam upaddhakappo, mahàbrahmànam eko kappo, parittàbhànam
dve kappàni, appamànàbhànam cattàri kappàni, àbhassarànam attha
kappàni, parittasubhànam solasa kappàni, appamànasubhànam dvattimsaka
ppàni, subhakinhànam catusatthi kappàni, vehapphalànam asannasattànanca
panca kappasatàni, avihànam kappasahassàni, atappànam vehapphalànam
dve kappasahassàni, sudassànam cattàri kappasahassàni, sudassìnam
attha kappasahassàni, akanitthànam solasa kappasahassàni.
II.
THÍCH VĂN.
- Kappa:
Kiếp. Tatiyo bhàgo: Một phần ba. Upaddhakappa: Một nửa kiếp.
III.
VIỆT VĂN.
- 15)
Ở tại các cảnh giới này, thọ mạng của các vị Phạm
chúng thiên là 1/3 của một kiếp, các vị Phạm phụ thiên
là 1/2 của kiếp; của Ðại Phạm Thiên là một kiếp; của
Thiện quang thiên là 2 kiếp; của Vô lượng quang thiên là
4 kiếp; của Quang Âm thiên là 8 kiếp; của Thiện tịnh thiên
là 16 kiếp, của Vô lượng tịnh thiên là 32 kiếp; của Biến
tịnh thiên là 64 kiếp; của Quảng quả thiên và Vô tưởng
thiên là 500 kiếp; của Vô phiền thiên là 1.000 kiếp; của
Vô nhiệt thiên là 2.000 kiếp; của Thiện hiện thiên là 4.000
kiếp; của Thiện kiến thiên là 8.000 kiếp; của Sắc cứu
kính thiên là 16.000 kiếp.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Kappa:
Ở đây ở Ðại kiếp. Có ba loại kiếp: Antarakappa (Trung kiếp),
Asankheyyakappa (Vô lượng kiếp) và Mahàkappa (Ðại kiếp). Antarakappa:
Trung-kiếp là thời gian tuổi con người lên từ 10 tuổi đến
vô số tuổi rồi trụt xuống chỉ có 10 tuổi. 20 trung kiếp
như vậy là vô số kiếp (asankheyyakappa), 4 vô số kiếp thành
một Ðại kiếp (mahàkappa). Một Ðại kiếp là thời gian cần
thiết để quăng cho hết các hột cải trong một khoảng đất
rộng, cao và dài một do tuần, cứ 100 năm là quăng một hột
cải.
KIẾT
SANH THỨC VÀ TUỔI THỌ Ở VÔ SẮC GIỚI - TOÁT YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 16)
Pathamàruppàdivipàkàni pathamàruppàdibhùmisu yathàkkamam patisandhi-bhavanga-cutivasena
pavattati Imà catasso àruppapatisandhiyo nàma.
17)
Tesu pana àkàsànancàyatanùpagànam devànam vìsati kappasahassàni
àyuppamànam vinnànancàyatanùpagànam devànam cattàlisa kappasahassàni,
ãkincannàyatanùpagànam devànam satthi kappasahassàni, nevasannànàsannàyatanũpagànam
devànam caturàsìti kappasahassàni.
18)
Patisandhi bhavangan ca tathà cavanamànasam,
Ekameva
tatheveka-visayam cekajàtiyam.
II.
THÍCH VĂN.
- Pathamàruppàdivipàkàni:
Vô sắc đệ nhứt thiền dị thục tâm v.v... Yathàkkamam: Tùy
theo sự thích hợp Àkàsànancàyatanùpagànam: Ðã chứng được
không vô biên xứ. Cavanamànasam: Tử tâm. Ekameva tatheva: Giống
nhau. Ekavisayam: Một đối tượng. Ekajàtiyam: Trong một đời.
III.
VIỆT VĂN.
- 16)
Những dị thục tâm của đệ nhứt thiền v.v... ở vô sắc
giới hoạt động ở vô sắc sơ thiền cảnh giới v.v... tùy
theo sự thích hợp với tánh cách Kiết sanh thức, Hữu phần
và Tử tâm. Chúng là 4 Kiết sanh thức ở Vô sắc giới.
17)
Ở những cảnh giới ấy, thọ mạng của Chư Thiên ở không
Vô biên xứ là 20 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Thức vô biên
xứ là 40 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Vô sở hữu xứ là
60 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ
là 84 ngàn kiếp.
18)
Trong một đời sống, Kiết sanh thức, Hữu phần và Tử tâm
thuộc một loại và cùng một đối tượng.
BỐN
LOẠI NGHIỆP
I.
PÀLI VĂN.
- 19)
Janakamupatthambhakamupapìlakamupaghàtakam ceti kiccavasena, garukamàsannamàcinnam
katattàkammam ceti pàkadànapariyàyena, ditthadhammavedanìyam upapajjavedanìyam
aparà-pariyavedanìyam ahosikammam ceti pàkakàlavasena cattàri kammàni
nàma.
Tathà
akusalam, kàmàvacarakusalam, rùpàvacarakusalam, arùpà-vacarakusalam
càti pàkatthànavasena.
II.
THÍCH VĂN.
- Janaka:
Sanh nghiệp. Upatthambhaka: Trì nghiệp. Upapìlaka: Chướng nghiệp.
Upaghàtaka: Ðoạn nghiệp. Kicca: Công tác. Garuka: Cực trọng
nghiệp. Àsanna: Cận tử nghiệp. Àcinna: Tập quán nghiệp.
Katattà: Tích lũy nghiệp. Pàkadànapari-yàyena: Theo sức mạnh
của quả báo. Ditthadhammavedananìya: Hiện báo nghiệp. Upapajjavedanìya:
Sanh báo nghiệp. Aparàpariyavedanìya: Hậu báo nghiệp. Ahosikamma:
Vô hiệu nghiệp. Pàkakàlavasena: Theo thời gian của quả báo.
Pàkatthànavasena: Theo vị trí của quả báo.
III.
VIỆT VĂN.
- 19)
Về phương diện công tác, có bốn loại nghiệp: sanh nghiệp,
trì nghiệp, chướng nghiệp và đoạn nghiệp.
Về
phương diện sức mạnh thứ tự đưa đến hình thành của
quả báo, có bốn loại nghiệp: cực trọng nghiệp, cận tử
nghiệp, tập quán nghiệp và tích lũy nghiệp.
Về
phương diện thời gian đưa đến sự thọ lãnh kết quả của
nghiệp, có bốn loại nghiệp: hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp,
hậu báo nghiệp và vô hiệu nghiệp.
Về
phương diện vị trí quả báo, có bốn loại nghiệp: bất
thiện nghiệp, dục giới thiện nghiệp, sắc giới thiện nghiệp
và vô sắc giới thiện nghiệp.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Kamma
nghĩa là hành động, tạo tác. Nói một cách thiết thực hơn,
kamma là những hành động thiện, ác cố ý. Trừ đức Phật
và các vị A la hán, hành động cố ý của các loài khác đều
gọi là kamma.
Kamma
là hành động, vipàka là quả hay phản ứng của nghiệp. Theo
Abhidhamma, kamma bao trùm 12 Bất thiện Tâm, 8 Dục giới thiện
tâm, 5 Sắc giới thiện tâm, 4 Vô sắc thiện tâm. 8 Siêu thế
tâm không gọi là kamma vì những tâm này có tánh cách đoạn
trừ căn rễ của kamma, khiến không còn sanh tử. Tại Siêu
thế tâm, trí tuệ (pannà) chiếm địa vị ưu thắng. Tại
Dục giới tâm, Tư (cetanà) chiếm địa vị ưu thắng. 29 tâm
kể trên gọi là kamma, vì chúng chứa khả năng tạo ra quả
báo. Có 23 tâm gọi là quả báo dị thục ở Dục giới. 5
tâm là quả báo dị thục ở Sắc giới và 4 tâm là quả dị
thục ở Vô sắc giới.
Janakakamma
(sanh nghiệp) là nghiệp chi phối sự sanh trưởng trong một
đời sau. Sự chết của con người chỉ là sự kết liễu
tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chính tâm sát
na cuối cùng định đoạt đời sống tương lai của con người.
Theo
sớ giải, Janakakamma là nghiệp sanh ra tâm uẩn và sắc uẩn
khi mới thọ thai. Tâm đầu tiên là Patisandhi vinnàna (kiết
sanh thức) bị chi phối bởi Janakakamma này.
Upatthambhakakamma
(trì nghiệp) là nghiệp tiếp theo Janakakamma, duy trì và nâng
đỡ nghiệp này cho đến khi mệnh chung. Một thiện trì nghiệp
có thể làm con người khỏe mạnh, an lạc, hạnh phúc. Trái
lại, một bất thiện nghiệp có thể làm con người bệnh
hoạn, đau khổ v.v...
Upapìlakakamma
là chướng nghiệp. Nghiệp này, trái với nghiệp trước, làm
cho yếu ớt, dừng lại và chậm trễ sự kết thành của sanh
nghiệp. Như một người sanh ra với một thiện sanh nghiệp
có thể đau đớn bịnh hoạn, do vậy không có kết quả tốt
lành của nghiệp thiện.
Upaghàtakakamma,
đoạn nghiệp là nghiệp đoạn trừ, tiêu diệt năng lực của
sanh nghiệp, như một mũi tên đang bay có thể bị một sức
mạnh nào khác cản lại khiến cho mũi tên rơi xuống. Sức
mạnh ấy là đoạn nghiệp. Ðoạn nghiệp này có thể thiện
hay ác.
Một
ví dụ điển hình công năng của các nghiệp trên là đời
sống của Devadatta. Thiện sanh nghiệp khiến Devadatta sanh trong
gia đình vương giả giàu có. Nhờ trì nghiệp Devadatta được
sống hạnh phúc an lạc trong một thời gian khá dài. Vì chướng
nghiệp, Devadatta bị nhục nhã khi bị tẩn xuất ra khỏi Giáo
hội. Vì đoạn nghiệp, Devadatta bị chết một cách đau đớn.
Garukakamma
(cực trọng nghiệp) có thể thiện hay bất thiện. Nghiệp
này nhất định tạo quả đời này hay đời sau. Nếu là thiện,
thời thuộc ý nghiệp như các thiền tâm. Nếu không phải
thiện, có thể khẩu nghiệp hay thân nghiệp. 5 cực trọng
nghiệp là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp
tăng, làm thân Phật chảy máu. Cực trọng này cũng gọi là
Ànantariyakamma (vô gián nghiệp) vì nhất định nghiệp này
đem đến kết quả trong đời sau. Nếu một người tu thiền
và sau làm một cực trọng nghiệp, thiện nghiệp của người
này sẽ bị cực trọng nghiệp tiêu trừ. Ðời sống sau này
của vị này sẽ bị chi phối bởi cực trọng nghiệp, như
Devadatta mất thần thông và phải sanh vào ác thú vì đã làm
đức Phật bị thương và phá hòa hợp Tăng. Như vua Ajàtasattu
không thể chứng sơ quả vì đã giết phụ vương.
Àsannakamma
(cận tử nghiệp) là nghiệp làm ra hay nhớ nghĩ khi lâm chung.
Nghiệp này rất quan trọng vì chi phối đến đời sống sau
này. Cho nên nhiều lễ nghi tổ chức khiến người sắp chết
nhớ lại việc thiện để người ấy được sanh vào những
cõi tốt đẹp hơn. Một người ác có thể sanh lên thiện
thú nếu khi chết người ấy nhớ hay làm một thiện sự.
Trái lại một người thiện có thể chết một cách đau đớn
hay sanh vào ác thú nếu khi chết người ấy làm hay nhớ đến
một việc ác. Như hoàng hậu Mallika, vợ của vua Kosala sống
một đời sống ngay thẳng tốt lành, nhưng chỉ vì khi lâm
chung, nhớ đến một lời nói láo của mình, nên phải sống
7 ngày đau khổ trong ác thú.
Àcinnakamma
(tập quán nghiệp) là nghiệp thường làm và thường nhớ
đến. Chính những hành động trở thành tập quán tác thành
cá tánh con người. Cunda, người đồ tể, chết la hét như
con heo, vì sống bằng nghề đồ tể, dầu sống bên cạnh
chùa của đức Phật. Vua Dutthagàmi ở Tích-Lan thường cúng
dường cơm nước cho chư Tăng trước khi ăn cơm. Chính tập
quán nghiệp này khiến vua hoan hỷ lúc chết và được sanh
lên cõi trời Tusita (Ðâu suất).
Katattàkamma
(tích lũy nghiệp) nghĩa là làm những nghiệp không thuộc vào
ba loại nghiệp kể trên và những nghiệp làm mà quên liền,
thuộc về loại nghiệp này. Nghiệp này như là chỗ chứa
đựng các nghiệp cho một chúng sanh.
Ditthidhammavedanìyakamma:
Hiện báo nghiệp, là nghiệp đưa đến kết quả hiện tại.
Theo Abhidhamma, chúng ta làm thiện hay ác trong giai đoạn Javana
(tốc hành tâm), tâm này tồn tại đến 7 Sát-na. Quả báo
của tâm sát-na thứ nhất, tâm yếu ớt nhất, có thể được
lãnh thọ ngay ở đời này. Như vậy gọi là hiện báo nghiệp.
Nếu không thọ lãnh ngay trong đời này, nghiệp ấy gọi là
Vô hiệu. Tâm sát-na yếu ớt thứ hai là tâm sát-na thứ 7.
Quả báo của tâm này có thể thọ lãnh đời sau thì gọi
là Upapajjavedanìya (sanh báo nghiệp). Nghiệp này nếu không
đưa đến quả báo đời sau thì được gọi là vô hiệu.
Quả báo của các sát-na tâm ở giữa có thể được thọ
lãnh bất kỳ lúc nào cho đến khi chứng được Niết bàn.
Loại nghiệp này gọi là Aparàpariyavedanìya hậu báo nghiệp.
Chính đức Phật và các vị A-la-hán cũng không thoát khỏi
nghiệp này. Không có một loại nghiệp đặc biệt gọi là
Ahosikamma (Vô hiệu nghiệp), nhưng khi một nghiệp nào phải
có quả báo ở đời này hay đời sau, mà không thành tựu
được, nghiệp ấy gọi là Ahosikamma.
CÁC
NGHIỆP BẤT THIỆN
I.
PÀLI VĂN.
- 20)
Tattha akusalam kàyakammam, vacìkammam, manokammam ceti kammadvàravasena
tividham hoti.
21)
Katham? Pànàtipàto, adinnàdànam, kàmesu micchàcàro ceti kàyavinnattisankhàte
kàyadvàre bàhullavuttito kàyakammam nàma.
22)
Musàvàdo, pisunvàcà, pharusavàcà, samphappalàpo ceti vacìvinnattisankhàte
vacìdvàre bàhullavuttito vacìkammam nàma.
23)
Abhijjhà, byàpàdo, micchàditthi ceti annataràpi vinnattiyà manasmim
yeva bàhullavuttito manokamman nàma.
24)
Tesu pànàtipàto, pharusavàcà, byàpàdo ca dosamùlena jàyanti. Kàmesu
micchàcàro, abhijjhà micchàditthi ca lobhamùlena. Sesàni cattàri
pi dvìhi mùlehi sambhavanti. Cittuppàdavasena panetam akusalam sabbathà
pi dvàdasavidham hoti.
II.
THÍCH VĂN.
- Pànàtipàta:
Sát sanh. Adinnadànam: Lấy của không cho. Kàmesu micchàcàra:
Tà dâm. Kàyavinnattisankhàte: Ðược gọi là thân biểu. Bàhullavuttito:
Nhiều lần, phần lớn. Dùng chữ này vì những hành động
này có thể làm qua những ngưỡng cửa khác. Abhijjhà: Tham.
Vyàpàda: Sân. Micchàditthi: Tà kiến. Annataràpi vinnattiyà: Qua
các biểu nghiệp khác. Jàyanti: Sinh ra. Sesàni: Còn lại. Cittuppda:
Tâm sanh.
III.
VIỆT VĂN.
- 20)
Ở đây có ba loại bất thiện nghiệp tùy theo nghiệp môn:
Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
21)
Sao? Sát sanh, lấy của không cho, tà dâm gọi là thân nghiệp
vì chúng phần lớn làm bởi thân.
22)
Nói láo, nói hai lưỡi, ác ngữ, ỷ ngữ gọi là khẩu nghiệp
vì chúng phần lớn do miệng thốt ra.
23)
Tham, sân, các tà kiến gọi là ý nghiệp vì chúng phần lớn
làm bởi ý.
24)
Trong những nghiệp này, sát sanh, ác khẩu và sân được khởi
lên do sân căn. Tà dâm, tham, tà kiến được khởi lên do tham
căn. 4 pháp còn lại khởi lên do cả hai căn. Tùy theo tâm sanh,
bất thiện có 12 loại tất cả.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Tà
kiến có ba loại: Ahetuka ditthi: xem mọi vật sinh ra không có
nhân gì. Akiriyaditthi xem thiện và ác không có quả báo. Nàtthika
ditthi: xem không có đời sau.
CÁC
NGHIỆP THIỆN
I.
PÀLI VĂN.
- 25)
Kàmàvacarakusalampi kàyadvàre pavattam manokammam ceti, Kammadvàravasena
tividham hoti. Tathà dàna-sìla-bhàvanàvasena. Cittuppàdavasena panetam
atthavidham hoti. Dàna-sìla-bhàvanà-apacàyana-veyyàvaccapattidàna-pattànumodana
- dhammasavana-dhammadesanà-ditthijjukammavasena dasavidham hoti. Tam
panetam vìsatividhampi kàmàvacarakammamicceva sankham gacchati.
26.
a) Rùpàvacarakusalam pana manokammameva, tanca bhàvanàmayam appanàpattam,
jhànangabhedena pancavidham hoti.
b)
Tathà arùpàvacarakusalam ca manokammam. Tampi bhàvanà-mayam, appanàpattam,
àrammanabhedena catubbidham hoti.
II.
THÍCH VĂN.
- Pavattam:
Thuộc về, diễn hành. Dàna: Bố thí. Sìla: Trì giới. Bhàvanà:
Thiền định. Apacàyana: Cung kính. Veyyàvacca: Phục vụ. Pattidàna:
Bố thí phước, hồi hướng công đức. Pattànumodana: Tùy hỷ
công đức. Dhammasavana: Nghe pháp. Dhammadesanà: Thuyết pháp.
Ditthijjukammavasena: Khiến tà kiến được chơn chánh. Sankham
gacchati: Tổng hợp lại. Bhàvanàmayam: Thuộc về thiền định.
Appanàttam: thuộc về an chỉ (appanà) tức là thiền tâm.
III.
VIỆT VĂN.
- 25)
Thiện nghiệp ở Dục giới cũng có ba loại theo ngưỡng cửa
hoạt động, tức là nghiệp làm qua thân môn gọi là thân
nghiệp, qua khẩu môn gọi là khẩu nghiệp, qua ý môn gọi
là ý nghiệp. Cũng chia làm ba loại theo: bố thí, trì giới,
thiền định; Lại chia làm tám theo loại tâm khởi lên. Lại
cũng chia làm mười loại theo; Bố thí, trì giới, thiền định,
cung kính, phục vụ, hồi hướng công đức, tùy hỷ công đức,
nghe pháp, thuyết pháp, khiến tà kiến trở thành chơn chánh.
Như vậy tổng hợp có hai mươi thiện nghiệp ở Dục giới.
26.
a) Còn Sắc giới thiện chỉ thuộc ý nghiệp, do thiền định
sanh, thuộc thiền tâm và chia thành năm loại theo các cõi thiền.
b)
Cũng vậy Vô sắc giới thiện chỉ thuộc ý nghiệp, do thiền
định sanh, thuộc thiền tâm và chia thành bốn loại theo đối
tượng tu hành.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Ðoạn
này chỉ các thiện tâm ở Dục giới, Sắc giới và Vô sắc
giới, phân loại theo thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp
hoặc phân loại theo các thiện pháp, hoặc theo các thiền định.
QUẢ
CỦA NGHIỆP BẤT THIỆN
I.
PÀLI VĂN.
- 27)
Etthàkusalakammamuddhaccarahitam apàyabhùmiyam patisandhim janeti. Pavattiyam
pana sabbampi dvàdasavidham sattàkusalapàkàni sabbathà pi kàmaloke
rùpaloke ca yathàraham vipaccati.
II.
THÍCH VĂN.
- Ettha:
Ở đây. Uddhaccarahitam: Trừ trạo cử. Apàyabhùmi: Ác thú.
Pavattiyam: Trong sự diễn tiến của tâm. Sattàkusalapàkàni:
Bảy bất thiện dị thục. Vipaccati: Sinh quả.
III.
VIỆT VĂN.
- 27)
Ở đây, trừ trạo cử, các bất thiện nghiệp còn lại khiến
sanh vào cõi Ác thú. Nhưng tất cả mười hai bất thiện nghiệp
phát sanh bảy bất thiện dị thục tâm, những tâm này có
thể khởi ở Dục giới và ở Sắc giới, trong sự diễn tiến
của tâm, tùy theo trường hợp.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Uddhacca
(Trạo cử) không đủ sức mạnh để tạo Patisandhi trong ác
thú. Trạo cử chỉ diệt trừ trong A La hán đạo tâm. Ác quả
của mgười hai bất thiện tâm là bảy bất thiện dị thục
tâm, chúng có thể hiện hạnh trong đời sống hiện tại.
QUẢ
CỦA NGHIỆP THIỆN
I.
PÀLI VĂN.
- 28)
Kàmàvacarakusalampi kàmasugatiyameva patisandhim janeti. Tathà pavattiyam
ca mahàvipàkàni. Ahetukavipàkàni pana attha pi sabbatthàpi kàmaloke
rùpaloke ca yathàraham vipaccati.
II.
THÍCH VĂN.
- Kàmasugati:
Dục giới thiện thú.
III.
VIỆT VĂN.
- 28)
Thiện nghiệp ở Dục giới khiến sanh ở thiện thú cõi Dục
giới. Cũng vậy tám Ðại dị thục khởi lên trong đời sống
hiện tại (làm công tác đồng sở duyên) (Tadàlambana) ở Dục
giới. Tám Dị thục vô nhân có thể sanh ở Dục giới và
Sắc giới (trong đời sống hiện tại) tùy theo trường hợp.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Các
thiện nghiệp đưa đến thiện quả là tám vô nhân thiện
dị thục tâm và tám Tịnh quang Dị thục tâm. Kết quả của
tám Tịnh quang thiện tâm có thể là Kiết sanh thức (Patisandhi)
và cũng có thể là tám Tịnh quang thiện dị thục tâm trong
đời sống hằng ngày.
QUẢ
CỦA HAI VÀ BA THIỆN NHÂN
I.
PÀLI VĂN.
- 29)
Tatthàpi tihetukamukkatham kusalam tihetukam patisandhim datvà pavatte
solasa vipàkàni vipaccati. Tihetukamomakam dvihetukamukkattham ca kusalam
dvihetukam patisandhim datvà pavatte tihetukarahitàni dvàdasa vipàkàni
vipaccati. Dvihetuka momakam pana kusalam ahetukameva patisandhim deti.
Pavatte ca ahetukavipàkàneva vipaccati.
II.
THÍCH VĂN.
- Ukkattha:
Thù thắng. Tihetukam: Ba nhân. Omaka: Thấp.
III.
VIỆT VĂN.
- 29)
Ở đây, các thiện nghiệp thù thắng đầy đủ ba nhân khiến
được Kiết sanh thức có đủ ba nhân (rất thông minh) và
ở trong đời được sanh mười sáu dị thục. Thiện nghiệp
tương ưng với ba thiện nhân thấp kém hơn và với hai nhân
thù thắng hơn khiến được Kiết sanh thức có đủ hai nhân,
và đưa đến kết quả mười hai dị thục, trừ những dị
thục có đủ ba nhân, trong đời sống hằng ngày. Những thiện
nghiệp tương ưng với hai nhân kém hơn khiến được Kiết
sanh thức không có nhân và đem đến kết quả dị thục vô
nhân trong đời sống hàng ngày.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Các
thiện nghiệp thù thắng đầy đủ ba nhân là bốn Tịnh quang
thiện tâm tương ưng với trí. Chữ Ukkattha (U: Cao) (Kas: Kéo)
là thù thắng thiện nghiệp, có thiện nhân trước và sau khi
hành động. Như bố thí cho một vị hết sức gìn giữ giới
luật thanh tịnh, với tiền của được một cách chơn chánh
và sau khi cho không có hối tiếc được xem là một thiện
nghiệp thù thắng nhất. Omaka: Thấp kém. Khi bố thí, có thể
có tâm với ba thiện nhân. Nhưng nếu cho một người độc
ác với tiền của không được chân chánh và sau lại hối
hận thời nghiệp như vậy là gọi là thấp kém.
Mười
sáu dị thục tâm khởi lên trong đời sống bình thường là
tám vô nhân tâm và tám hữu nhân hoạt động với công tác
Tadàlam bana (Ðồng sở duyên). Bốn thiện - nghiệp yếu ớt
hơn cả ba thiện nhân (4 Tịnh quang tâm tương ưng với trí)
và bốn thiện nghiệp mạnh hơn chỉ có vô tham vô sân (4 Tịnh
quang tâm không tương ưng với trí) khiến sanh ra có trí thông
minh sút kém. Quả dị thục của chúng khởi lên, trong tuần
tự diễn tiến của tâm chỉ có mười hai loại, tức là trừ
4 loại tương ứng với trí. Một thiện tâm yếu ớt hơn,
chỉ có vô tham, vô sân làm nhân, (không có vô si tức là bốn
tâm không tương ưng với trí) khiến sanh ra thành người hoặc
sanh ra đã mù, câm hay ngu đần. Các dị thục khởi lên trong
diễn tiến của tâm gồm tám vô nhân dị thục tâm.
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 30)
Asankhàram sasankhàra-vipàkàni na paccati,
Sasankhàramasankhàravipàkàni
ti kecana.
Tesam
dvàdasa pàkàni dasattha ca yathàkkamam,
Yathàvuttànusàrena
yathàsambhavamuddise.
II.
THÍCH VĂN.
- Paccati:
Sanh ra. Kecana: Một số luận sư. Dvàdasa dasattha: Mười hai,
mười và tám. Yathàkkamam: Tùy thuộc theo. Yathàvuttànusàrena:
Theo như đã nói trước. Yathàsambhavam: Theo thứ tự hưng khởi.
Uddise: Cần được nêu lên.
III.
VIỆT VĂN.
- 30)
Một vài (luận sư) cho rằng, các tâm không cần nhắc bảo
không thể sanh ra dị thục tâm cần được nhắc bảo và tâm
cần được nhắc bảo không thể sanh ra dị thục tâm không
cần nhắc bảo.
Theo
(các vị này) như đã nói đến trước, các dị thục tâm
khởi lên, theo thứ tự là 12, 10 và 8 cần được nêu lên.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Những
luận sư đề cập đến là những luận sư giáo phái của
Ðại Ðức Mahàdhammarakkhita ở chùa Moravapi, Tích-Lan. Theo những
vị này, một tâm mạnh hơn trong hai tâm không cần nhắc bảo,
tương ưng với trí có thể sanh 12 dị thục tâm tức là 4
tâm không cần nhắc bảo và tám vô nhân dị thục tâm. Cũng
vậy một tâm mạnh hơn trong hai tâm cần được nhắc bảo,
tương ưng với trí có thể sanh 12 dị thục tâm, tức là 4
tâm cần được nhắc bảo và tám vô nhân tâm.
Một
tâm yếu hơn của hai tâm tương ưng với trí và một tâm mạnh
hơn của hai tâm không tương ưng với trí không cần nhắc
bảo sanh 10 dị-thục tâm (2 dị thục tâm không tương ưng
với trí không cần nhắc bảo và tám vô nhân tâm). Cũng vậy
đối với hai tâm cần được nhắc bảo. Một tâm yếu hơn
của tâm không tương ưng với trí chỉ sanh có tám vô nhân
tâm.
QUẢ
CỦA SẮC GIỚI THIỆN NGHIỆP
I.
PÀLI VĂN.
- 31)
Rùpàvacarakusalam pana pathamajjhànam parittam bhàvetvà brahmapàrisajjesu
uppajjati. Tadeva majjhimam bhàvetvàbrahmapurohitesu, panìtam bhàvetvà
mahàbrahmesu. Tathà dutiyajjhãnam-tatiiajjhànanca paritam bhàvetvà
parittàbhesu, majjhimam bhàvetvà appamànàbhesu, panìtam bhàvetvà
àbhassaresu. Catutthajjhànam parittam bhàvetvà paritasubhesu, majjhimam
bhàvetvà appamànasubhesu, panìtam bhàvetvà subhakinhesu. Pancamajjhànam
bhàvetvà vehapphalesu, tadeva sannàviràgam bhàvetvà asannasattesu.
Anàgàmino pana suddhàvàsesu uppajjanti.
II.
THÍCH VĂN.
- Paritta:
nhỏ. Brahmapàrisà: Phạm chúng. Brahmapurohita: Phạm phụ thiên.
Mahàbrahmà: Ðại Phạm thiên. Parittàbha: Thiểu quang thiên.
Appamànàbha: Vô lượng quang thiên. Àbhassara: Quang âm thiên.
Parittasubha: thiểu tịnh thiên. Appamànasubha: Vô lượng tịnh
thiên. Subhakinha: Biến tịnh thiên. Vehapphala: Quảng quả thiên
Sannàviràga: Không chấp tưởng. Asannasatta: Loại vô tưởng.
Anàgàmino: Những vị bất lai. Suddhàvàsa: Tịnh cư thiên.
III.
VIỆT VĂN.
- 31)
Ðối với thiện tâm ở Sắc giới, ai chứng Sơ thiền một
cách yếu ớt, được sanh vào cõi Phạm chúng thiên; một cách
trung bình, được sanh vào cõi Phạm phụ thiên; một cách thù
thắng, được sanh vào cõi Ðại phạm thiên. Cũng vậy, ai
chứng Nhị thiền và Tam thiền một cách yếu ớt, được
sanh vào cõi Vô lượng quang thiên; một cách thù thắng, được
sanh vào cõi Quang âm thiên. Ai chứng Tứ thiền một cách yếu
ớt, được sanh vào cõi Thiểu tịnh thiên: một cách trung
bình, được sanh vào cõi Vô lượng tịnh thiên; một cách
thù thắng, được sanh vào cõi Biến Tịnh thiên. Ai chứng
Ngũ thiền được sanh vào cõi Quảng quả thiên. Ai chứng thiền
này mà không có chấp trước vào tưởng thời được sanh
trong hàng vô tưởng hữu tình. Còn những vị chứng quả Bất
Lai (A-na-hàm) được sanh vào Tịnh cư thiên.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Hàng
Dự lưu (Sotàpanna) và Nhứt lai (Sakadàgami) chứng Ðệ ngũ
thiền được sanh vào cõi Quảng quả thiên nhưng nếu các
vị này không có tha thiết gì đến cảnh giới có sắc, có
thể sanh vào các Vô sắc giới thiên.
Các
hàng Bắt-Lai (Anàgàmi) chứng Ðệ ngũ Thiền và có năm đức
tánh tín, tấn, niệm, định, huệ đồng đều, được sanh
vào Quảng Quả thiên. Những ai có lòng tin mãnh liệt, lấn
át các đức tánh khác, được sanh vào cõi Avihà (vô phiến
thiên); có tinh tấn (viriya) mãnh liệt, lấn át các đức tánh
khác, được sanh vào cõi Atappa (Vô nhiệt thiên), có niệm
(sàti) mãnh liệt, lấn át các đức tánh khác, được sanh
vào cõi Sudassa (Thiện Kiến thiên); có định (Sanàdhi) mãnh
liệt, lấn át các đức tánh khác, được sanh vào cõi Sudassi
(Thiện hiện thiên); có Huệ (Pannà) mãnh liệt, lấn át các
đức tánh khác, được sanh vào cõi Akanittha (Sắc cứu cánh
thiên).
Các
vị Bất Lai không có luật nhất định nói các vị này không
sinh vào các cõi khác (Te pana annattha na nibbattantìti niyamonatthi
Sớ giải).
Còn
các vị A-na-hàm Sukkha-vipassaka (khổ quán) chứng thiền định
trước khi chết được sanh vào cõi Tịnh cư thiên.
QUẢ
CỦA VÔ SẮC GIỚI THIỆN NGHIỆP VÀ TOÁT YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 32)
Arùpàvacarakusalam ca yathàkkamam bhàvetvà pàkam arù-pesu uppajjanti.
33.
Ittha mahaggatam punnam yathàbhùmi-vavatthitam. Jenetisadisam patisandhippavattiyam.
II.
THÍCH VĂN.
- Mahaggatam:
Ðại hành tâm. Vavatthitam: Ðược phân tích, định nghĩa, phân
loại. Sadisam: Bằng nhau, giống nhau.
III.
VIỆT VĂN.
- 32)
Và đối với Vô sắc giới thiện tâm, tùy theo sự tu hành
chứng các cõi Thiền, sẽ được sanh vào các cõi tương ưng.
33.
Như vậy đại hành Thiện tâm, được phân định tùy theo
cảnh giới, anh những dị thục tâm giống nhau khi thọ sanh
và trong đời sống bình thường.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Ðối
với Vô sắc giới thiện tâm, nếu chứng được tâm nào thì
sanh vào cõi Vô sắc giới tương đương. Nói đế Ðại hành
tâm là tâm ở cả Sắc giới và Vô sắc giới.
NGUYÊN
NHÂN CỦA CHẾT
I.
PÀLI VĂN.
- 34)
Àyukkhayena, kammakkhayena, ubhayakkhayena, upacchedakkammunà ceti catudhà
maranuppatti nàma.
II.
THÍCH VĂN.
- Àyukkhaya:
Tuổi thọ diệt. Kammakhaya: Nghiệp diệt. Ubhayakkhaya: Cả hai
diệt. Upacchedakakamma: Sát nghiệp. Maranuppatti: Nguyên nhân của
chết.
III.
VIỆT VĂN.
- 34)
Chết có bốn nguyên nhân: thọ diệt, nghiệp diệt, cả hai
diệt và sát nghiệp.
IV.
NGHĨA VĂN.
- Chết
là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời.
Chết là sự diệt tận của mạng căn (Jìvitindriya), sức nóng
(usna = Tejodhàtu) và thức (vinnàna) của một cá nhân. Chết
không phải là đoạn diệt hẳn, chết tại chỗ này nghĩa
là sanh tại chỗ khác, như mặt trời mọc một chỗ này nghĩa
là mặt trời lặn một chỗ khác. Thọ diệt như khi một người
chết vì tuổi già, Nghiệp diệt là thường khi chết, tư (cetanà)
của con người rất mạnh và chi phối sự tái sanh của mình.
Trong phút cuối cùng này, có sự có mặt của một năng lực
đặc biệt, và khi năng lực của sanh nghiệp này tàn diệt,
thời mọi hoạt động về sắc thân đình chỉ, cho đến trước
khi tuổi già. Cả hai diệt, khi một người sinh ra với tuổi
thọ 80, và người này chết lúc 80 tuổi do vì năng lực của
sanh nghiệp diệt tận, như vậy người này chết do thọ diệt
và nghiệp diệt. Sát nghiệp và nghiệp cắt đứt thình lình
sức sống của sanh nghiệp. Ví dụ, một sức mạnh chống
đối mạnh hơn có thể làm cho một mũi tên đang bay rơi xuống
đất. Cũng vậy, một sức mạnh của nghiệp quá khứ có thể
làm cho tiêu tan sanh nghiệp của một loài hữu tình và như
vậy khiến loài hữu tình ấy bị chết. Ba loại chết trên
gọi là Kàlamarana (chết đúng thời), và loại chết thứ tư
gọi là Akàlamarana (chết phi thời hay bất đắc kỳ tử).
Một
ngọn đèn có thể do bốn nguyên nhân sau đây: Hết tim, hết
dầu, hết tim và dầu, do một ngoại duyên khác như bị gió
thổi. Sự chết của con người cũng do 4 duyên như vậy.
NGHIỆP,
NGHIỆP TƯỚNG VÀ THÚ TƯỚNG
I.
PÀLI VĂN.
- 35)
Tathà ca marantànam pana maranakàle yathàraham abhimukhìbhùtam bhavantare
patisandhijanakam kammam và, tamkammakaranakàle rùpàdikamupaladdhapubbamupakaranabhùtam
ca kammanimittam và, anantaramuppajjamànabhave upalabbhitabbam upabhogabhtùtam
ca gatinimittam và kammabalena channam dvàrànam ànnatarasmim paccuppatthàti.
Tato param tameva tathopatthitam àrammanam àrabbha vipaccamànakammànurùpam
parisuddhamupakilittham và upalabbhitabbabhavànurùpam tatthonatam va
cittasantànam abhinham pavattati bàhullena. Tameva và pana janakabhùtam
kammamabhinavakaranavasena dvàrapavattam hoti.
II.
THÍCH VĂN.
- Marantànam:
Người đang lâm chung. Maranakàle: Trong khi lâm chung. Yathàraham:
Tùy theo. Abhimukhìbhùtam: Trước mặt. Bhavantare: Trung hữu,
sau khi chết. Patisandhijanakam: Sanh ra kiết sanh thức. Kammam:
Nghiệp. Tam-kamma-karanakàle: Khi đang làm nghiệp ấy. Rùpàdikamupaladdhapubbamupakaranabhùtamca:
Một vật đã được nhận lấy từ trước như sắc v.v...
Kammanimittam: Nghiệp tướng. Anantaramuppajjamànabhave: Trong đời
sống khởi lên tiếp sau (đời sống này). Upalabhitabbam: Cần
phải lấy được. Upabhogabhùtam: Ðược hưởng thọ. Gatinimittam:
Thú tướng. Kammabalena: Do sức mạnh của nghiệp. Paccupatthàti:
Hiện khởi. Tato param: Tiếp theo. Vipaccamànakammànurùpam: Tùy
thuộc theo nghiệp cần phải được thuần phục. Parisuddhamupakilittham:
Thanh tịnh nhiễm ô. Upalabbihitabbabhavànurùpam: Tùy thuộc theo
đời sống cần phải lãnh thọ. Tatthonatam: Biến theo, uốn
theo về chỗ kia. Cittasantànam: Sự diễn tiến của tâm. Abhinham:
Tiếp tục, luôn luôn. Bàhullena: Nhiều lần. Kammamabhinavakaranavasena:
Do làm nghiệp mới.
III.
VIỆT VĂN.
- 35)
Ðối với những người sắp sửa chết, trong khi lâm chung,
do sức mạnh của nghiệp, một trong những tướng sau đây
được khởi ra trong một trong sáu cửa.
1.
Một nghiệp có khả năng khiến cho tái sanh trong đời sau được
khởi tùy theo trường hợp.
2.
Hay là một nghiệp tướng là một vật như sắc v.v... mà trước
kia đã từng được dùng trong khi làm nghiệp ấy.
3.
Hay là một thú tướng phải được và phải thực nghiệm
trong đời sống khởi lên ngay tiếp theo đó.
Liền
theo đó, y cứ theo đối tượng được khởi lên, tùy theo
với nghiệp cần phải được thuần thục, hoặc thanh tịnh
hay nhiễm ô, và phù hợp với cảnh giới sẽ được tái sanh,
dòng tiềm thức luôn luôn được trôi chảy, hướng phần
lớn về cảnh giới ấy. Hay cái nghiệp có khả năng khiến
cho tái sanh ấy hiện khởi đến với căn môn với tư cách
là một tác động mới.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Khi
một người sắp chết, một nghiệp thiện hay bất thiện hiện
khởi ra trước người ấy, nghiệp ấy có thể là một cực
trọng nghiệp (garuka) như các thiền (Jhàna) hay giết cha v.v...
những nghiệp này quá mạnh đến nỗi lấn áp tất cả nghiệp
khác và hiện khởi rõ rệt. Nếu không có cực trọng nghiệp,
thời người ấy có thể lấy một cận tử nghiệp (àsanna
kamma). Nếu là một quá khứ, thời chính là thiện hay bất
thiện niệm khởi lên trước khi chết, niệm này, người ấy
đã được kinh nghiệm trong khi làm nghiệp ấy. Kammanimitta
(nghiệp tướng) là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gì mà
người ấy nhận lãnh được, khi làm nghiệp ấy, như con dao
đối với người đồ tể, các bệnh nhân đối với thầy
thuốc, bông hoa đối với người tín nữ v.v... Gatinimitta (Thú
tướng) là một hình tướng gì của cảnh giới mà người
ấy sắp được tái sanh, một sự kiện luôn luôn xảy ra với
người sắp chết. Nếu là một hình tướng không tốt đẹp,
thời có thể thay đổi chúng bằng cách ảnh hưởng đến
tư tưởng của người sắp chết, và như vậy thiện niệm
của người ấy biến thành cận tử và thay thế cho sanh nghiệp
của người ấy. Thú tướng này có thể là lửa địa ngục,
rừng, núi, bào thai của người mẹ, thiên cung v.v...
Kamma
hiện khởi ra tại ý căn. Kammanimitta hiện khởi ra tại một
trong sáu căn, tùy theo trường hợp. Gatinimitta, luôn luôn là
một sắc tướng, hiện khởi ra dưới hình thức chiêm bao.
LỘ
TRÌNH TÂM CỦA MỘT NGƯỜI SẮP CHẾT
I.
PÀLI VĂN.
- 36)
Paccàsannamaranassa tassa vìthicittàvasàne bhavangakkhaye và cavanavasena
paccuppannabhavapariyosànabhùtam cuticittam uppajjitvà nirujjhati. Tasmim
niruddhàvasàse tassànantarameva tathàgahitamàrammanamàrabbha savatthukam
avatthukameva và yathàraham avijjànusayaparikkhitena tanhànusayamùlakena
sankhàrena janìyamànam sampayuttehi parigayhamànam sahajàtànamadhitthànabhàvena
pubbangamabhùtam bhavantarapatisandhànavàsena patisandhisankhàtam mànasam
uppajjamànameva patitthàti bhavantare.
II.
THÍCH VĂN.
- Paccàsannamaranassa:
Với người sắp chết. Vìthicittàvasàne: Trong giai đoạn cuối
của lộ trình tâm. Bhavangakkhaye: Khi hữu phần bị diệt. Cavanavasena:
Theo tử tâm. Paccuppannabhavapariyosànabhùtam: Giai đoạn cuối
của đời sống hiện tại. Cuticittam: Tử tâm. Uppajjitvà: Sau
khi khởi lên. Nirujhati: Biến diệt. Tasmimniruddhàvasàne: Ðến
cuối sự biến diệt ấy. Tassànantarameva: Lập tức sau sự
diệt trừ ấy. Tathàgahitamàrammanamàrabbha: Y cứ theo đối
tượng đã nhận lãnh như vậy. Savatthukam avatthukameva: Có căn
hay không có căn. Avijjànasayaparikkhittena: Bao trùm bởi vô minh
tùy miên. Tanhànusayamùlakena: Căn cứ vào ái tùy miên. Sampayuttehi
parigayhamànam: Câu hữu với những tâm sở tương ưng. Sahajàtànam
adhitthànabhàvena pubbangamabhùtam: Làm thành tâm xung phong cho
những tâm sở câu hữu, và nối liền các đời sống. Patisandhisankhàtam
mànasam: Ý gọi là kiết sanh thức. Patitthàti: Ðược thiết
lập.
III.
VIỆT VĂN.
- 36)
Ðối với người sắp chết, hoặc đến cuối lộ trình tâm
của người ấy, hoặc khi hữu phần bị diệt, tử tâm, giai
đoạn cuối cùng của đời sống hiện tại, khởi lên rồi
diệt. Khi tâm ấy được diệt trừ, tiếp ngay sau tâm ấy,
y-cứ trên đối tượng được thâu nhận như vậy, hoặc có
tâm (hadaya) làm căn cứ địa hay không có, kiết sanh tâm khởi
lên và được thiết lập trong đời sau, kiết sanh tâm này
bị thúc đẩy bởi vô minh tùy miên, căn cứ vào ái tùy miên,
sanh ra bởi nghiệp, câu hữu với những tâm sở tương ưng,
hành động như tâm xung phong cho những tâm sở câu hữu, và
tiếp nối những đời sống với nhau
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Lấy
một trong ba tướng kể trên làm đối tượng, lộ trình của
tâm tuần tự diễn tiến, dầu cho sự chết có đến hết
sức bất thần và lập tức. Sau đây là lộ trình tâm của
một người sắp chết và được sanh lên cõi người, và đối
tượng của người này là một thiện nghiệp.
Tâm
Bhavanga (hữu phần) dừng lại và rung động hai tâm sát-na
rồi diệt, tiếp theo là Ý môn hướng tâm (manodvàràvajjana)
khởi lên rồi diệt. Tiếp đến là Javana (tốc hành tâm) chỉ
có năm tâm sát-na chớ không phải bảy như thường lệ vì
yếu ớt. Vì vậy tâm này thiếu khả năng dẫn sanh mà chỉ
có khả năng điều hành cho một đời sống mới Abhinavakarana.
Ðối tượng trong trường hợp này là thiện, tâm của người
này là thiện, không cần nhắc bảo hay phải được nhắc
bảo, câu hữu với hỷ tương ưng hay không tương ưng với
trí, tùy theo trường hợp. Tâm đồng sở duyên (Tadàlambana),
có công tác ghi giữ hay ghi nhận trong hai sát-na, đối tượng
được nhận thức, có thể sanh hay không, tiếp đến là Tử
tâm (cuticitta), sát-na tâm cuối cùng trong đời hiện tại.
Có người hiểu lầm là đời sống kế tiếp bị định đoạt
chi phối bởi Tử tâm cuối cùng này. Sự thật chính Tốc
hành tâm mới chi phối đời sống đời sau. Khi tử tâm diệt,
sự chết mới thiệt bắt đầu. Bắt đầu từ đây, không
có một sắc nào do tâm tạo và do ăn uống tạo được tạo
ra (cittaja và àhàraja rùpa). Chỉ có các sắc do khí nóng tạo
ra (utuja) được tạo ra cho đến khi thi thể trở thành tro
bụi.
Sau
khi Tử tâm đã diệt, một Kiết sanh thức (Patisandhi) được
sanh trong một đời sống mới. Tiếp theo là mười sáu tâm
sát-na bhavanga. Tiếp đến là Ý môn hướng tâm (manodvàràvajjana)
và năm tâm sát-na Javana (Tốc hành), phát sanh tâm ưa thích
đối với đời sống mới (bhava-nikànti-Javana). Rồi tâm bhavanga
khởi và diệt và dòng tâm thức trôi chảy như một dòng nước.
Trong trường hợp Vô sắc giới, sẽ không có hadayavatthu (đoàn
tâm).
KIẾT
SANH THỨC VÀ ÐỐI TƯỢNG CỦA NGƯỜI SẮP CHẾT
I.
PÀLI VĂN.
- 37)
Maranàsannavìthiyam panettha mandapavattàni panceva javanàni pàtikankhitabbàni.
Tasmà yadà paccuppannàrammanesu àpàthamàgatesu dharantesvevamaranam
hoti, tadà patisandhibhavangànampi paccupannàrammanatà labbhatìti
katvà kàmàvacarapatisandhiyà chadvàragahitam kammanimittam, gatinimittanca
paccuppannamatìtàrammanam upalabbhati, kamman pana atìtameva. Tam ca
manodvàragahitam. Tàmi pana sabbàni pi parittadhammabhùtànevàrammanàni.
II.
THÍCH VĂN.
- Maranàsannavìthiyam:
Trong lộ trình của tâm khi gần chết. Mandapavattàni: Diễn
tiến mdột cách yếu ớt. Pàtikankhitabbàni: Trông đợi. Paccuppannàrammanesu
àpàthàmàgatesu: Trong khi các đối tượng hiện tại vào trong
khu vực nhận thức của căn. Dharantesu: Nhiếp trì. Parittadhammabhùtàni
àrammanàni: Các đối tượng được xem là tiểu pháp (thuộc
về Dục giới).
III.
VIỆT VĂN.
- 37)
Ở đây, trong lộ trình của tâm gần chết, chỉ có năm Tốc
hành tâm yếu ớt được mong đợi. Do vậy, trong khi lâm chung,
khi các đối tượng hiện tại vào trong khu vực nhận thức
thời Patisandhi và Bhavanga cũng đều cùng một đối tượng.
Như
vậy, khi tái sanh ở Dục giới, Kammanimitta (nghiệp tướng)
nhận thức bởi một trong sáu căn môn hay gatinimitta (Thú tướng)
có thể quá khứ hoặc hiện tại nhưng Kamma (nghiệp) được
nhận thức bởi ý môn chỉ thuộc về một đối tượng quá
khứ. Tất cả những đối tượng này phải được xem là
thuộc về tiểu pháp (Dục giới).
Ở
SẮC VÀ VÔ SẮC GIỚI
I.
PÀLI VĂN.
- 38)
Rùpàvacarapatisandhiyà pana pannattibhùtam kammanimittamevàrammanam
hoti. Tathà àruppapatisandhiyà ca mahaggatabhùtam pannattibhùtam ca
kammanimittameva yathàraham àrammanam hoti. Asannasattànam jìvitanavakameva
patisandhibhàvena patitthàti. Tasmà te rùpapatisandhikà nàma. Arùpà
arùpapatisandhikà. Sesà rùpà-rùpapatisandhikà.
II.
THÍCH VĂN.
- Pannattibhùtam:
Là một khái niệm. Jìvitanavakam: Mạng căn chín phần. Sesà:
Những loài hữu tình còn lại.
III.
VIỆT VĂN.
- 38)
Khi tái sanh ở Sắc giới, đối tượng Kammanimitta (nghiệp
tướng) thuộc về khái niệm. Khi tái sanh ở Vô sắc giới,
đối tượng nghiệp tướng thuộc về Ðại hành và khái niệm
(như hư không vô biên), tùy theo trường hợp. Ðời sống của
các loài hữu tình vô tưởng, bắt đầu với một nhóm gồm
có 9 sắc pháp gọi là Jìvitanavaka. (Mạng căn cửu phần).
Do vậy sự tái sanh ở đây thuộc về sắc giới. Các loài
hữu tình sanh ở Vô sắc giới thuộc về vô sắc. Những loại
hữu tình còn lại thuộc sắc và vô sắc.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Ðối
tượng của Kamma nimittam khi tái sanh ở Sắc giới thuộc về
khái niệm vì đây là patibhàganimitta (quan tướng). Jìvitanavaka
gồm có Ðịa, thủy, hỏa, phong, sắc, hương, vị, ojà (Dưỡng
chất) và mạng căn (Jìvitindriya).
TOÁT
YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 39)
Àruppacutiyà honti hetthimàruppavajjità.
Paramàruppasandhì
ca tathà kàmatihetukà.
Rùpàvacaracutiyà
aheturahità siyum.
Sabbà
kàmatihetumhà, kàmesveva panetarà.
II.
THÍCH VĂN.
- Hetthimàruppavajjità:
Trừ vô sắc xứ thấp hơn. Paramàruppapatisandhì: Vô sắc giới
Kiết sanh thức cao hơn. Kàmatihetukà: Dục giới ba nhân.
III.
VIỆT VĂN.
- 39)
Khi từ trần từ cõi vô sắc, sẽ được tái sanh ở cõi vô
sắc hay một cõi cao hơn nhưng không ở một cõi thấp hơn,
và có thể sanh ở cõi Dục giới với ba nhân. Khi từ trần
từ cõi Sắc giới, sẽ không bị tái sanh làm thành một người
vô nhân. Một hữu tình với ba nhân có thể tái sanh ở mọi
cảnh giới. Những loài hữu tình khác (hai nhân hay không nhân)
được sanh ở Dục giới.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Với
ba nhân là với vô tham, vô sân và vô sĩ. Một người vô nhân
là những người sinh ra ngu đần, sanh ra đã mù hay điếc hay
sinh ra ở cõi ác thú.
DÒNG
TÂM THỨC
I.
PÀLI VĂN.
- 40)
Iccevam gahitapatisandhikànam pana patisandhinirodhànantaratoppabhuti
tamevàrammariamàrabbha tadeva cittam yàva cuticittuppàdà asati vìthicittuppàde
bhavassa angabhàvena bhavangasantatisankhàtam mànasam abbhocchinnam
nadìsoto viya pavattati. Pariyosàne ca cavanavasena cuticittam hutvà
nirujjhati. Tato param ca patisandhàdayo rathacakkamiva yathàkkamam evameva
parivattantà pavattanti.
II.
THÍCH VĂN.
- Gahitapatisandhikànam:
Những chúng sanh phải tái sanh. Pabhuti: Bắt đầu từ. Abbhocchinnam:
Không gián đoạn. Nadìsoto viya: Như dòng sông. Pariyosàne: Ðến
đoạn cuối. Rathacakkam: Bánh xe.
III.
VIỆT VĂN.
- 40)
Như vậy, những ai bị tái sanh, liền sau khi Kiết sanh thức
diệt, một dòng tâm thức trôi chảy, y cứ trên một đối
tượng, như dòng một con sông, luôn luôn tiếp tục, và chỉ
bị chận đứng bởi lộ trình của tâm thức khi khởi lên,
dòng tâm thức này trôi chảy cho đến chết. Dòng tâm thức
này được gọi là Bhavanga vì là một thành phần của sự
sống. Ðến cuối cùng đời sống, khi người ấy lâm chung,
dòng tâm thức trở thành Tử tâm (cuticittam) rồi diệt. Tiếp
theo đó, Kiết sanh thức và các tâm khác vẫn tiếp nối diễn
tiến tùy theo trường hợp như bánh của một chiếc xe.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Patisandhi,
Bhavanga và cuti của một đời sống là giống nhau vì chúng
cùng một đối tượng. Các tâm sở của ba tâm này giống
nhau. Chúng chỉ khác nhau về danh từ và công tác. Liền sau
đó, Kiết sanh thức (patisandhi). Hữu phần (bhavanga) khởi lên.
Trong đời sống, khi không có sự diễn tiến lộ trình của
tâm, Hữu phần tâm này tiếp tục trôi chảy. Trong một đời
sống, vô số Bhavanga (Hữu phần tâm) được khởi lên.
SỰ
LIÊN TỤC CỦA DÒNG TÂM THỨC
I.
PÀLI VĂN.
- 41)
Patisandhi-bhavangavìthiyo cuti ceha tathà bhavantare.
Puna
sandhi bhavangamiccayam parivattati cittasantati.
Patisankhàya
panetamaddhuvam adhigantvà padamaccutam budhà.
Susamucchinnasinehabandhanà
samamessanti ciràya subbatà.
II.
THÍCH VĂN.
- Cittasantati:
Sự tiếp diễn của tâm. Patisankhàya: Sau khi suy tư. Budhà:
Các vị sáng suốt. Addhuvam: Vô thường. Adhigantvà: Sau khi chứng.
Padamaccutam: Trạng thái bất tử (Niết bàn). Susamucchinna: Khéo
cắt. Sinehabandhanà: Triền ái hay sự trói buộc của ái. Samamessanti:
Sẽ chứng được sự thanh tịnh. Ciràya: Trong một thời gian
khá lâu. Subbatà: Khéo điều phục.
III.
VIỆT VĂN.
- 41)
Cũng như ở đây, cũng vậy ở đời kế tiếp, khởi lên Kiết
sanh thức, Hữu phần, lộ trình của tâm và Tử tâm. Lại
một lần nữa, với Kiết sanh thức và Hữu phần, dòng tâm
thức trôi chảy.
Người
có trí, tự khéo điều phục trong một thời gian lâu dài,
suy tư đến lẽ vô thường, sẽ chứng ngộ sự bất diệt,
và hoàn toàn cắt bỏ triền phược của tham ái, chứng ngộ
thanh tịnh.