Ðôi Nét Về Bồ
Ðề Ðạo Tràng
Nơi Ðức Phật Thành
Ðạo
T.S Lâm
Như Tạng
Gió
qua hồn, ấm đông tây
Không
khí hò vang nhịp bước
Loài
ác quái khuất đầu xuôi nẽo trược
Nước
sông tràn nhịp hoan ca
Chín
mười phương hội tụ sóng Ta Bà
Ngài
ngự đến đĩnh cao vời ý sống
o0o
Nơm
nớp trần tâm mờ xa nẽo thẵm
Cuồng
say kiếp sống con người
Muôn
vạn vầng dương về trên đĩnh ngự
Thác
reo lòng suối xưa nay
Và
giữa đêm sương buốc lạnh đời
Mưa
rừng xào xạc ánh trăng vơi
Thú
khuya ngừng hót tàn canh mộng
Là
lúc Ngài vang một tiếng cười
o0o
Ôi
sóng vang rền tinh đẫu bay
Ngược
lên nguồn giác mặt trời xoay
Bừng
trong ánh mắt tan cuồng vọng
Ngài
thoạt lên ngôi cứu vạn loài .
(trích
trong tập thơ ''Trọn Vẹn Một Tình Yêu'', Như Tạng, 1991)
Khi
nghĩ về Ðức Phật, là Phật Tử, không ai lại không nhớ
về bốn thánh tích quan trọng. Ðó là vườn hoa Lâm Tỳ Ni
(Lumbini Nava), dưới cây hoa Vô Ưu, thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu)
nay thuộc nước Nepal phía Bắc Ấn Ðộ, nơi Thái Tử Sĩ Ðạt
Ta (Siddhartha Gautama) đản sanh. Thứ hai là Bồ Ðề Ðạo Tràng
(Boddha Gaya), tại Buddh Gaya, nay thuộc tiểu bang Bihar, miền
Bắc Ấn Ðộ, nơi Ðức Phật thành đạo. Thứ ba là vườn
Lộc Uyển (Migadaya nay gọi là Sarnath thuộc xứ Utta Pradesh)
(1), nơi Ðức Phật thuyết pháp lần đầu tiên . Thứ tư là
Câu Thi Na(Kusinagara), nơi Ðức Phật nhập Niết Bàn .
Nhân
ngày Ðức Phật Thành Ðạo xin sơ lược đôi nét về Bồ
Ðề Ðạo Tràng để ghi nhớ nơi Ðức Từ Phụ sau 49 ngày
đêm tham thiền nhập định đã thành bậc vô thượng chánh
đẵng chánh giác. Kể từ đó sau 49 năm Ngài thuyết giảng
kinh pháp đà để lại cho nhân loại một kho tàng kinh điển
vĩ đại quí giá.
Bồ
Ðề Ðạo Tràng ngày nay còn lại những gì, lược sử của
nó như thế nào ?
1-
Cây
Bồ Ðề và Kim Cương Tòa
Trên
đường chiêm bái các Phật tích, nếu đi từ núi Khổ Hạnh
Lâm (Dungsiri) một ngọn núi khô khan cằn cỗi, nóng bức như
lửa đốt vào mùa hè, phải lội qua sông Ni Liên Thiền (Neranjara)
để đến Bồ Ðề Ðạo Tràng.
Gần
nơi Bồ Ðề Ðạo Tràng có một di tích nông trại của nàng
Tu Sa Da (Sujata), người đã dâng sữa cúng dường thái tử
Sĩ Ðạt Ta sau khi Ngài từ Khổ Hạnh Lâm đến (2).
Bồ
Ðề Ðạo Tràng có một tháp lớn, sau tháp nầy là cây Bồ
Ðề rất lớn, tại nơi gốc cây có một Kim Cương Tòa chính
là nơi Thái Tử đã ngồi tham thiền nhập định 49 ngày đêm
đến lúc Ngài hoát nhiên đại ngộ thành bậc chánh đẵng
chánh giác.
Theo
lịch sử ghi lại cây Bồ Ðề nầy từ đó đến nay đã ba
lần bị đốn ngã nhưng lành thay sau khi bi chặt từ dưới
gốc lại đâm chồi lên và tồn tại xanh tươi cành lá xum
xuê cho đến ngày nay. Lần thứ nhất bị chặt đó là trước
khi vua A Dục (Asoka, lên ngôi năm 273 trước tây lịch, làm
vua được 37 năm) (3) chưa phát tâm theo Phật Giáo. Lần thứ
hai, sau khi vua phát tâm theo Phật Giáo, Ngài thường đến nơi
cây Bồ Ðề để tưởng nhớ Ðức Phật, hoàng hậu phẩn
nộ nên sai quân lính đến chặt phá cây Bồ Ðề. Lần thứ
ba khi giặc Hồi Giáo xâm lăng Ấn Ðộ đã chặt phá cây Bồ
Ðề (4).
Mặc
dù đã trãi qua những cơn tàn phá như vậy cây Bồ Ðề nguyên
thủy nơi Ðức Phật Thành Ðạo đến nay cành lá vẫn tỏa
rộng xanh tươi như giáo pháp của Ngài đang tỏa khắp năm
châu bốn bể.
2-
Tháp
nhỏ và tượng Phật lộ thiên
Phía
đông của tháp lớn là một ngôi tháp nhỏ được xây để
kỷ niệm nơi Ðức Phật đến đây để nói những lời nhân
hậu cám ơn cây Bồ Ðề đã che mưa che nắng cho Ngài trong
suốt thời gian Ngài tham thiền nhập định cho đến khi thành
Phật.
Phía
nam của tháp lớn là một tháp nhỏ khác kỷ niệm nơi Ðức
Phật đã tu chứng được tứ thiền.
Bên
phải của tháp lớn là một tượng Phật lộ thiên xây giữa
hồ sen có cửu long che chở. Tương truyền rằng khi Ngài tu
thiền định có thần long che mưa che nắng cho Ngài (5).
Nơi
sát vách phía đông tháp lớn có một tượng đức Quán Thế
Âm. ''Trở về phía đông của ngôi đại tháp thấy có nhiều
người Tây Tạng, cả Tăng lẫn tục đều nhắm mắt , chấp
tay chí thành đi về hướng tượng Ðức Quán Thế Âm được
tạc vào thành của ngôi đại tháp... tượng Ðức Quán Thế
Âm nguyên thủy không còn nữa, sau nầy người Tây Tạng tạc
tượng nầy để lễ bái và họ tin rằng nếu nguyện một
điều gì đó sẽ thành tựu thì nhắm mắt đi vẫn đến đúng
trước chính diện của tượng. Nếu không, tự nhiên có một
dẫn lực nào đó dắt ta ra khỏi tôn tượng.'' Ai không tin
cũng phải tin. Vì đây là nơi Thánh Ðịa linh thiêng vô cùng.
Ðộ xa từ khi nhắm mắt khởi đầu đi đến gần tượng
chừng 10 thước. Khi đi đến tự nhiên thấy mình như bị
xô tới. Tất cả ai nấy cũng đều cảm nhận như vậy. Mà
quả thật pháp Phật thật nhiệm mầu. Nếu không có những
linh thiêng mầu nhiệm nầy thì ma vương và ngoại đạo đã
phá nát nơi nầy rồi ...'' (6).
Nhất
là nơi Thánh Ðịa quan trọng nầy ngoại đạo thấy nhiều
Phật Tử các nơi trên thế giới đến chiêm bái họ sanh lòng
ganh ghét muốn phá phách. Còn những người theo Ấn Giáo địa
phương thì lúc nào cũng muốn lợi dụng lòng sùng kính Thánh
Tích của khách thập phương mà lập mưu để thủ lợi.
3-Ngôi
đại tháp
Thánh
tích Bồ Ðề Ðạo Tràng có lịch sử từ khi Ðức Phật thành
đạo tại nơi nầy. Về cây Bồ Ðề mặc dầu bị chặt ba
lần nhưng nó vẫn tồn tại liên tục đến ngày nay nên có
phần dễ hiểu. Riêng về ngôi đại tháp khó xác định được
thời gian xây cất và bị phá hủy và được xây lại nhiều
lần nên khó xác định hình thái và độ cao của nó một
cách chính xác.
Vua
A Dục đã đến đây chiêm bái nhiều lần, cuộc chiêm bái
của Ngài có khắc vào bia đá để kỷ niệm, hiện còn giữ
tại Sanchi (7).
Ðại
tháp đầu tiên rất có thể do vua A dục dựng lên nhưng vì
thiếu bia ký để kiểm chứng nên không thể khẳn định được.
Thế nhưng cho dù có do vua A dục xây dựng đại tháp đầu
tiên đi chăng nũa thì rất tiếc là ngôi tháp nguyên thủy
ấy nay không còn, ngôi tháp hiện tại là do sau nầy mới xây
lại mà thôi.
Muốn
hiểu về lịch sử đại tháp ta phải dựa vào ký sự củ
ngài Pháp Hiển và ngài Huyền Trang để dễ thẩm định. Dựa
theo những tài liệu đó có thể đoan chắc là ngôi đại tháp
hiện tại được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ hai sau
tây lịch.
Vào
năm 409 ngài Pháp Hiển đã đến thăm Bồ Ðề Ðạo Tràng,
trong ký sự ngài viết: ''Tại chổ Ðức Phật thành đạo
có ba ngôi tháp và nhiều vị sư tu hành. Gia đình dân chúng
chung quanh cúng dường các thức ăn mặc rất đầy đủ không
thiếu thứ gì. Các vị sư giữ giới luật rất thanh tịnh
trang nghiêm.'' (8)
Năm
637 ngài Huyền Trang đến chiêm bái Bồ Ðề Ðạo Tràng, trong
ký sự ngài viết: ''Phía đông cây bồ đề có một tháp cao
chừng 52 thước, nền tháp rộng độ 20 thước vuông, tường
bằng gạch xanh, trét vôi chu nam, các khám tượng của mỗi
tầng đều thếp vàng. Bốn mặt tưòng đều đầy những tượng
khắc rất đẹp, chổ nầy là hình ảnh những chuổi ngọc
dài, chổ kia là những vị tiên. Ngọn tháp là một trái Amlak
bằng đồng thép vàng.
Mặt
phí đông có một tòa lầu 3 tầng và các mái hiên, cột trụ
và cột nhà cùng cửa lớn và cửa sổ đều được trang hoàng
với những ảnh tượng bằng vàng hay bạc, với ngọc ngà
đính vào tượng và các kẻ hở. Những phòng âm u và những
hành lang bí mật đều có cửa sổ mở vào trong những tầng
lầu. Về phía mặt và phía trái đều có tượng đức Quán
Thế Âm và tượng đức Bồ Tát Di Lặc. Những tượng nầy
đều bằng bạc và cao độ 3 thước tây. Tại chổ tháp hiện
tại, vua A Dục ban đầu có lập một ngôi chùa nhỏ, về sau
có người Bà La Môn lập lại một ngôi khác to rộng hơn nhiều''.
(9)
''Ngọn
tháp mà ngài Huyền Trang miêu tả chính là ngọn tháp hiện
tại, không còn nghi ngờ gì nữa, dầu có sửa chửa và thay
đổi ''. (10)
Theo
lịch sử, Phật Giáo Tích Lan có liên quan đến Bồ Ðề Ðạo
Tràng kể từ khi vua A Dục cử Ðại Ðức Sanghamitta đem nhánh
Bồ Ðề qua Tích Lan tặng. Năm 330 vua Meghavana có lập một
ngôi chùa tại Bồ Ðề Ðạo Tràng để chư tăng người Tích
Lan có nơi tu học.
Năm
1079 Phật Tử Miến Ðiện góp công sửa sang lại ngôi tháp
và xây tường bao bọc chung quanh.
Ðến
năm 1298 Phật Tử Miến Ðiện lại trùng tu lại một lần
nữa.
Tại
làng Janibigha thuộc xứ Bihar có tìm được một tấm bia đề
năm 1202 ghi vị tỳ kheo người Tích Lan tên Manalaswami quản
lý ngôi làng để lo việc tu bổ và cúng lễ Kim Cương Tòa
tại Bồ Ðề Ðạo Tràng.
Theo
những tài liệu ghi trên cho thấy ít nhất là cho đến thế
kỷ 13 sau tây lịch Bồ Ðề Ðạo Tràng còn do Phật Tử Tích
Lan và Ấn Ðộ quản trị.
Sau
khi giặc Hồi Giáo tràn vào chiếm cứ Ấn Ðộ tàn sát Tăng
Ni Phật Tử, đốt phá chùa chiền và các di tích Phật Giáo
Phật tích nầy mới bị bỏ hoang không người chăm sóc cho
đến khi ông Mahant (thuộc Ấn Giáo) đến tại nơi nầy.
Năm
1812 nhà khảo cổ trứ danh là bác sĩ Buchannan Hamilton đến
thăm Bồ Ðề Ðạo Tràng, ông đã trông thấy ngôi đại tháp
đã đổ nát hoang phế từ lâu. Như vậy chứng tỏ ông Mahant
không để ý gì đến việc tu sửa ngôi tháp nầy.
Vị
đại sứ Miến Ðiện tên là Mêngy Maha Chesu và đoàn tùy tùng
đà đến thăm nơi đây vào năm 1833, có tìm thấy một tấm
bia ghi bằng chử Pali như sau: ''Ðây là một trong số 84 ngàn
ngôi tháp do vua A Dục, vua cõi Diêm Phù Ðề, dựng lên để
kỷ niệm nơi Ðức Phật Thành Ðạo .. ''. Ngày 18-8-1875, bộ
ngoại giao Miến Ðiện gởi một văn thư cho ông Tổng Toàn
Quyền yêu cầu được phép trùng tu lại ngôi đại tháp, xây
tường để đở nhánh cây Bồ Ðề, sửa chửa lại những
đền đài đổ nát tại đây và xây một ngôi chùa cho Tăng
chúng tu học trong khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng. Trong khi ấy
chiến tranh giữa nước Anh và Miến Ðiện bùng nổ nên đáng
lý ra công việc trùng tu xây cất phải do đại diện của
nhà vua Miến Ðiện nhưng lại phải giao cho ông Mahant (Ấn
Ðộ Giáo) và chính phủ Ấn Ðộ quản đốc công việc. Có
điều lạ là sở Bác Cổ Ấn lại không quan tâm đến Ðại
Tháp Bồ Ðề Ðạo Tràng.
Sau
đó có rất nhiều ý kiến và thĩnh nguyện thư của Phật
Tử đòi giao lại Phật Tích nầy cho Phật Tử quản lý nhưng
không được đáp ứng bởI chính phủ Anh và Ấn Ðộ lúc
bấy giờ...
Mãi
đến năm 1891 ngài Anagarika Dharmapala tự đãm trách công việc
đòi lại Bồ Ðề Ðạo Tràng từ tay Ấn Ðộ Giáo. Vì họ
chỉ giữ Thánh Tích nầy với mục đích hưỡng lợi qua sự
cúng dường của bá tánh chứ không hề có ý muốn tu sửa
hay cung kính chi cả.
Sau
lần chiêm bái Thánh Tích nầy ngài Dharmapala ngày 21-1-1891 đã
ghi trong nhật ký như sau: ''Tôi với ông Durga Bahu và bác sĩ
Chetteijee đến Buddhagaya, nơi tôn quí nhất của Phật Tử.
Sau khi đi độ 6 dặm Anh, chúng tôi đến tại thánh tích. Trong
khoảng một dặm Anh, chúng tôi đã thấy những tượng của
Ðức Từ Phụ lăn lóc chổ nầy chồ kia.
Tại
ngôi đền của ông Mahant hai bên cửa có những tượng Ðức
Thế Tôn đang thiền định hay đang thuyết pháp. Ôi ! Tôn nghiêm
làm sao ngôi tháp quí báu nầy! Ðức Thế Tôn ngồi trên pháp
tòa và sự tôn nghiêm tỏa khắp làm cho Phật Tử chí thành
phát khóc. Ôi sung sướng biết bao ! Khi vầng tráng của tôi
chạm đến Kim Cương Tòa, một ý niệm phát ra rồi đánh mạnh
vào tâm trí tôi. Ý niệm ấy bảo tôi dừng lại đây và gìn
giữa thánh tích tôn nghiêm nầy, tôn nghiêm đến nỗI không
gì trên đời nầy sánh bằng, vì đây là chổ mà dưới gốc
Bồ Ðề Thái Tử Sĩ Ðạt Ta đã giác ngộ thành Phật.
Tôi
lượm một vài ngọn lá và một ngọn cỏ có hình dáng rất
đặc biệt. Khi một ý niệm đột nhiên đến với tôi, tôi
hỏi vị tu sĩ ngườI Nhật tên Kozen có bằng lòng ở lại
dây với chúng tôi không? Vị nầy hoan hỷ bằng lòng và hơn
thế nữa vị nầy cũng nghĩ như tôi.
Cả
hai chúng tôi thề một cách trịnh trọng quyết ở lại đây
cho đến khi có một vài tu sĩ đến quản đốc Thánh Tích
nầy'' (22-1-1891) .
Ngài
Dharmapala sau khi đi chiêm bái về đến Tích Lan, ngày 31-6-1891
tổ chức một đại hội Phật Giáo do ngài Sumangala làm chủ
tọa, trong buổi họp nầy hội Maha Bồ Ðề được thành lập
với mục đích lấy lại Bồ Ðề Ðạo Tràng và truyền bá
chánh pháp tại Ấn Ðộ. Ðại Ðức Sumangala là chủ tịch,
Ðại Ðức Dharmapala làm chánh thư ký hội.
Sau
hai lần kiện để đòi lại Thánh Tích nầy cho Phật Tử,
thất bại vì ngài Dharmapala không đủ tiền bạc và thế lực
nên bị thua kiện.Thế nhưng ngài đã dùng phương tiện truyền
thông, báo chí để vận động dư luận quần chúng ủng hộ.
Do
đó quần chúng Ấn Ðộ và Phật Tử trong nước cùng nước
ngoài đều biết qua báo chí và họ đều hổ trợ cho công
việc đòi lại Thánh Tích nầy.
Do
những ảnh hưởng kể trên nên vấn đề nầy được đem
ra bàn cải tại Ðại Hội Quốc Gia Ấn Ðộ (Indian National
Congress) nhóm họp tại Gaya, Belgaon, Coconada và các nơi khác
nữa. Ðảng Quốc Ðại đã thành lập một ủy ban để lo
xử lý công việc nầy theo đó Phật Giáo cử đại diện và
Ấn Ðộ Giáo cũng cử đại diện vào ủy ban quản lý Thánh
Tích nầy nhưng không thành công vì phía Ấn Ðộ Giáo phản
đói đề án nầy.
Mãi
đến sau khi Ấn Ðộ được Anh trao trả độc lập, chính
phủ Ấn Ðộ đứng ra trực tiếp cang thiệp và trao quyền
quản đốc Thánh Tích cho một ủy ban gồm có 11 người, 5
ngườI Ấn Ðộ Giáo (trong số nầy có ông Mahant) và 5 người
Phật Tử, một vị chủ tịch ủy ban do chính phủ Ấn đề
cử để lo việc quản đốc Thánh Tích.
Kể
từ khi ấy đến nay Thánh Tích nầy do Phật Tử đứng ra tu
bổ. Ngoài ra chính phủ Ấn còn kêu gọi Phật Tử các nước
khác đến lập chùa trong khu vực Thánh Tích để tiện việc
cho chư Tăng Ni tu niệm và có nơi tạm trú cho tín đồ đến
tham bái. (11)
4-Những
Ngôi chùa của nước ngoài tại Bồ Ðề Ðạo Tràng
Chung
quanh khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng có những chùa của các nước
như sau: chùa Miến Ðiện, được xây cất cách nay độ chừng
trên 50 năm. Chùa xây có vẽ sơ sài, có lẽ ảnh hưởng đến
cách suy nghĩ của người Miến Ðiện là đơn giản hóa mọi
vấn đề ? ...
Chùa
Trung Hoa đói diện Bồ Ðề Ðạo Tràng về hướng đông.
Phật
Giáo Nhật Bản có hai ngôi chùa trong khu vực nầy. Chùa xây
qui mô có lối kiến trúc tân thời theo kiểu Nhật Bản. Ngoài
chánh điện lớn trang nghiêm còn có cả thiền đường Tăng
phòng, nhà trọ, trai đường... trông rất nguy nga đồ sộ...
Chùa
của nước Butan rất lớn, mặc dầu họ là một quốc gia
nhỏ bé. Phật Giáo là quốc giáo tại quốc gia nằm trong dãy
Hy Mã Lạp Sơn nầy.
Một
chùa Ấn Ðộ đang xây cất ( đó là năm 1988) chẵng biết
giờ nầy đã hoàn thành chưa? Vì công việc xây cất trông
yếu ớt lắm !
Ngoài
ra còn có các chùa khác như chùa Nepal, chùa Thái Lan rất lớn,
chùa Sikkim v.v..
Về
phía Tây Tạng họ có hai chùa, cả hai đều có những bích
họa rất đáng để ý.
Một
ngôi chùa thuộc phái Geluppas thường được gọi là phái Mũ
Vàng.
Trong
chùa có một tấm bích họa bánh xe pháp luân khổng lồ, sự
phức tạp và màu sắc sặc sở tượng trưng cho sự rắc rối
lộn xộn củ đời sống luân hồi, con đường đưa đến
đời sống giải thoát và hình ảnh thuyết pháp, giảng đạo...
Bức họa là cả một công trình khoa học, bố cục và họa
theo phương pháp hình học rất phân minh, rỏ ràng và đày
đủ ý nghĩa thâm sâu của nó.
Ðể
diễn tả tam độc là tham, sân si, ở trong trục bánh xe có
vẽ một con gà, một con rắng và một con heo. Ba con vật nầy
cắn đuôi của nhau làm thành một vòng tròn liên tục.
Ðể
diển tả cái nghiệp (karma), vòng tròn xung quanh trục chia làm
hai phần đen và trắng. Ðen tượng trưng cho ác nghiệp và
trắng tượng trưng cho những điều thiện...
Ðể
diễn tả 12 nhân duyên, vành bánh xe chia làm 12 đoạn như sau:
Một người đàn bà mù tượng trưng cho Vô Minh (avijja). Người
đang nhồi đất sét tượng trưng cho Hành (samkhara). Con vượn
đang cầm cái ghế, cái chậu chỉ cho Thức (Vijnana). Người
đang ở trong một chiếc thuyền chỉ cho Danh Sắc (namarupa).
Một cái nhà với 6 cửa sổ tượng trưng cho Lục Nhập (salayatana).
Ðôi trai gái ôm nhau chỉ cho Xúc (phasso). Một người đang
rút mũi tên ra đâm vào mắt chỉ cho Thọ (vedana). Một người
nghiện rượu liên miên chỉ cho Ái (tanha). Một con khỉ đang
hái trái cây chỉ cho Thủ (upadana). Hửu (bhava)... Sanh (jati)
là một hình ảnh đang hành dâm. Một người già đang đi khòm
chống gậy là lão (jara) và một số người đang khiêng thây
ma chết đi chôn chỉ cho Tử (marana), cũng vừa là diễn tả
cho sự tiếp nối của đời sau trong sự chuyễn nghiệp.
Ngoài
ra còn có hình ảnh một con quái vật rùng rợn (chỉ cho ma
vương), đang cắn chặt toàn thể bánh xe trong răng và cho quay
tròn bánh xe bằng 2 chân và 2 tay của nó.
Hình
ảnh cuối cùng là Ðức Phật Thích Ca đang đứng thẳng, cao
xa, ở góc bên trái, phía mặt đưa tay chỉ ma vương và bánh
xe đó.(12)
Những
hình ảnh kể trên cho ta những ấn tượng sâu xa về kiếp
sinh tử luân hồi, sự trầm luân đọa lạc, khiến chúng ta
nhàm chán ghê sợ mà dũng mãnh phát tâm cầu giải thoát khỏ
vòng sinh tử luân hồi.
5-Việt
Nam Phật Quốc Tự
Chùa
Việt Nam có tên là Việt Nam Phật Quốc Tự .
Chùa
được thành lập trong một khu đất rộng chừng hai mẫu tây,
cách Thánh Tích chừng 15 phút đi bộ. Bắt đầu xây cất từ
năm 1987, đến tháng 12-1988 đã xây xong một pháp xá 3 tầng,
chiều dài độ 50 thước tây, có 30 phòng đôi dành cho khách
hành hương nào muốn trú ngụ trong thời gian chiêm bái Thánh
Tích. Phòng có đủ tiện nghi hiện đại như khách sạn cở
trung tại New Delhi. Chùa đang vận đông xây chánh điện, thư
viện, tượng Ðức Quan Âm lộ thiên...
Trên
đây là một công trình Phật sự lớn lao không phải do chư
Tăng Ni đứng ra chủ xướng mà là do một số Phật Tử đứng
ra đảm trách công việc. Trong đó phải kể là công lao của
giáo sư Tiến Sĩ Lâm Trung Quốc (tức thầy Huyền Diệu). Nếu
ai có dịp tham quan Phật Tích nầy xin đừng quên ngôi chùa
Việt Nam trên đất Phật ấy.
Như
chúng ta đã biết sau khi Ðức Phật thành bậc chánh đẵng
chánh giác tại cây Bồ Ðề nơi Bồ Ðề Ðạo Tràng, Ngài
đến vườn Lộc Uyển thuyết pháp lần đầu tiên để độ
5 anh em Kiều Trần Như.
Dưới
đây xin tóm lược bài pháp đầu tiên Ðức Phật đã giảng
tại vườn Lộc Uyển.
6-Bài
Kinh đầu tiên : Kinh Chuyễn Pháp Luân (Dharmmacakkapavattana Sutta)
Từ
Bồ Ðề Ðạo Tràng đến vườn Lộc Uyển (Miga Daya) thuộc
thành Ba La Nại (Bénarès xưa gọi là Vârânasi), đọan đường
dài trên 300 cây số mà Ðức Phật đã thân hành đến đây
vì 5 vị đồng tu ngày trước mà thuyết pháp độ họ.
Ðức
Thế Tôn đã gọi 5 anh em Kiều Trần Như dạy rằng: ''Này
các tỳ kheo có hai điều thái quá, người xuất gia không nên
theo. Một là mê đắm sắc dục, hạ liệt phàm phu, không xứng
thánh hạnh, không thiệt lợi Ðạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ
đau, không xứng thánh hạnh, không thiệt lợi Ðạo. Chính
nhờ từ bỏ hai điều thái quá nầy Như Lai giác ngộ con đường
trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn trí tuệ đưa lại
an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết Bàn...''(13)
Con
đường trung đạo Ðức Như Lai đã thuyết giảng đó là Bát
Chánh Ðạo (ariyoatthangikomaggo):
Chánh
Tri Kiến (samma-ditthi)
Chánh
Tư Duy (samma-sankappa)
Chánh
Ngữ (samma-mavaca)
Chánh
nghiệp (samma-kammanta)
Chánh
Mạng (samma-vajiva)
Chánh
Tinh Tấn (samma-vayama)
Chánh
Niệm (samma-sati)
Chánh
định (samma-samadhi) .
Ðức
Phật đã giảng pháp Tứ Diệu Ðế (aryasacca) :
Khổ
(duhkha-aryasatya)
Tập
(samudya)
Diệt
(nirdha)
Ðạo
(marga), như sau :
Khổ
Ðế là gì ? Tức là những hình tướng của sự khổ não
: '' Sanh là khổ, già là khổ , bệnh là khổ, chết là khổ,
oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt ly là khổ, cầu không
được là khổ, tóm lại 5 Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) chấp thủ là khổ .''
Kế
đến Tập Ðế là gì ? Tức là những nguyên nhân đưa đến
sự khổ. Ðức Phật dạy: ''Chính là Ái đưa đến Hửu, tương
ứng với hỷ và tham,tìm cầu hoan lạc chổ nầy chổ kia,
chính là dục ái , sanh ái, vô sanh ái ''.
Diệt
Ðế là gì ? ''Chính là sự diệt tận, vô dục,từ bỏ, xã
ly, giải thoát, tự tại đối với các ái ''.
Ðức
Phật dạy chúng ta hãy diệt tận những nguyên nhân đưa đến
khổ não ràng buộc
khiến
cho tâm trí ta bị vô minh che lấp, ánh sáng trí tuệ không
thể tỏa sáng được ...
Phương
pháp diệt tận gốc rễ của sự khổ não đó là Ðạo Ðế
. Ðạo Ðế đây tức là Con Ðường Thánh Tám Ngành, còn gọi
là con đường hay phương pháp hướng dẫn chúng ta diệt trừ
những sự khổ và nguyên nhân đưa đến khổ não nói trên.
Ðó
là Bát Chánh Ðạo : Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ,
Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh
Ðịnh.
Ðây
là những pháp mà từ trước đến nay chưa có ai giảng thuyết
cả.
Sau
khi Ðức Như Lai thuyết pháp như vậy, 5 vị tỳ kheo hoan hỷ
tán thán lời Ðức Thế Tôn. Ðức Kondanna (Kiều Trần Như)
chứng được pháp nhãn thanh tịnh, không cấu nhiễm và chứng
ngộ rằng: ''Các pháp do Tập sinh đều là những pháp phải
bị diệt.''(14)
7-Nỗi
nhớ
Vừa
chiêm bái một vòng quanh Thánh Tích và suy niệm xong bài Kinh
Thứ Nhất, giờ nầy trong tâm tư tôi vẫn còn nghe văng vẵn
những lời vàng ngọc Ðức Từ Phụ đã giảng dạy.
Ôi
! lành thay ! Lưu luyến mãi cây Bồ Ðề mấy ngàn năm vẫn
ngày càng tỏa rộng cành lá xanh tươi hiền hòa để che mát
cho con người.
Ôi
! Lưu luyến ngôi đại tháp, cảnh vật hiền hòa thanh tịnh
và những ngôi chùa, những ngôi chùa triều mến thân thương:
Từ
năm tôi đến chùa nầy
Lòng
như đã đến cõi ngoài trần gian
Câu
Kinh như những tiếng lòng
Cỏ
hoa là bạn tâm đồng trời mây...
Như
Tạng (15)
Ghi
Chú :
(1)
Tự Ðiển Bách Khoa ''The World'' , Volume 10, năm 1995
(2)
, (7), (11), (13) HTT Minh Châu ''Ðường Về Xứ Phật'', 1964
(3)
Ðoàn Trung Còn ''Phật Học Từ Ðiển'', 1966
(4),
(5), (6), (12) TTT Như Ðiển ''Lòng Từ Ðức Phật'' 1989
(8)
James Legge ''Ký Sự Fa-hsien''
(9)
Beel ''Hiuen Tsiang'' tập 11
(10)
Alexander Cunningham ''Maha Boddhi''
(14)
Tuệ Giác ''Việt Nam Phật Giáo Tranh Ðấu Sử'', 1964
(15)
Như Tạng, truyện thơ 'Con Ðường Cảm Thông'', (đoạn 69),
1996