Cảm Niệm Ngày
Phật Thành Ðạo
Thích
Nguyên Tạng
Hằng
năm cứ mỗi độ cuối đông, toàn thể Phật giáo đồ trên
khắp năm châu bốn bể, đều long trọng tổ chức lễ kỷ
niệm ngày Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo (vào ngày
mùng tám tháng mười hai âm lịch). Thật vậy cách đây hơn
hai ngàn năm trước, sau sáu năm khổ hạnh tu tập, Ðức Bổn
Sư của chúng ta đã chứng đạo dưới cội Bồ Ðề, thuộc
vùng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) gần thị trấn Gaya (nay là Bodhgaya
- Bồ Ðề Ðạo Tràng), tiểu bang Bihar, đông bắc Ấn Ðộ.
Sự
giác ngộ, chứng đạt chân lý tối thượng của Ngài là một
sự kiện vô cùng trọng đại, một chương mới mở ra cho
lịch sử tư tưởng của nhân loại, một ánh sáng chân lý
mới xuất hiện ở đời này. Nhân ngày kỷ niệm thành đạo
của Ngài, chúng con cần ôn lại một vài điều quanh sự kiện
giác ngộ của Ngài để nhắc nhở, củng cố thêm niềm tin
Chánh Ðạo của mình trên bước đường tu tập.
Pháp
tu khổ hạnh:
Trải
qua một thời gian dài lang thang khắp lưu vực sông hằng để
cầu học những bậc Thầy danh tiếng, rồi cuối cùng khép
mình vào những kỷ luật khắc khe nhất trên thế gian. Ðó
là theo pháp tu khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một hạt kê,
một hạt mè, và uống một ngụm nước, để sống cầm hơi
trong suốt sáu năm dài, nhưng Ngài vẫn không thấy ánh sáng
giác ngộ qua lý thuyết và cách thực hành ấy. Thân hình đẹp
đẽ, tráng kiện xưa kia, nay trở thành suy nhược, da xanh nhợt
nhạc, máu cạn, gân rút, thịt teo, mắt mờ, chỉ còn lại
bộ da bộc xương, cái chết đang tiến đến gần, nên Ngài
đã từ bỏ Khổ hạnh lâm (Dungsiri) và thay đổi pháp môn
tu khác, Ngài chọn con đường Trung đạo để tìm đến áng
sáng giác ngộ.
Tiếp
đó Ngài đến sông Ni Liên Thiền (Neranjara), tắm rửa sạch
sẽ để sửa soạn cho một cuộc hành trình mới. Hành động
tắm gội ở đây là một biểu tượng cho quyết tâm loại
bỏ một pháp tu lệch lạc và bắt đầu một cuộc tìm kiếm
chân lý khác. Ðể khởi đầu lộ trình này, không gì hơn
là phải tẩy sạch tất cả những bụi bặm trên thân xác
và tinh thần của Ngài.
Ngài
khó khăn lắm mới bước được lên bờ và nhận được một
bát sửa của nàng Sujata (Tu-sà-Ða) dâng cúng. Không ai rõ lý
do nào mà nàng Sujata, một người con gái của vị Trưởng
làng Tuna gần đó, dâng tặng bát sửa cho Ngài, tuy nhiên, chính
nhờ bát sửa ấy mà Ðức Phật đã nhanh chóng lấy lại sức
khỏe và sinh lực, để tiếp tục con đường còn lại cho
tiến trình tìm kiếm chân lý của mình. Tiếp đó, Ngài cũng
nhận được một bó cỏ Cát tường của Svastika, một cậu
bé chăn trâu trong làng, Ngài tự tay trải làm tọa cụ dưới
cội Tất Bát La (ngày nay gọi là Bồ Ðề) và ngồi kiết
già, quay mặt về hướng Ðông và phát một lời đại nguyện
rằng: "Thân tứ đại này dù mai kia có biến thành cát bụi,
nhưng Ðạo quả chưa đạt thành, tòa cỏ này quyết không
đổi thay".
Sau
khi phát lời đại nguyện xong, Ðức Phật bắt đầu thiền
tọa dưới cội Bồ đề, với tư thế ngồi "liên hoa" hay
"kiết già", đây là cách ngồi tiêu chuẩn của pháp môn Thiền
Ðịnh. Ở tư thế này, hai chân bắt chéo, bàn chân này nằm
ngửa trên lòng bàn chân kia, hai tay thu trước bụng, lòng bàn
tay ngửa, tay trái đặt trên tay phải. Ðây là tư thế ngồi
được xem là ổn định nhất, vững chắc nhất, giúp cho ta
có cảm giác chắc chắn, đôi tay và đôi chân luôn được
kiểm soát và tâm trí không bị buông thả.
Ngài
đã trải qua bảy tuần lễ tu tập thiền định như thế,
quán chiếu nội tâm, thấy rõ được thật tướng của vạn
pháp là vô ngã giai không, và cuối cùng, đêm thứ bốn mươi
chín, trong trạng thái đại định, với tâm thanh tịnh, Ngài
đã chuẩn bị bước vào ngôi vị chứng đắc thì Ma Vương
(Màra) xuất hiện cản trở tiến trình tu tập của Ngài.
Nhiếp
phục Ma Vương:
Trong
giáo lý nhà Phật rất thường đề cập đến vấn đề Ma
vương (Màra) (1) và cho rằng đây là một loại thử thách
khó khăn hàng đầu trước khi đạt được Chánh quả. Ở
đây việc cám dỗ của Ma vương có tầm quan trọng lớn lao
đối với việc hiểu được Phật, bởi vì Ðức Phật đã
bước lên ngôi vị Chánh Ðẳng Giác chỉ sau khi đánh bại
được sức mạnh cám dỗ của Ma vương và đạo quân của
chúng.
Trong
Kinh mô tả rằng, lúc Ðức Phật sắp bước vào ngôi vị
Phật Vương, Ma Vương tỏ ra hãi hùng, vì sợ mất tầm ảnh
hưởng thống trị của chúng, nên đã tìm cách ngăn cản,
không cho Ngài chứng đạo và chuyển pháp luân : "Này đạo
sỹ, thân thể của ông gầy còm, da dẻ xám xanh, gần kề
với cái chết. Cơ may sống còn của ông là một phần ngàn,
ông phải sống, vì có sống mới có thể làm được việc
có ích. Dù gì đi nữa, những nỗ lực của ông hôm nay cũng
hoài công vô ích, vì con đường đến với chân lý là gian
khổ, đau đớn và không bao giờ đến được". (Lược theo
Sutta Nipata - Padhana Sutta)
Nói
xong, Ma vương đã tiến hành biến hóa ra trăm ngàn ma quỷ
để tấn công nhằm khuất phục được Phật, nhưng Phật
không chút sợ hãi hay dao động. Ðức Phật đã lên tiếng
để nhiếp phục vị Ma Vương này như sau : "Này Ma Vương,
ngươi đến dây chỉ vì mục đích riêng của các ngươi. Ta
không cần danh vọng, ngươi hãy nói những điều đó với
những kẻ hám danh vọng. Ta có niềm tin, lòng dũng cảm và
trí tuệ. Tại sao ngươi lại đòi ta phải sống giống như
mọi người ? (...). Khi xác thịt hao mòn, tâm ta trở nên an
tịnh. Khi ta sống như vậy, ta đạt được cảm thọ cuối
cùng, tâm ta không còn tham dục. Hãy biết rằng sự thanh tịnh
luôn ở nơi ta. Tham dục là ma quân thứ nhất của ngươi.
Hai là đố kỵ. Ba là đói khát. Bốn là ái dục. Năm là hôn
trầm, thùy miên (lười biếng, uể oải). Sáu là sợ hãi.
Bảy là hoài nghi. Tám là phỉ báng và cố chấp. Chín là sự
thành đạt, danh tiếng, và vinh quang. Mười là tự khen mình
và khinh chê kẻ khác. Này Ma Vương, đội quân của nhà ngươi
là thế, chúng luôn trú ẩn trong những con người xấu xa đê
tiện, kẻ hèn yếu sẽ không thể nhiếp phục được chúng,
nhưng nếu hàng phục được chúng sẽ đạt được chân hạnh
phúc. Ta thà chết vinh trong chiến trận còn hơn sống mà thất
bại...". (Lược theo Sutta Nipata - Padhana Sutta)
Nhằm
muốn đè bẹp Ðức Phật, nên Ma Vương đã thay đổi chiến
thuật dữ dội hơn, bằng cách cho các ái nữ xinh đẹp nhất
để cám dỗ hầu lôi kéo Phật trở về với chúng, nhưng
dưới con mắt thanh tịnh của Phật các nàng đều biến thành
xấu xí và bất tịnh. Cuối cùng Ma vương đành thối lui và
tuyên bố rằng: "Sau bảy năm đã theo đuổi bước chân chàng
trai dòng họ Thích, ta vẫn không sao tìm cách để vào phá
được vị Ðại giác siêu phàm này. Giống như chú quạ bay
qua một mỏm đá lại mơ tưởng đó là miếng mồi béo bở,
ngọt ngào. Làm sao thấy được vị ngọt ở nơi mỏm đá
ấy, quạ phải bay đi...". (Lược theo Sutta Nipata - Padhana Sutta)
Ánh
sáng Giác Ngộ:
Sau
khi chinh phục được ma quân, Ðức Phật đã từng bước đi
vào bốn tầng bậc thiền để tiến đến giác ngộ. Pháp
thiền này giúp cho tâm trí hành giả có khả năng đạt được
giác ngộ. Bốn giai đoạn thiền này được mô tả trong Kinh
Trung Bộ như sau: Giai đoạn thứ nhất: (sơ thiền) là loại
bỏ dục vọng và các bất thiện pháp và đạt được trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh. Giai đoạn thứ hai, (nhị thiền):
diệt trừ tạp niệm, phát triển nội tỉnh và nhất tâm,
đạt được trạng thái hỷ lạc do định sanh. Giai đoạn
thứ ba, (tam thiền): vượt qua niềm hỷ lạc, đạt đến bình
thản và an lạc. Giai đoạn thứ tư, (tứ thiền): diệt trừ
các cảm thọ lạc và khổ, đạt tới cảnh giới thanh tịnh
không còn vui buồn, âu lo và hoan hỷ.
Sau
khi tinh thông qua bốn tầng thiền trên, tâm trí của Ðức
Phật trở nên sáng suốt, thanh tịnh và linh hoạt một cách
lạ thường, hướng tâm đến Tam Minh (Te-vijja), Ngài thấy
rõ được chân tướng, gốc rễ của khổ đau, Ngài biết
rõ rằng: "do cái này có, nên cái kia có; do cái này sanh mà
cái kia sanh; do vô minh có hành, do hành có thức, do thức có
danh sắc, do danh sắc có lục nhập, do lục nhập có xúc, do
xúc có thọ, do thọ có ái, do ái có thủ, do thủ có hữu,
do hữu có sinh, do sinh có lão tử và sầu bi khổ ưu não".
Do quán chiếu như vậy mà Ngài đã bước vào quả vị thứ
nhất, Túc Mệnh Minh (Pubbe-nivàsànussati Nàna) vào canh đầu
(khoảng chín giờ tối đến nửa đêm) Ngài nhớ lại tất
cả những kiếp quá khứ mà Ngài đã trải qua.
Sau
khi loại bỏ được màn vô minh dầy đặc của bóng đêm quá
khứ khổ đau sinh tử, Ngài đạt đến Thiên Nhãn Minh (Cutùpapàta
Nàna) ở canh thứ hai, thấy rõ những đời sống quá khứ
của hết thảy chúng sanh với hành nghiệp thiện và ác của
họ. Ngài biết rằng một người do hành động, lời nói và
ý nghĩ hướng đến điều ác xấu, thì kết quả khổ đau,
cay đắng sẽ đeo đuổi họ như cổ xe luôn theo sau con vật
kéo. Cũng một người với hành động, lời nói và ý tưởng
hướng điều thiện lành, có đức tin chân chánh, có nếp
sống lành mạnh, kết quả an lạc và hạnh phúc sẽ đến
với người ấy như bóng theo hình. Với loại trí tuệ này,
Ngài thấy rõ được tình trạng tan rã và nhóm hợp trở lại
của chúng sanh.
Ðến
canh cuối, Ðức Phật tác ý nghịch chiều duyên khởi như
sau : "Do cái này không có, nên cái kia không có, do cái này
diệt, nên cái kia diệt, do vô minh diệt nên hành diệt, do
hành diệt nên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt,
do danh sắc diệt nên lục nhập diệt, do lục nhập diệt nên
xúc diệt, do xúc diệt nên tho diệt, do thọ diệt nên ái diệt,
do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do
hữu diệt nên sinh diệt, do sinh diệt nên lão tử và sầu
bi khổ ưu não diệt". Lúc ấy ánh sao mai vừa ló dạng, Ngài
ngộ được chân lý tối thượng, chứng đắc Lậu Tận Minh
(Àsavakkhaya Nàna), đoạn tận gốc rễ của lậu hoặc (2).
Và khi sao mai hửng sáng rõ ràng, Ngài cảm thấy sức sống
của mình như bừng nở và trong chớp nhoáng Ngài nhận ra cái
hiện thực tối thượng của mọi sự vật, trong khoảng khắc
ấy Ngài chứng đắc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (3),
trở thành Phật (4), một vị giác ngộ ngay giữa cõi đời
khổ đau này, cánh cửa bất tử (the door of deathlessness) đã
mở cho tất cả chúng sanh từ thời điểm ấy, trang sử Phật
cũng bắt đầu từ đấy, con đường giải thoát và giác ngộ
mà trước đây chưa một ai tìm thấy, nay đã hiển lộ. Ngài
liền nói cảm giác vui sướng của mình rằng : "Giải thoát
đã đạt trọn vẹn, đây là đời sống cuối cùng, sẽ không
còn tái sanh nữa" (My emancipation is assured, this is my last birth,
there will be no more re-becoming) (MN 26.21).
Ngài
cũng đề cập đến cảm tưởng sau khi đạt giác ngộ như
là mình như vừa thoát khỏi ngục tù:
"Lang
thang bao kiếp sống
Trong
sanh tử luân hồi
Ta
tìm nhưng chẳng gặp
Người
xây dựng nhà này
Tái
sanh thật khổ thay.
Ôi
người làm nhà kia
Nay
ta đã thấy ngươi
Ngươi
không làm nhà nữa,
Ðòn
tay ngươi gãy rồi
Kèo
cột người tan nát,
Tâm
ta đạt an ổn
Tham
ái thảy tiêu vong"
(Pháp
Cú 153 & 154).
(Through
many births I have wandered in the samsàra round
Seeking,
but not finding the buider of the House,
Painful
is birth again and again.
O House
Builder, I have seen you. You shall build no house again,
All
your rafters are broken and your ridge - pole is shattered.
The
mind ar rest in Nibba2na, has attained the destruction of cravings)
(Dhammapada
verse 153 - 154)
Lúc
ấy trời đất hân hoan, chim chóc reo vui, chư thiên trong mười
phương rải hoa cúng dường, chào đón Ðức Thế Tôn, bậc
Thầy của chư thiên và loài người vừa xuất hiện. Thật
đúng là:
Ðêm
trăng tròn ánh sao mai vừa điểm
Cây
Bồ Ðề rực rỡ ánh hào quang
Khắp
nơi nơi ngào ngạt tỏa thiên hương
Nhạc
thành đạo cả bầu trời vang động
Sáu
ngã luân hồi vui không xiết kể
Mười
phương hướng về chào đón Thế Tôn
Hoa
Từ Bi lòng người đều bừng nở.
(Thơ
của Thích Quảng Thiệp)
Ðêm
ấy là ngày trăng tròn tháng Tithakhu (theo lịch của Ấn Ðộ),
tức nhằm ngày mùng tám tháng 12 theo lịch của Trung Hoa. Ðó
là năm Ngài 35 tuổi, đúng vào năm 590 trước Tây Lịch, tại
tụ lạc Ưu Lâu Tần Loa (Uruvelà), cách thành phố Già Da (Gaya)
về phía Ðông Nam khoảng 7 dặm, thuộc nước Ma-kiệt-đà
(Magadha). Vì lý do ấy, nơi đó về sau nơi này được gọi
là Phật Già Da (Buddha-Gaya), ngày nay gọi Bồ Ðề Ðạo Tràng
(Bodh-Gaya) thuộc tiểu bang Bihar, đông bắc Ấn Ðộ.
Kể
từ thành đạo Bồ Ðề:
Sau
khi Ðức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đã
chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sỹ, nông,
công, thương, mọi tầng lớp của xã hội Ấn đều thừa
hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Ðến cuối đời
của Ngài, Chánh Pháp đã có mặt ở khắp Ấn Ðộ và lan
tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông
Hằng đi về phía đông, phía nam tới bờ sông Caodaveri, phía
tây tới bờ biển Arập, phía bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu
đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lý Phật Ðà, và người
dân nơi ấy sống trong sự hòa bình và hạnh phúc. Trong triều
đại của Hoàng Ðế Asoka thuộc vương triều Maurya (thế kỷ
thứ 3 trước TL), Phật giáo đã bắt đầu truyền bá sang
các vùng biên giới của đại lục, đông tới Miến Ðiện,
Nam tới Tích Lan, tây đến Xyri, Ai Cập.... Và cuối cùng Phật
giáo đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo thế giới.
Phật
giáo Nam Truyền (Theravada) xuất phát từ miền nam Ấn độ,
Phật giáo được truyền sang Tích Lan, rồi từ Tích Lan truyền
qua Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchia, Lào.... Ðạo Phật Nam Truyền
được lan tỏa đến các nước Miến Ðiện, Thái Lan, Lào...
PG tại các quốc gia này tụng Kinh bằng ngôn ngữ Pali.
Phật
Giáo Bắc Truyền (Mahayana), từ miền Bắc Ấn Ðộ vượt qua
dãy núi Hindu và sông Amua ở miền Trung Afghanistan, rồi vượt
qua cao nguyên Pamia, vào Tân Cương Trung quốc, từ đó đến
Hà Tây, Trường An và Lạc Dương. Tiếp đó PG từ Trung Hoa
truyền đến các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản
và Việt Nam. Và một con đường khác là từ Ấn Ðộ truyền
sang Nepan, vượt qua dãy núi Hymalaya, vào Tây Tạng, rồi từ
Tây Tạng truyền vào một số tiểu quốc của Trung Hoa và
một số vùng thuộc bộ tộc Buryat của Mông Cổ và Xiberi.
PG trong các quốc gia này tụng Kinh phần lớn bằng ngôn ngữ
Sanskrit hoặc được dịch sang tiếng mẹ đẻ của mình.
Và
đến cuối thế kỷ thứ 18, Ðạo Phật được chính thức
truyền sang các nước Châu Âu (1788) và Châu Mỹ (1875), và
đến cuối thế kỷ thứ 20, PG lại được truyền qua Châu
Phi. Như vậy Chánh Pháp đã có mặt ở khắp hoàn cầu tính
cho tới thời điểm này.
Lời
kết:
Quả
Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác của Ðức Phật, cuộc đời của
Ðức Phật là một minh chứng hùng hồn, một cảm hứng tuyệt
vời cho tất cả chúng ta. Ngài là một nhà triết học và
một nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại. Qua kho tàng
kinh điển của PG, ta thấy rằng Ðức Phật không đơn giản
chỉ là một nhà lãnh tụ tôn giáo kiệt xuất, một triết
gia, một nhà xã hội, một nhà giáo dục, mà còn là thầy
thuốc thiên tài trong trường đời, có khả năng chữa khỏi
tất cả các loại bệnh trên thế gian này. Chúng ta cần phải
khắc sâu hình ảnh của Ngài, nếu không chúng ta sẽ lúng
túng trước một kho tàng giáo lý khổng lồ do chính Ngài diễn
giảng về con đường tu tập và kết quả chứng đắc liên
quan.
Quả
thật vậy, ngày nay khi bàn về câu chuyện thành đạo của
Ngài chúng ta vô cùng lúng túng, khó hiểu, khó thấu, khó đạt
được trọn vẹn trên mặt văn tự, huống hồ việc áp dụng,
chứng đạt như Ngài.
Biết
rõ điều này, nên Ðức Phật đã hơn một lần trấn an cho
chúng ta rằng: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là
Phật đã thành và các con là Phật sẽ thành". Trên tinh thần
đó, không gì hơn là chúng ta phải bắt tay vào việc, tu học
và thực hành theo giáo pháp mà Ngài đã để lại. Nếu học
đúng và áp dụng đúng pháp, chúng ta sẽ chứng đạt như
Ngài.
Tóm
lại tu tập và đạt được giác ngộ, giải thoát là giấc
mơ bất tận của mọi đệ tử Phật. Dù biết rằng con đường
ấy quả thật đầy chông gai và thử thách, nhưng không phải
chúng ta không có, không đủ khả năng để đạt được, vấn
đề là mỗi người chúng ta có khởi sự ngay từ bây giờ
hay là không. Nguyện cầu cho tất cả chúng ta có đủ sức
khỏe, nghị lực và quyết tâm để tiếp tục theo đuổi con
đường mà Ðức Phật đã đi qua và thành đạt hơn hai ngàn
năm trước.
Melbourne,
Mùa Thành Ðạo 2000
Thích
Nguyên Tạng
Email:quangduc@eisa.net.au
===================
Ghi
chú :
(1)
Màra (Ma Vương) nghĩa là kẻ giết chóc, kẻ hủy diệt. Màra
là hiện thân của thần chết, tượng trưng cho thế lực ngăn
cản con người muốn đạt được giác ngộ, muốn làm điều
tốt (Kushala) hay muốn tiến bộ trên con đường giác ngộ.
Ma Vương, tên là Ba Tuần, được xem là vua của tầng trời
thứ sáu của Dục giới (Desire realm). Hình tượng của Ma Vương
được mô tả là có 100 cánh tay, cưỡi voi. (Lược theo The
Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, USA, 1989). Còn theo
quan điểm của Ðại Thừa thì Bồ Tát dùng thần lực phương
tiện lớn, hiện ra làm ma vương để giáo hóa chúng sanh. Mặt
khác,
trong giáo lý Ðạo Phật không xem ma quỷ là một thế lực
ghê gớm ở bên ngoài mà chính là những thế lực xấu ác
luôn trú ẩn đâu đó trong mỗi con người, đó chính là: Phiền
não ma, Ngũ ấm ma, Pháp hành ma, Tử diệt ma và Chư thiên ma.
(2)
Lậu Hoặc: Lậu (àsava) là chỉ cho phiền não. Thân tâm thấm
trược phiền não tham sân si, sự tiết lộ làm cho thân tâm
nhiễm ô vì cảm xúc Lục căn với Lục Trần. Lậu có 3 thứ
là Dục lậu (Kàmàsava - sự nhiễm ô qua dục), Hữu lậu (Bhavàsava
- sự nhiễm ô qua sự tồn tại) và Vô minh lậu (Avijjàsava-
nhiễm ô qua vô minh). Ðoạn tận ba lậu trên sẽ đắc quả
A-la-hán. Kinh Niết Bàn viết: "Phiền não là các mối lậu.
Ðức Như Lai dứt hết tất cả các phiền não". Hoặc là chỉ
cho cái tâm mê vọng, chấp vào cảnh sở đối mà bị điên
đảo, vọng. Hoặc cũng đồng nghĩa với phiền não, lậu,
cấu, kiết sử. Hoặc có 3: Kiến tư hoặc (chỉ chung cho phiền
não trong tam giới, là nguyên nhân khiến chúng sanh phải chịu
sinh tử luân hồi); Trần sa hoặc (các mối kiến tư của chúng
sanh nhiều như cát bụi) và Vô Minh hoặc (đối với tất cả
các pháp không thông hiểu, vì nặng nghiệp chướng, căn bản
phiền não ăn sâu).
(3)
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác: viết theo tiếng Phạn là
Anuttara Samyak Sambuddha (dịch âm: A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề),
đây là quả vị cao nhất trong các quả chứng mà Ðức Phật
đạt được trong đêm thành đạo. Bậc Chánh Ðẳng Giác là
người giáo hóa chúng sanh về những gì tự mình đã chứng
ngộ.
(4)
Phật : dịch từ chữ Buddha (Pali và Sanskrit) dịch ra Hán là
Phật Ðà, Việt Nam gọi là Bụt hay Bụt-đà, nghĩa là Bậc
giác ngộ, người thoát khỏi sinh tử luân hồi. Một vị Phật
sau khi tịch diệt không còn tái sinh nữa. Ðể đạt được
quả vị Phật, một vị Bồ tát (Bodhisattva) phải phát nguyện
trước một vị Phật, quyết tâm tu tập và đạt ngộ. Trải
qua vô lượng kiếp các Ngài đã thực hành Bồ tát hạnh.
Khi sinh ra lần cuối, vị ấy phải trải qua một thời gian
giáo hóa ở cung trời Ðâu Suất (Tusita), rồi khi sinh ra lần
cuối cùng, vị Phật ấy luôn có đủ 32 tướng tốt và 80
vẻ đẹp. Thông thường, các vị Phật sinh ra thì mẹ của
các Ngài sẽ qua đời sau đó bảy ngày. Lúc trưởng thành,
khi nhân duyên khế hợp, các Ngài sẽ xuất gia, giác ngộ,
và giáo hóa chúng sanh.