CHƯƠNG
VII
SAMUCCAYA-SANGAHA-VIBHÀGO:
TẬP
YẾU NHỮNG DANH TỪ ABHIDHAMMA
I.
PÀLI VĂN.
- 1)
Dvàsattatividhà vuttà vatthudhammà salakkhanà.
Tesam
dàni yathàyogam pavakkhàmi samuccayam.
2.
Akusalasangaho, missakasangaho, bodhipakkhiya - sangaho, sabbasangaho ceti
samuccaya-sangaho catubbiddho veditabbo.
II.
THÍCH VĂN.
- Dvàsattatividhà:
Có 72. Salakkhanà: Hữu tướng. Yathàyogam: Tùy thuộc sự liên
hệ. Pavakkhàmi: Tôi sẽ nói. Missakasangaho: Tạp loại tập yếu.
III.
VIỆT VĂN.
- 1)
72 pháp đã được nói đến với các tướng của chúng. Nay
tôi sẽ nói đến các loại pháp, tùy thuộc sự liên hệ của
chúng.
2.
Tập yếu các loại pháp cần phải được hiểu có bốn loại:
Bất thiện tập yếu, tạp loại tập yếu, Bồ-đề-chi tập
yếu, nhứt-thiết tập yếu.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Vatthudhammà,
có tất cả là 72 = 1 + 52 + 18 + 1.
- Tất
cả 89 tâm xem là 1 pháp, vì tất cả đều có đặc tướng
ý thức.
- 52
Tâm-sở được phân biệt riêng, vì mỗi tâm sở có đặc
tướng riêng.
- 18
Sắc-pháp được kể riêng, vì chúng sai khác về đặc tướng.
- Nibbàna
xem là một vì đặc tánh của Niết-Bàn là an tịnh.
I.
PÀLI VĂN.
- 3)
Katham? Akusalasangahe tàva, cattàro àsavà: Kàmàsavo, bhavàsavo,
ditthàsavo, avijjàsavo.
4)
Cattàro oghà, kàmogho, bhavogho, ditthogho, avijjogho.
5)
Cattàro yogà, kàmayogo, bhavayogo, ditthiyogo, avijjàyogo.
6)
Cattàro ganthà, abhijjhà kàyagantho, byàpàdo kàyagantho, sìlabbataparàmàso
kàyagantho, idamsaccàbhiniveso kàyagantho.
7)
Cattàro upàdànà, kàmupàdànam, ditthupàdànam, sìlabbatupàdànam,
attavàdupàdànam.
II.
THÍCH VĂN.
- Àsavo:
Lậu. Oghà: Bạo lưu. Yogà: Ách-phược. Ganthà: Hệ-phược.
Upàdàna: Thủ.
III.
VIỆT VĂN.
- 3)
Như thế nào? Về bất thiện tập yếu, có 4 lậu hoặc tức
là Dục lậu, Hữu lậu, Kiến lậu và Vô minh lậu
4)
Có 4 Bạo lưu: Dục bạo lưu, Hữu bạo lưu, Kiến bạo lưu
và Vô minh bạo lưu.
5)
Có bốn Ách-phược: Dục ách-phược, Hữu ách-phược, Kiến
ách-phược, Vô-minh ách-phược.
6)
Có bốn Hệ-phược: Tham thân hệ-phược, Sân thân hệ-phược,
Giới cấm-thủ thân hệ-phược, Thử-thực-chấp thân hệ-phược.
7)
Có bốn Thủ: Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Ngã
kiến thủ.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Àsavà,
từ-ngữ-nguyên à + su, là chảy. Các pháp này được gọi
vậy là vì chúng tràn ngập tất cả đời sống hay vì chúng
tồn tại cho đến Gotrabhù tâm (chuyển-tánh-tâm) trước khi
chứng Dự-lưu. Dục lậu chỉ cho sự tham ái các dục vọng.
Hữu-lậu chỉ cho tham-ái sắc và vô sắc giới. Kiến lậu:
chỉ cho 62 tà kiến như đã kể trong kinh Brahmajàla (Phạm-Võng),
và Vô minh lậu: là vô minh đối với Tứ Ðế, đời quá khứ,
đời vị lai, cả hai đời và đối với Lý Duyên-Khởi. Ogha,
từ ngữ nguyên ava + han, nghĩa là hại hay giết. Chúng sanh
bị đại thủy trào lôi cuốn, trôi giạt ra ngoài biển khơi
và nhận chìm xuống đáy sâu, hoặc bị thương nặng, hoặc
bị chết chìm. Cũng vậy, các Oghà này cuốn phăng chúng sanh
xuống vực thẳm của ác thú. Yoga, từ ngữ nguyên "yuj" nghĩa
là mắc cột vào, những gì cột dính chúng sanh vào bánh xe
luân hồi sanh - tử. Ganthà là những gì cột tâm với thân,
hay thân này với thân các đời sống khác. Chữ kàya dùng
có nghĩa là nhóm, chỉ cả thân và tâm. Upàdànàni, từ ngữ
căn upa + à + dà, nghĩa là cho. Ái tột độ là thủ. Do Ái
nên mới Thủ. Ái như tên trộm sờ soạng trong đêm tối,
Thủ chính là lúc ăn trộm. Ngã-kiến-thủ có đến 20 loại
đối với 5 uẩn như sau:
a)
ngã với thân là một,
b)
ngã là sở hữu của thân,
c)
ngã ở trong thân,
d)
thân ở trong ngã.
Cũng
vậy, đối với 4 uẩn còn lại.
I.
PÀLI VĂN.
- 8)
Cha nìvaranàni: kàmacchandanìvaranam, byàpàdanìvaranam, thìna-middhanìvaranam,
uddhacca-kukkuccanìvaranam, vicikicchànìvaranam, avijjànìvaranam.
9)
Sattànusaya - kàmaràgànusayo, bhavaràgànusayo, patighànusayo, mànànusayo,
ditthànusayo, vicikicchànusayo, avijjànusayo.
II.
THÍCH VĂN.
- Nìvaranàni:
Các triền-cái. Sattànusayà: Bảy tùy-miên.
III.
VIỆT VĂN.
- 8)
Có sáu triền-cái: Dục-lậu triền-cái, sân triền-cái, hôn
trầm, thụy-miên triền-cái, trạo-hối triền-cái, nghi triền-cái,
vô-minh triền-cái.
9)
Có bảy Tùy-miên: Dục-ái tùy-miên, Hữu-ái tùy-miên, Sân
tùy-miên, Mạn tùy-miên, Kiến tùy-miên, Nghi tùy-miên, vô minh
tùy-miên.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Nìvaranàni,
từ ngữ-căn Nì + Var, nghĩa là ngăn che chướng ngại. Sở
dĩ gọi vậy vì các pháp này chướng ngại trên con đường
tiến tới Niết-Bàn an lạc. Thường chỉ có 5 triền-cái mà
thôi, vô-minh triền-cái được bỏ ra ngoài. Dục-lậu được
ví như nước có nhiều màu sắc, sân ví như nước sôi, thụy-miên
được ví như nước có nhiều rong rêu, trạo-hối được
ví như nước bị gió giao động và nghi được ví như nước
đục. Các triền-cái này được các thiền làm cho tạm ngưng.
Chúng chỉ được trừ diệt hoàn toàn khi chứng 4 quả Thánh.
Nghi được trừ diệt khi chứng Dự-Lưu. Ái-Dục, Sân và Hối
được trừ diệt khi chứng Bất-Lai. Thụy - miên, hôn-trầm,
và trạo-cử được trừ diệt khi chứng quả A-La-Hán. Anusaya:
Tùy-miên, từ ngữ - căn Anu + ssi, nghĩa là nằm xuống, ngủ
nghỉ, những gì nằm yên và khi có nhân-duyên sẽ khởi lên
vì chưa được diệt trừ. Tất cả phiền-não là Anusaya, nhưng
chỉ có bảy là mạnh nhất.
I.
PÀLI VĂN.
- 10.
Dasa samyojanàni-kàmaràgasamyojanam, rùparàgasamyojanam, arùparàgasamyojanam,
patighasamyojanam, mànasamyojanam, ditthisamyojanam, sìlabbata-paràmàsasamyojanam,
vicikicchàsamyojanam, uddhaccasamyojanam, avijjàsamyojanam, suttante.
11)
Aparàni dasa samyojanàni - kàmaràga - samyojanam, bhavaràgasamyojanam,
patighasamyojanam, mànasamyojanam, ditthisamyojanam, sìlabbataparàmàsasamyojanam,
vicikicchà-samyojanam, issàsamyojanam, macchariyasamyojanam, avijjàsamyojanam,
Abhidhamme.
12)
Dasa kilesà: lobho, doso, moho, màno, ditthi, vicikicchà, thìnam, uddhaccam,
ahirikam, anottappam.
II.
THÍCH VĂN.
- Samyojanam:
Kiết-sử Kilesà: Phiền-não.
III.
VIỆT VĂN.
- 10)
Theo Kinh-Tạng, có 10 kiết-sử như sau: Dục ái kiết-sử, Sắc
ái kiết sử, Vô sắc ái kiết-sử, Sân kiết sử, Mạn kiết-sử,
Kiến kiết-sử, Giới-cấm-thủ kiết-sử, Nghi kiết-sử, Trạo-cử
kiết-sử, Vô minh kiết-sử.
11)
Theo A-Tỳ-Ðàm Tạng, có 10 kiết-sử khác nữa như sau: Dục
ái kiết-sử, Hữu ái kiết-sử, Sân kiết-sử, Mạn kiết-sử,
Kiến kiết-sử, Giới cấm-thủ kiết-sử, Nghi kiết-sử, Tật
kiết-sử, Xan kiết-sử, Vô minh kiết-sử.
12)
Có 10 phiền não: Tham, sân, si, mạn, kiến, nghi, thụy miên,
trạo-cử, vô tàm, vô quý.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Samyojana
từ ngữ căn Sam + yuj, nghĩa là cột lại. Các pháp này trói
buộc chúng sanh vào bánh xe luân-hồi sanh-tử. Kilesa: là những
pháp làm ái-nhiễm và hành-hạ tâm trí. Ðồ-biểu sau đây
sẽ nêu rõ các phiền-não được sắp loại theo các pháp bất
thiện mới được đề cập.
| |
|
(a) |
(b) |
(c) |
(d) |
(e) |
(f) |
(g) |
(h) |
(i) |
| 1.
Lobha (Tanhà): Ái |
9 |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
| 2.
Ditthi: Tà kiến |
8 |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
|
+ |
+ |
+ |
| 3.
Avijjà (moha): Vô minh, si |
7 |
+ |
+ |
+ |
|
|
+ |
+ |
+ |
+ |
| 4.
Patigha (Dosa): Hận, sân |
5 |
|
|
|
+ |
|
+ |
+ |
+ |
+ |
| 5.
Vicikicchà (Kankhà): Nghi |
4 |
|
|
|
|
|
+ |
+ |
+ |
+ |
| 6.
Màna: Mạn |
3 |
|
|
|
|
|
|
+ |
+ |
+ |
| 7.
Uddhacca: Trạo cữ |
3 |
|
|
|
|
|
+ |
|
+ |
+ |
| 8.
Thìna: Thụy miên |
2 |
|
|
|
|
|
+ |
|
|
+ |
| 9.
Kukhucca: Hối quá |
1 |
|
|
|
|
|
+ |
|
|
|
| 10.
Middha: Hôn trầm |
1 |
|
|
|
|
|
+ |
|
|
|
| 11.
Ahirika: Vô tàm |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
+ |
| 12.
Anottappa: Vô quý |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
|
+ |
| 13.
Issà: Tật |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
+ |
|
| 14.
Maccharya: Xan lẫn |
1 |
|
|
|
|
|
|
|
+ |
|
(a)
Àsava (Lậu hoặc)
(b)
Ogha (Bạo lưu)
(c)
Yogà (Ách phược)
(d)
Ganthà (Hệ phược)
(e)
Upàdàna (Thủ)
(f)
Nìvarana (Triền cái)
(g)
Anusaya (Tùy miên)
(h)
Samyojana (Kiết sử)
(i)
Kilesà (Phiền não)
I.
PÀLI VĂN.
- 13)
Àsavàdisu panettha kàmabhavanàmena tabbatthukà tanhà adhippetà,
sìlabbataparàmàso, idamsaccàbhiniveso, attavàdo ti ca tathà pavattam
ditthigatameva pavuccati.
14)
Àsavoghà ca yogà ca tayo ganthà ca vatthuto,
Upàdàmà
duve vuttà attha nìvaranà siyum,
Chalevànusayà
honti nava samyojanà matà,
Kilesà
dasa vuttoyam navadhà pàapasangaho.
II.
THÍCH VĂN.
- Tabbatthukà:
Y-cứ trên chúng. Adhippetà: Có nghĩa. Pavattam: Chuyển-khởi,
liên-hệ. Ditthigatam: Tà-kiến. Vatthuto: Theo căn bản. Matà:
Cần được hiểu.
III.
VIỆT VĂN.
- 13)
Ở nơi đây, đối với các loại ác pháp như lậu hoặc, hữu
v.v... danh-từ Dục-ái và Hữu-ái có nghĩa là tham-ái y cứ
trên chúng. Cũng như vậy, giới - cấm - thủ, thử-thực-chấp
ngã-kiến có nghĩa là Tà kiến liên-hệ ở nơi đây.
14)
Theo căn bản, chỉ có ba lậu hoặc, ba bạo lưu, ba ách-phược,
ba hệ-phược. Thủ chỉ có hai và Triền-cái có tám. Tùy miên
có sáu và kiết-sử cần hiểu chỉ có chín. Phiền-não có
mười. Như vậy, các ác-pháp tổng-hợp có chín loại.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Trong
danh-từ các ác-pháp, chữ kàma chỉ cho Dục-giới và Bhava
chỉ cho Sắc-giới và Vô-sắc-giới. Lobha gồm cả Dục-ái
và Hữu-ái. Sắc-giới-ái và Vô-sắc-giới-ái là Bhavatanhà
(Hữu-ái). Giới-cấm-thủ, Thử-thực-chấp và Ngã-kiến-thủ
bao-hàm nghĩa tà-kiến. Cả Kàmàsava và Bhavàsava có nghĩa lobha.
Sự thực, chỉ có ba àsavà, ba oghà, ba yogà và ba ganthà. Cũng
vậy, chỉ có hai upàdànà theo nghĩa lobha và ditthi.
Khi
thìna-middha và uddacca-kukkucca xem như là bốn tâm-sở, thời
Nìvaranà có tám. Khi Kàmaràga và bhavaràga được hợp thành
tanhà, thì anusayà chỉ có sáu. Mười samyojanà, theo Kinh Tạng
chỉ còn bảy, khi Kàmaràga, rùparàga, arùparàga hợp lại thành
lobha, và ditthi cùng sìlabbataparàmàsa hợp lại thành ditthi.
Mười sanyojanà được xem là tám khi kàmaràga và bhavaràga
hợp lại thành lobha, và ditthi cùng sìlabbataparàmàso hợp lại
trong ditthi. Các kilesà chỉ có 10. Như vậy, 14 loại Bất thiện
tâm sở hiện ra theo mức độ khác nhau trong chín loại Bất
thiện pháp. Lobha chung cho tất cả.
MISSAKO
SANGAHO: TẠP LOẠI TẬP - YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 15)
Missakasangahe cha hetù: Lobho, doso, moho, àlobho, adoso, amoho.
16)
Satta jhànangàni: vitakko, vicàro, pìti, ekaggatà, somanassam domanassam,
upekkhà,
17)
Dvàdasa maggangàni: sammàditthi, sammàsan kappo, sammàvàcà, sammàkammanto,
sammà-àjìvo, sammàvàyàmo, sammàsati, sammàsamàdhi, micchà ditthi,
micchàsankappo, micchàvàyàmo, micchàsamàdhi.
II.
THÍCH VĂN.
- Missakasangahe:
Trong tạp loại tập yếu. Maggangàni: Ðạo-chi.
III.
VIỆT VĂN
- 15)
Trong tạp loại tập yếu, có sáu nhân là tham, sân, si, vô
tham, vô sân, vô si.
16)
Có bảy thiền-chi là tầm, tứ, hỷ, nhứt tâm, hoan-hỷ, ưu,
xả.
17)
Có 12 Ðạo-chi là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh-tấn, chánh niệm, chánh định,
tà kiến, tà tư-duy, tà tinh-tấn, tà định.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Missakasangaho:
Tạp loại tập-yếu. Sở dĩ gọi vậy vì ở đây, thiện (kusala),
bất thiện (akusala) và vô ký (avyàkata) đều bao hàm tất cả.
Jhànanga:
jhàna có nghĩa là đốt cháy sự đối kháng của các triền-cái
hay chú tâm sát trên đối tượng. Cả hai nghĩa được áp
dụng trong cảnh giới thiền, do chú tâm chứng được.
Maggangàni:
Ðạo-chi, nghĩa là những pháp đưa đến Thiện-thú, ác-thú
hay Niết-Bàn (Sugati-duggatìnam nibbànassa ca abhimukham pàpanto
maggà). Trong 12 thiền-chi, 4 thiền-chi sau cùng đưa đến ác-thú.
Các thiền-chi còn lại đưa đến Thiện-thú và Niết-Bàn.
Khi nói đến 12 Ðạo-chi (maggangàni), thật sự chỉ nói đến
9 Tâm-sở đã khởi lên với một số Tâm. Trong 4 Bất-Thiện-đạo-chi,
tà kiến có nghĩa là Bất-thiện ditthicetasika (kiến-tâm-sở);
tà tư-duy, tà tinh-tấn, và tà nhứt-tâm có nghĩa là vitakka,
vàyàma và ekaggatà cetasikà được tìm thấy trong các Bất
thiện-tâm.
Chánh
tri-kiến có nghĩa là Pannà cetasika; chánh tư-duy, chánh tinh-tấn,
chánh niệm và chánh nhứt-tâm là Vitakka, vàyàma, sati và ekaggatà
cetasika được tìm thấy trong thiện và vô-ký-tâm. Chánh ngữ,
chánh nghiệp và chánh mạng là ba Viriti (Thiết-chế tâm-sở),
được tìm thấy đồng một lần trong các siêu-thế-tâm hay
riêng biệt trong các Dục-giới Thiện-tâm và Dị-thục-tâm.
Cả tám Ðạo-chi đều được tìm thấy đồng một lần chỉ
trong tám Siêu-thế-tâm. Nói đến 8 chánh-đạo là nói đến
tám thiện đạo chi ở đây.
I.
PÀLI VĂN.
- 18)
Bàvìsatindriyàni - cakkhundriyam, sotindriyam, ghànindriyam, jivhindriyam,
kàyindriyam, itthindriyam, purisindriyam, jìvitindriyam, manindriyam
sukhindriyam dukkhindriyam, somanassindriyam, domasassindriym upekkhindriyam,
saddhindriyam, viriyindriyam, satindriyam, samàdhindriyam, pannindriyam,
anannàtannassàmìtindriyam, annindriyam, annàtàvindriyam.
II.
THÍCH VĂN.
- Anannàtannassàmìtindriyam:
Vị trí đương-tri căn. Annindriyam: Dĩ-tri căn. Annàtàvindriyam:
Cụ tri căn.
III.
VIỆT VĂN.
- 18)
Có 12 căn: nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn,
nữ căn, nam căn, mạng căn, ý căn, lạc căn, khổ căn, hỷ
căn, ưu căn, xả căn, tín căn, tinh tấn căn, miện căn, định
căn, tuệ căn, vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Indriya:
Căn, sở dĩ gọi vậy vì chúng có khả năng chi phối các đối
tượng liên hệ. 5 căn đều thuộc 5 giác quan đã nói đến
trước. Căn thứ 6 và căn thứ 7 gọi là bhavindriya hay tánh
căn. Mạng căn gồm cả danh mạng căn và sắc mạng căn. Căn
số 10, 11, 12, 13 và 14 thuộc 15 loại thọ. Căn số 15, 16, 17,
18 và 19 vừa là căn vừa là lực, vì chúng chi phối những
pháp câu hữu, vừa điều phục các pháp đối lập. Ba căn
cuối rất quan hệ và thuộc siêu-thế. Cụ-tri-căn chỉ Niết-Bàn.
Khi chứng quả thứ nhất, Dự-Lưu, 4 Ðế được giác ngộ
lần đầu tiên và vì vậy Dự-Lưu đạo trí được gọi là
Vị tri đương tri căn. 6 trí chặng giữa từ Dự-Lưu quả-trí
đến A la hán đạo trí được gọi là Dĩ-tri-căn. Vì trí-tuệ
được tìm thấy trong tất cả 7 siêu-thế-tâm chế-ngự 37
trợ-đạo-phẩm câu-hữu, nên gọi là Indriya. Một vị A la
hán được gọi là Annàtàvì, vì vị này đã giác ngộ hoàn
toàn 4 Ðế. Căn cuối cùng chỉ cho trí-tuệ vô-thượng của
A la hán quả.
I.
PÀLI VĂN.
- 19)
Nava balàni: saddhà-balam, viriyabalam, satibalam, samàdhibalam, pannà-balam,
hiribalam, ottappabalam, ahirikabalam, anottappabalam.
20)
Cattàro adhipati-chandàdhipati, cittàdhipati, viriyàhipati, vìmamsà-adhipati.
21)
Cattàro àhàrà-kabalìkàro àhàro, phasso dutiyo, manosancetanà tatiyà,
vinnànam catuttham.
II.
THÍCH VĂN.
- Bala:
Lực. Adhipati: Tăng-thượng. Àhàra: Thực.
III.
VIỆT VĂN.
- 19)
Có chín lực: Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực,
tuệ lực, tàm lực, quý lực, vô tàm lực, vô quý lực.
20)
Có bốn tăng-thượng: Dục tăng thượng, Tâm tăng thượng,
Tinh tấn tăng thượng, Tư duy tăng thượng.
21)
Có bốn đồ ăn: Ðoàn thực, xúc thực là thứ hai, tư thực
là thứ ba, thức thực là thứ tư.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- 19)
Chín lực (bala), được gọi vậy vì chúng không bị chi phối
bởi những lực lượng đối lập và vì chúng tăng cường
cho các pháp câu hữu. 7 pháp đầu thuộc thiện pháp, hai pháp
sau thuộc bất thiện pháp.
Adhipati:
Tăng thượng. Adhipati khác với căn. Tăng thượng có thể ví
như một quốc vương, cầm đầu mọi bộ trưởng. Indiya (căn)
được xem như các bộ trưởng cầm đầu bộ riêng của mình
nhưng không can thiệp vào các bộ khác. Như nhãn căn chỉ chi
phối các sắc pháp chớ không can thiệp vào đối tượng của
nhĩ căn. Còn Ahipati thời chi phối mọi pháp câu hữu. Không
hai Adhipati đồng khởi và chi phối một lần. Trái lại, các
căn có thể đồng khởi.
Cittàdhipati
chỉ cho Javana citta (tốc hành tâm).
Vìmamsàdhipati
chỉ cho Tuệ căn (pannindriya).
Àhàra:
Ðoàn thực nuôi dưỡng thân-thể, xúc thực nuôi dưỡng 5
món cảm thọ.
Tư
thực chỉ cho các tư tâm sở có mặt trong 29 Thiện và bất
thiện Dục giới, sắc giới, vô-sắc-giới tâm. Các tâm này
nuôi dưỡng hay tạo ra tái-sanh trong ba giới.
Thức
thực chỉ cho Patisandhi vinnàna (Kiết-sanh-thức) đã nuôi dưỡng
nàmarùpa (Danh-sắc) đã khởi tiếp tục theo. Có 19 loại kiết
sanh thức. Ðối với vô tưởng giới, thức thực chỉ nuôi
dưỡng sắc pháp; Ðối với Vô sắc giới, chỉ nuôi dưỡng
danh-pháp. Trong các đời sống có 5 uẩn, thức-thực nuôi dưỡng
các tâm pháp, sắc pháp.
I.
PÀLI VĂN.
- 22)
Indriyesu panettha sotàpattimagganànam anannàtannassàmitindriyam, arahattaphalanànam
annàtàvindriyam. Majjhe cha nànàni annindriyànìti vuccati. Jìvitindriyam
ca rùpàrùpavasena duvidham hoti.
23)
Pancavinnànesu jhànangàni, aviriyesu balàni, ahetukesu maggangàni
na labbhanti. Tathà vicikicchàcitte ekaggatà maggindriyabalabhàvam
na gacchati. Dvihetukatihetukajavanesveva yathàsambhavam adhipati ekova
labbhati.
II.
THÍCH VĂN.
- Dvihetuka:
Nhị nhân. Tihetuka: Tam nhân. Ekova: chỉ có một.
III.
VIỆT VĂN.
- 22)
Nay trong các căn, vị tri đương tri căn tức là Dự lưu đạo
trí, và Cụ tri căn tức là A la hán quả trí. Trong các căn
ở giữa, Dĩ tri căn tức là 6 trí. Mạng căn gồm cả hai sắc
mạng căn và Danh mạng căn.
23)
Các Thiền chi không thể tìm được trong 5 thức, các lực
không thể tìm được trong các tâm không tinh tấn, các Ðạo
chi không thể tìm được trong các vô nhân tâm; cũng vậy,
trong nghi tâm, nhứt tâm không thể trở thành Ðạo chi, căn
hay lực. Trong 4 Tăng Thượng (Dục, tâm, tinh tấn, tư duy) chỉ
một Tăng thượng được chứng một lần, tùy theo trường
hợp, chỉ ở trong các tâm, thuộc nhị nhân hay tam nhân tâm.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Không
có một Thiền chi nào trong 10 thức vì sự cảm thọ rất yếu
và ý thức đối tượng không có. Các tâm không tinh tấn và
16, tức 10 thức tâm, 2 tiếp thọ tâm, 3 Suy đạc tâm, và ngũ
môn hướng tâm. Nhứt tâm trong các tâm này không được cho
mạnh. Vô nhân tâm có 18. Nhứt tâm trong Nghi tâm giúp tâm trí
được thăng bằng, nhưng không mạnh. Không có Adhipati trong
vô nhân tâm và nhứt nhân tâm. Sự thật, chỉ có 5 Thiền
chi và 3 cảm thọ có thể xem như một; Ðạo chi chỉ có 9
vì tà tư duy, tà tinh tấn và nhứt tâm được gồm vào trong
Tầm, tinh tấn và nhứt tâm. Các căn chỉ có 16 khi 5 cảm thọ
xem như một và ba siêu thế tâm được nhập vào Tuệ căn.
I.
PÀLI VĂN.
- 24)
Cha hetù panca jhànangà maggangà nava vatthuto.
Solasindriyadhammà
ca baladhammà naverit.
Cattàrodhipati
vuttà tathàhàrà ti sattadhà.
Kusalàdisamàkinno
vutto missakasangaho.
II.
THÍCH VĂN.
- Vatthuto:
Về sở-y. Samàkinno: Ðược kê-khai. Vutto: Nói đến. Naverità:
(Nava) erità: Ðược diễn tả.
III.
VIỆT VĂN
- 24)
Trên thực tế, 6 nhân, 5 thiền chi, 9 Ðạo chi, 16 căn và 9
lực lượng diễn tả. Cũng vậy, 4 tăng thượng và 4 Thực
được nói đến. Như vậy, Tạp loại tập yếu được kê
khai theo bảy loại như thiện v.v...
I.
PÀLI VĂN.
- 25)
Bodhipakkhiyasangahe cattàro satipatthanà kàyànupassanà-satipatthànam,
vedanànupassanà-satipatthànam, cittànupassanà-satipatthànam, dhammànupassanàsatipatthànam.
26)
Cattàro samappadhànà-uppannànam pàpakànam dhammànam pahànàya vàyàmo,
anuppannànam pàpakànam dhammànam anuppàdàya vàyàmo, anupannànam
kusalànam dhammànam uppàdàya vàyàmo, uppannànam kusalànam dhammànam
bhiyyobhàvàya vàyàmo.
II.
THÍCH VĂN.
- Bodhipakkhiyasangahe:
Bồ-đề-phần tập-yếu. Kàyànupassanà-satipatthànam: Thân quán
niệm xứ Vàyàmo: Tinh-tấn. Bhiyyobhàvàya: Làm cho tăng trưởng.
III.
VIỆT VĂN.
- 25)
Trong Bồ-đề-phần tập yếu có bốn Niệm xứ tức là Thân
quán niệm xứ, Thọ quán niệm xứ, Tâm quán niệm xứ, Pháp
quán niệm xứ.
26)
Có bốn chánh - cần tức là tinh tấn trừ diệt các bất thiện
pháp đã sanh, tinh tấn không cho sanh các bất thiện pháp chưa
sanh, tinh tấn làm cho sanh các thiện pháp chưa sanh và tinh tấn
làm cho tăng trưởng các thiện pháp đã sanh.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Bodhipakkhiya:
Bodhi là Bồ đề, nghĩa là giác ngộ. Pakkhiya: có nghĩa là
phần, thuộc về. Satipatthàna: Niệm xứ. Sati là niệm, giác
tĩnh hay chú tâm. Patthàna là đặt vào, áp vào, cơ bản, nền
tảng. Các niệm xứ này hướng đến phát triển chỉ và quán.
Mỗi niệm xứ có một mục đích riêng. Do quán bốn đối
tượng này, các niệm bất tinh, khổ, vô - thường, vô - ngã
được tăng - trưởng và các niệm tham - ái, cầu dục lạc,
thường còn và hữu ngã được diệt trừ. Có thể chia các
đối - tượng của Bốn Niệm xứ theo Danh (Nàma) và Sắc (Rùpa).
Ðối tượng đầu thuộc Sắc, vì hơi thở cũng được xem
là Sắc pháp. Ðối tượng thứ hai và thứ ba thuộc cảm thọ
và tâm tư, thuộc Danh pháp. Và đối tượng thứ tư, Dhamma
(Pháp) gồm cả Danh và Sắc. Sammappadhànà: 4 chánh - cần, tức
là tinh - tấn.
I.
PÀLI VĂN.
- 27)
Cattàro iddhipàdà-chandiddhipàdo, cittiddhipàdo, viriyiddhipàdo,
vìmansiddhipàdo.
28)
Pancindriyàni-saddhindriyam, viriyindriyam, satindriyam, samàdhindriyam,
pannindriyam.
29)
Panca balàni - saddhà balam, viriyabalam, satibalam, samàdhibalam, pannàbalam.
II.
THÍCH VĂN.
- Iddhipàdà:
Như ý túc.
III.
VIỆT VĂN.
- 27)
Có 4 như ý túc: Dục như ý túc, Tâm như ý túc, Cần như ý
túc và Quán như ý túc.
28)
Có 5 căn: Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn, Tuệ
căn.
29)
Có 5 lực: Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực,
Tuệ lực.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Iddhipàda
là phương tiện để thực hiện mục đích của mình. Cả
4 như ý túc này thuộc Siêu thế giới. Chanda là Dục-tâm-sở.
Cần như ý túc thuộc 4 chánh cần. Citta: thuộc Siêu thế tâm
và Vìmansà là Tuệ tâm-sở thuộc Siêu thế-giới. 4 Tâm sở
này chỉ được gọi là Như ý túc khi được khởi lên trong
Siêu thế giới.
I.
PÀLI VĂN.
- 30)
Satta bojjhangà: Satisambojjhango, dhammavicayasambojjhango, viriyasambojjhango,
pìtisambojjhango, passaddhisambojjhango, samàdhisambojjhango, upekkhàsambojjhango.
31)
Attha maggangàni: Sammàditthi, sammàsankappo, sammàvàcà, sammàkammanto,
sammààjìvo, sammàvàyàmo, sammàsati, sammàsamàdhi.
32)
Ettha pana cattàro satipatthànà ti sammàsati ekà va pavuccati, tathà
cattàro sammappadhànà tica sammàvàyàmo.
II.
THÍCH VĂN.
- Bojjhango:
Giác chi. Dhammavicaya: Trạch pháp.
III.
VIỆT VĂN.
- 30)
Có bảy giác chi: Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh-tấn
giác chi, Hỷ giác chi, Khinh-an giác chi, Ðịnh giác chi, Xả
giác chi.
31)
Có Tám Ðạo chi: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
32)
Ở nơi đây, 4 Niệm xứ được xem là một chánh niệm; cũng
vậy, 4 chánh cần được xem là chánh tinh-tấn.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Sambojjhanga:
Sam là Thiện, tốt đẹp. Bodhi: Bồ-đề, giác. Anga: Chi-phần.
Dhammavicaya: nghĩa là thấy Tâm và Sắc như chơn, đúng với
sự thực. Passaddhi: là khinh-an, tâm khinh-an và tâm-sở khinh-an.
Upekkhà, không có nghĩa là thản nhiên, mà có nghĩa là tâm
trí bình tĩnh, thăng bằng đối với sự vật. Dhammavicaya,
viriya và pìti chống với thìna-middha; passaddhi, Sàmàdhi và
Upekkhà chống với Uddhacca. Sammàditthi: Chánh tri-kiến là sự
hiểu biết về lý Tứ Ðế. Sammàsankappo: Chánh Tư-duy, đây
là Vitakka (Tầm tâm-sở) đưa tâm hướng đến Niết-Bàn, diệt
trừ Kàma (Dục lạc) Vyàpàda (Sân) và himsà (Hại tâm) bằng
cách tu hành Nekkhamma (ly dục), Avyàpàda (vô sân) và Avihimsà
(vô hại).
I.
PÀLI VĂN.
- 33)
Chando cittamupekkhà ca saddhàpassaddhipìtiyo.
Sammàditthi
ca sankappo vàyàmo viratittayam
Sammàsati
samàdhìti cuddasete sabhàvato
Sattatimsappabhedena
sattadhà tattha sangaho.
II.
THÍCH VĂN.
- Sabhàvato:
Theo tự-tánh. Guddasa: 14. Sattatimsa: 37.
III.
VIỆT VĂN.
- 33)
Như vậy, Tập yếu chia theo 7 loại, gồm có 37 pháp, được
chia thành 14 pháp như sau, theo tự tánh của chúng: Dục, Tâm,
Xả, Tín, Khinh-an, Hỷ, Chánh kiến, Tư duy, Tinh-tấn, ba Tiết
chế, Chánh niệm và Chánh định.
IV.
THÍCH NGHĨA.
-
Như vậy, 37 danh từ nêu trên được diễn tả theo 7 loại
như sau:
| i)
Satipàtthàna (Niệm xứ): |
4 |
| ii)
Sammappadhàna (Chánh cần): |
4 |
| iii)
Iddhipàda (Như ý-túc): |
4 |
| iv)
Indriya (Căn): |
5 |
| v)
Bala (Lực): |
5 |
| vi)
Bojjhanga (Bồ-đề phần): |
7 |
| vii)
Magganga (Ðạo-chi): |
8 |
| Tổng
cộng: |
37 |
Nay
4 Niệm xứ xem như 1 Chánh niệm, và 4 Chánh cần như 1 Chánh
niệm, thành thử thật sự chỉ có 14 Pháp như sau:
| i)
Satipatthàna (Niệm xứ): Sammàsati (Chánh niệm): |
1 |
| ii)
Sammappadhàna (Chánh cần) = Sammàvàyàmo (Chánh tinh tấn): |
1 |
| iii)
Iddhipàda (Như ý túc) = Dục, Tâm, Quán: |
3 |
| iv)
Indriya (Căn) = Tín, Ðịnh: |
2 |
| v)
Bala (Lực) : |
0 |
| vi)
Bojjhanga (Bồ-đề phần) = Hỷ, khinh an, xả: |
3 |
| vii)
Magganga (Ðạo-chi) = Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
tư duy: |
4 |
| Tổng
cộng: |
14 |
I.
PÀLI VĂN.
- 34)
Sankappa - passaddhi ca pìtupekkhà, Chando ca cittam viratittayan ca,
Navekatthànà
viriyam navattha
Sati,
samàdhi catu panca pannà;
Saddhà
dutthànuttamasattatimsa,
Dhammànameso
pavaro vibhàgo.
35)
Sabbe lokuttare honti na và sankappapìtiyo
Lokiye
piyathàyoyam chabbisuddhippavattiyam.
II.
THÍCH VĂN.
- Nava:
9. Ekatthànà: Một lần. Dutthànà: Hai lần. Uttama sattatimsa:
37 thượng pháp. Pavaro: Tối thượng. Vibhàgo: Sự phân loại.
Yathàgogam: Tùy theo trường hợp. Chabbisuddhi: 6 loại thanh tịnh.
Pavattiyam: Trong khi thực hành, trong sự diễn tiến.
III.
VIỆT VĂN.
- 34)
Sự phân loại tối thượng của 37 pháp tối thượng này được
chia như sau: Tư-duy, Khinh-an, Hỷ, Xả, Dục, Tâm và ba tiết
chế, 9 pháp này được nói đến một lần; Tinh-tấn, 9 lần;
Niệm 8 lần; Ðịnh, 4 lần; Tuệ, 5 lần và Tín 2 lần.
35)
Tất cả những pháp này, trừ đôi khi Tư-duy và Hỷ, khởi
lên trong Siêu thế tâm, và cũng trong Thế giới, tùy theo trường
hợp, trong sự diễn-tiến của 6 loại Thanh tịnh (Visuddhi).
IV.
THÍCH NGHĨA.
a).
9 pháp sau đây được nói đến một lần: Chánh Tư-duy, Khinh-an
giác-chi, Hỷ giác-chi, Xả giác-chi, Dục như ý túc, Tâm như
ý túc, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.
b)
Tinh-tấn được nói đến 9 lần: 4 chánh cần, Tinh-tấn như
ý túc, Tinh-tấn căn, Tinh-tấn lực, Tinh-tấn giác chi, Chánh
Tinh-tấn.
c)
Niệm được nói đến 8 lần; 4 Niệm xứ, Niệm căn, Niệm
lực, Niệm giác-chi, Chánh niệm.
d)
Ðịnh được nói đến 4 lần: Ðịnh căn, Ðịnh lực, Ðịnh
giác-chi, Chánh định.
e)
Tuệ được nói đến 5 lần: Quán như ý túc, Tuệ căn, Tuệ
lực, Trạch pháp, Chánh tri-kiến.
f)
Tín được nói đến 2 lần: Tín căn và Tín lực.
Khi
chứng được Siêu-thế-tâm thuộc Ðệ Nhị thiền không có
tầm (Vitakka). Khi chứng được Siêu-thế-tâm thuộc Ðệ Tam
thiền, Ðệ Tứ thiền, thì không có Hỷ. 37 pháp này cùng
khởi một lần trong Siêu-thế-tâm, nhưng trong các giới khác,
chúng khởi lên riêng biệt.
| |
|
|
(a) |
(b) |
(c) |
(d) |
(e) |
(f) |
(g) |
| 1 |
Viriya:
Tinh-tấn |
9 |
|
+4 |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
| 2 |
Sati:
Niệm |
8 |
+4 |
|
|
+ |
+ |
+ |
+ |
| 3 |
Pannà:
Tuệ |
5 |
|
|
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
| 4 |
Samàdhi:
Ðịnh |
4 |
|
|
|
+ |
+ |
+ |
+ |
| 5 |
Saddhà:
Tín |
2 |
|
|
|
+ |
+ |
|
|
| 6 |
Sankappa:
Tư-duy |
1 |
|
|
|
|
|
|
+ |
| 7 |
Passaddhi:
Khinh-an |
1 |
|
|
|
|
|
+ |
|
| 8 |
Pìti:
Hỷ |
1 |
|
|
|
|
|
+ |
|
| 9 |
Upekkhà:
Xả |
1 |
|
|
|
|
|
+ |
|
| 10 |
Chanda:
Dục |
1 |
|
|
+ |
|
|
|
|
| 11. |
Citta:
Tâm |
1 |
|
|
+ |
|
|
|
|
| 12 |
Sammàvàcà:
Chánh ngữ |
1 |
|
|
|
|
|
|
+ |
| 13 |
Sammàkammanto:
Chánh nghiệp |
1 |
|
|
|
|
|
|
+ |
| 14 |
Sammà
àjìvo: Chánh mạng |
1 |
|
|
|
|
|
|
+ |
SABBASANGAHO
- TỔNG QUÁT TẬP YẾU
I.
PÀLI VĂN.
- 36)
Sabbasangahe pancakkhandhà-rùpakkhandho, vedanàkkhandho, sannàkkhandho,
sankhàrakkhandho, vinnànakkhandho.
37)Pancupàdànakkhandhà:
Rùpupàdànakkhandho, vedanupàdànakkhandho, sannupàdànakkhandho, sankhàrupàdànakkhan
dho, vinnànupàdànakkhandho.
38)Dvàdasàyatanàni
- cakkhàyatanam, sotàyatanam, ghànàyatanam, jivhàyatanam, kàyàyatanam,
manàyatanam, rùpàyatanam, saddàyatanam, gandhàyatanam, rasàyatanam,
photthabbàyatanam, dhammàyatanam.
II.
THÍCH VĂN.
- Sabbasangahe:
Tập yếu tổng quát.
III.
VIỆT VĂN.
- 36)
Trong tập yếu tổng quát, có 5 uẩn: Sắc uẩn, Thọ uẩn,
Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn.
37)
Có 5 thủ-uẩn: Sắc thủ uẩn, Thọ thủ uẩn, Tưởng thủ
uẩn, Hành thủ uẩn, Thức thủ uẩn.
38)
Có 12 xứ: Nhãn xứ, Nhĩ xứ, Tỷ xứ, Thiệt xứ, Thân xứ,
Ý xứ, Sắc xứ, Thanh xứ, Hương xứ, Vị xứ, Xúc xứ, Pháp
xứ.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Khandha:
nghĩa là uẩn, nhóm họp. Ðức Phật chia chúng sanh thành 5
uẩn. Tất cả sắc-pháp quá khứ, hiện tại và vị lai đều
chung gọi là Rùpakkhandha. Ở đây danh từ Sankhàra (Hành) được
dùng theo nghĩa đặc biệt. Trong 52 tâm-sở, trừ thọ và tưởng-tâm-sở,
còn lại 50 tâm-sở, được chung gọi là Hành (Sankhàra).
Upàdànakkhandha:
Thủ uẩn, sở dĩ gọi vậy vì chúng trở thành đối tượng
để nắm giữ, ôm ấp. Tám siêu-thế-tâm và các tâm-sở câu
hữu, cùng 10 sắc-pháp không do nghiệp sanh, không được xem
là Thủ uẩn.
Cakkhàyatana:
nhãn xứ, chỉ cho tịnh sắc căn của con mắt.
Manàyatana:
Ý xứ đây không có một căn đặc biệt cho ý như các căn
khác. Chữ ý xứ đây chỉ cho manadvàràvajjana (ý môn hướng
tâm) cùng với Bhavangupaccheda (Hữu phần dừng nghỉ).
I.
PÀLI VĂN.
- 39)
Atthàrasa dhàtuyo: Cakkhudhàtu, sotadhàtu, ghànadhàtu - jivhàdhàtu,
kàya-dhàtu, rùpa-dhàtu, saddadhàtu, gandha-dhàtu, rasa-dhàtu, phottabba-dhàtu,
cakkhuvinnàna-dhàtu, sotavinnànadhàtu, ghànavinnànadhàtu, jivhàvinnàna-dhàtu,
kỳyavinnànadhàtu, manodhàtu, dhammadhàtu, manovinnàna-dhàtu.
40)
Cattàri ariyasaccàni: dukkham ariyasaccam, dukkhasamudaya ariyasaccam,
dukkhanirodham ariyasaccam, dukkhanirodhagàminìpatipadà ariyasaccam.
41.
Ettha pana cetasika - sukhumarùpa - nibbànavasena ekùnasattati dhammà
dhammàyatanam, dhammadhàtù ti ca sankham gacchanti. Manàyatananameva
sattavinnànadhàtu-vasena bhijjati.
II.
THÍCH VĂN.
- Sukkhumarùpa:
Tế sắc. Ekùnasattati: 69. Bhijjati: Chia chẻ, bị đổ bể.
III.
VIỆT VĂN.
- 39)
có 18 giới. Nhãn giới, Nhĩ giới, Tỷ giới, Thiệt giới,
Thân giới, Sắc giới, Thanh giới, Hương giới, Vị giới,
Xúc giới, Nhãn thức giới, Nhĩ thức giới, Tỷ thức giới,
Thiệt thức giới, Thân thức giới, Ý giới, Pháp giới, Ý
thức giới.
40)
Có 4 Thánh-đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ
diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế.
41)
Ở đây 69 pháp gồm có tâm-sở, tế-sắc và Niết-Bàn được
xem họp thành pháp-xứ và pháp-giới. Chỉ có ý xứ được
chia thành 7 thức giới.
IV.
THÍCH NGHĨA.
- Dhàtu
có nghĩa là cái gì mang theo đặc tánh của mình. Dhammadhàtu
đồng nghĩa với dhammàyatana nhưng khác với Dhammàrammana (Pháp-sở-duyên),
vì không gồm có citta (tâm), pannatti (giả danh, thi thiết) và
pasàdarùpa (Tịnh-sắc-căn). Manovinnànadhàtu: Ý-thức-giới.
Trong 89 tâm, 76 tâm được xem là ý thức, trừ 10 thức tâm
và ba ý giới (2 tiếp-thọ-tâm và ngũ môn hướng tâm).
I.
PÀLI VĂN.
- 42)
Rùpam ca vedanà sannà sesà cetankà tathà,
Vinnànamiti
pancete pancakkhandhà ti bhàsità,
Pancupàdànakkhandhàti
tathà tebhùmakà matà,
Bhedàbhàvena
nibbànam khandhasangahanissatam,
Dvàràlambanabhedena
bhavantàyatanàni ca,
Dvàràlambanataduppanna-pariyàyena
dhàtuyo.
43.
Dukkham tebhùmakam vattam tanhà samùdayobhave,
Nirodho
nàma nibbànam maggo lokuttaro mato.
Maggayuttà
phalà ceva catusaccavinissatà,
Iti
pancappabhedena pavutto sabbasangaho.
II.
THÍCH VĂN.
- Tebhùmakà:
3 giới. Matà: Ðược biết, được hiểu. Bhedàbhàvena: Vì
thiếu sự phân biệt (thành quá khứ, hiện tại, vị lai).
Khandhasangahanissatam: Không thuộc vào tập yếu (năm) uẩn. Dvàràlambanabhedena:
Do sự sai biệt giữa cửa và sở duyên. Bhavantàyatanàni: Có
12 xứ. Taduppannapariyàyena: Do thức y nơi chúng khởi lên. Vattam:
Sự có mặt. Maggayutà phalà: Các tâm-sở tương tứng với
Ðạo và Quả. Catusaccavinissatà: Ðược trừ ra khỏi Tứ Ðế.
III.
VIỆT VĂN.
- 42)
Sắc, Thọ, Tưởng và các tâm-sở còn lại và các thức gọi
năm uẩn, cũng vậy những pháp gì liên hệ đến ba giới được
xem là năm thủ uẩn.
Vì
Niết-Bàn thiếu sự phân biệt (như quá khứ, hiện tại, vị
lai), Niết-Bàn được đặt ra ngoài 5 uẩn.
Do
sự sai khác giữa căn môn và đối tượng nên có 12 xứ. Do
sự phân biệt giữa căn môn, đối tượng và thức, y nơi
chúng khởi, nên có các giới.
43)
Sự có mặt trong ba giới là khổ. Tham-ái là nguyên nhân của
chúng. Khổ diệt gọi là Niết-Bàn. Ðạo là con đường siêu
thế.
Các
tâm sở tương ưng với Ðạo và Quả được đặt ra ngoài
4 Ðế. Như vậy tập yếu tổng kết được giải thích theo
5 đề mục.