TỰA
- Muôn
sự muôn vật từ đâu đến và sẽ đi về đâu?
- Muôn
sự muôn vật là gì mà lại từ đâu đến rồi sẽ đi về
đâu?
- Kia
sông nọ núi, dây người đó vật, kìa nhà kìa xe v.v... đó
không phải là muôn sự muôn vật sao?
- Ðâu
phải. Hãy theo dõi cuộc đàm đạo giữa vua Di lan đà và Tỳ
kheo Na tiên thử xem (Vua Di lan đà người gốc Hy lạp, một
bộ tướng của Á lịch sơn đại [Alexander 356-323 trước Tây
lịch], cai trị vùng Tây Bắc ấn, tại thượng lưu Ngũ Hà,
khoảng giữa thế kỷ thứ hai, ba trước Tây lịch).
Một
hôm vua đến chùa San khê đa (Sankheyya) thăm, gặp Tỳ kheo Na
tiên, tọa chủ chùa này. Vua hỏi:
- Bạch
Ðại đức, qúy danh là gì?
- Người
ta gọi bần tăng là Na tiên. Các pháp hữu của bần Tăng cũng
gọi bần Tăng là Na tiên. Nhưng đó là tên suông, đặt ra
để phân biệt người nọ với người kia mà thôi, chứ trong
cái tên đó không hề có cái "ta" hay cái "của ta".
Vua
ngạc nhiên liền phân bua với người chung quanh:
- Các
vị hãy ghi nhớ lời của Ðại đức Na tiên vừa nói. Ngài
nói không có cái ta trong cái tên Na tiên, có tin được chăng?
Phân
bua xong, vua hỏi tiếp:
- Bạch
Ðại đức, nếu không có cái "ta" trong đó thì khi thí chủ
cúng dường y bát, vật thực v.v... ai thâu nhận? Ai bảo tồn
luân lý, đạo nghĩa? Ai tham Thiền nhập định? Ai hành đạo
nhập Niết bàn? Ai giữ giới? Ai phạm giới" Ai tạo nghiệp?
Ai chịu quả? Nếu có kẻ giết Ðại đức cũng không phạm
tội sát sanh ư? V.v... Trẫm chưa rõ, mong Ðại đức giải
cho. Thưa Ðại đức, đã nghe rõ chưa?
- Tâu
Ðại vương, đã nghe rõ.
- Người
nghe đó không phải là Na tiên sao? Vua hỏi.
- Không
phải. Na tiên đáp.
- Thế
thì ai là Na tiên? Tóc trên đầu ngài đó không phải là Na
tiên?
- Không
phải.
- Mặt,
mày, da, thịt ngài đó không phải là Na tiên?
- Không
phải.
- Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý ngài đó không phải là Na tiên?
- Không
phải.
- Tất
cả các thứ ấy gom lại không phải là Na tiên?
- Không
phải.
- Hay
ngoài các thứ ấy là Na tiên?
- Không
phải?
- Thế
sao đoạn trước Ðại đức bảo với trẫm rằng người ta
gọi Ðại đức là Na tiên, như thế là Ðại đức đã nói
dối?
- Ðại
đức Na tiên chậm rãi tâu:
- Tâu
Ðại vương! Chẳng hay Ðại vương đến đây bằng đi bộ
hay bằng xe?
- Trẫm
đến bằng xe, chỉ khi tiến vào đây, trẫm mới đi bộ.
Nghe
xong Ðại đức Na tiên liền phân bua với người xung quanh,
xin các vị nhớ cho, Bệ hạ nói Bệ hạ đến đây bằng xe,
có thể tin được không? Phân bua xong, Ðại đức Na tiên hỏi
tiếp:
- Tâu
Ðại vương, Ðại vương bảo rằng ngài ngự đến bằng xe,
đó là ngài nói thật chứ?
- Trẫm
nói thật.
- Vậy
xin cho bần Tăng biết rõ xe của Bệ hạ.
- Gọng
có phải là xe không?
- Không
phải.
- Trục
có phải là xe không?
- Không
phải.
- Bánh
có phải là xe không?
- Không
phải.
- Căm,
thùng, ách, dây cầm, có phải là xe không?
- Không
phải.
- Hay
các thứ ấy gom lại là xe chăng?
- Không
phải.
- Hay
ngoài các thứ ấy, còn có một thứ đặc biệt không dính
gì các thứ ấy, gọi là xe?
- Không
phải.
Ðại
đức dừng giây lát rồi tâu:
- Nãy
giờ bần Tăng đã gạn hỏi tường tận các thứ, Bệ hạ
đều trả lời là không phải xe. Như vậy sao vừa rồi Ðại
vương nói với bần Tăng là Ðại vương đến bằng xe. Ðiều
đó tưởng đáng ngờ vực lắm! Xin qúi vị xung quanh hãy làm
chứng cho.
Qua
câu chuyện đàm đạo thâm thúy, sống động, thú vị đó,
đủ để thấy rằng Na tiên chỉ là tên suông, chứ không
có Na tiên thật; xe cũng là cái tên suông, chứ không có xe
thật. Na tiên như vậy, xe như vậy, thì núi, sông, cây, cỏ,
người, vật cũng đều như thế. Chúng đều là giả tướng
hiện hữu giữa các mối tương quan tương duyên, chứ không
thật có.
Ðã
không thật có thì còn lý do gì để hỏi, nó có từ đâu
và sẽ đi về đâu, có từ bao giờ, và bao giờ tiêu mất.
Ai lại ngớ ngẩn đi tìm cho ra một Na tiên không thật, một
chiếc xe không thật, coi thử có từ đâu và đi về đâu?
Thế
nhưng tại sao ta vẫn thấy xe, thấy người, vẫn thấy có
mọi sự tác dụng?
Ðó
là do thức biến. Các duyên hợp lại là các duyên hợp lại
chứ sao lại thành xe, thành người, thành núi, sông, cây cỏ,
thành cực vi v.v...? Các duyên không phải xe, cớ sao hợp lại,
lại thành xe; các duyên không phải người, cớ sao hợp lại
thành người? Những cái không phải xe hợp lại thành xe, những
cái không phải người hợp lại thành người. Vậy các hòn
đá hợp lại sao không thành cơm?
Vả
lại khi những thứ không phải xe hợp lại, sao không gọi
đó là phi xe mà lại gọi là xe? Những thứ không phải người
hợp lại, sao không gọi đó là phi người mà lại gọi là
người? Dù nói thị hay nói phi đều không đúng. Vì có thị
xe mới có phi xe, có thị người mới có phi người, chứ thị
xe tìm đã không thấy, thì làm sao có phi xe, thị người tìm
đã không ra thì làm sao có phi người? Vậy thị hay phi đều
do thức biến. Na tiên là thức biến, xe là thức biến, núi,
sông, người, vật v.v... là thức biến. Lìa ngoài thức thì
không một tướng gì hiện hữu, cho nên kinh nói: "Vạn pháp
duy thức"; và đã là thức biến, thì Na tiên chỉ là thức,
xe chỉ là thức, núi, sông, người, vật chỉ là thức. Tất
cả chỉ là thức. Ðều chỉ là thức thì bình đẳng dung
thông, không trong không ngoài, không xưa không nay, không lớn
không nhỏ v.v... Như Cổ đức nói:" Vô biên cát hải tự tha
bất cách ư mao đoan, thập thể cổ kim thủy chung bất ly ư
đương niệm" (muôn vàn thế giới cùng ở trên đầu mãy lông,
ức kiếp xưa nay không lìa ngoài một niệm).
Nhưng
biến thức có hai cách:
1.
Nhân duyên biến – có đủ nhân duyên mới hiện hữu, như
sợi dây hiện hữu được do có duyên gai kế hợp lại, có
tướng có dụng, chứ không phải như lông rùa, sừng thỏ.
Mọi hiện hữu trong thế gian cũng vậy, do thức phân biệt
danh tướng, sắc, tâm, huân tập vào Tạng thức nhiều đời
nhiều kiếp thành chủng tử (tập khí, thói quen) cố hữu,
nên khi thức móng khởi thì liền hiện ra đủ các tướng
đúng như khi được huân tập vào Tạng thức, và trong đó
tự phân biệt ra Kiến phần có năng lực nhận biết và Tướng
phần là đối tượng của nhận biết. Kiến, Tướng phần
như vậy là nhân duyên biến. Ở đây, tất cả chỉ có thấy
và bị thấy, biết và bị biết, chứ không gì khác. Không
có gì là núi, sông, người, vật. Ðó là nhân duyên biến.
2.
Phân biệt biến - tức nhũng điều do vọng tình phân biệt
biến ra, hoàn toàn chủ quan ảo tưởng, như đi đạp nhằm
sợi dây tưởng lầm là con rắn, hoặc như người bị bịnh
cuồng loạn thấy cảnh giới thay đổi khác với ngày thường.
Cũng như thế, Kiến phần biết và Tướng phần bị biết
nói trên không phải là ngã và pháp; người và vật, nhưng
tâm phàm phu phân biệt sai lầm cho đo là ngã và pháp, là người
và vật. Nếu tướng ngã pháp này được huân tập mãi vào
Tạng thức thành chủng tử có sẵn, thì khi thức móng khởi
lên liền thấy ngã pháp.
Những
gì do phân biệt biến thì dễ thay đổi, loại bỏ, những
gì nhân duyên biến thì khó thay đổi loại bỏ. Và những
gì do tâm thức riêng của mỗi người biến ra, gọi là biệt
biến, thì dễ thay đổi; còn những gì do nhiều tâm thức
của nhiều hữu tình chung biến ra, gọi là cọng biến, thì
khó thay đổi.
Tất
cả mọi tướng mà ta gọi là hiện hữu, đều là tướng
hiện hữu của thức theo hai cách đó biến ra. Ðó là Duy thức
biến. Nói Duy thức biến cũng đồng nghĩa với nói " y thức
biến". Như câu tụng thứ ba trong luận này nói: "Bỉ y thức
sở biến", tức các pháp kia nương thức biến ra, hay nương
thức khởi lên.
Hết
thảy không tự hiện hữu mà chỉ hiện hữu giữa các mối
quan hệ, giữa các duyên, theo Tánh Không thì gọi đó là Duyên
khởi hay Duyên sanh, theo Pháp Tướng Duy Thức tông thì gọi
đó là "y tha khởi". Duy thức biến, y thức biến cũng tức
y thức khởi. Nói y tha là nương cái khác, cái khác là phiếm
chỉ, còn nói y thức là chỉ đó tức là thức, chỉ định
cụ thể. Thức là một trong những cái duyên cho các hiện
hữu, nhưng thức là cái duyên đặc biệt, rõ rệt bao quát
hơn cả, cho nên ở đây không nói y tha khởi chung chung mà
nói thẳng "y thức biến, y thức khởi", hay "A lại gia duyên
khởi".
Nói
y thức biến còn có tác dụng đặc biệt là đối trị cái
bịnh vọng ngoại tha hóa, để xoay nhìn lại mình, thấy lại
mình vốn là chủ nhân ông của mọi hiện hữu, như thấy
lại bản lai diên mục. Từ đó chuyển bỏ dần lối thấy
biết sai lầm gây đau khổ, thành cái Trí tuệ Bát nhã, trí
Ðại viên cảnh, xây dựng cảnh giới an vui tự tại.
Ðạo
lý Duy tâm, Duy thức này được nói nhiều trong các kinh. Vì
đạo Phật là đạo chú trọng chữ tâm, lấy tâm truyền tâm,
tâm là gốc của mê ngộ, như kinh Pháp Cú nói: "Tâm là chủ,
tâm dẫn đầu các pháp, tâm tạo tác, nói hay làm với tâm
ô nhiễm thì sự khổ sẽ kéo đến như bánh xe lăn theo chân
con vật kéo..." Hoặc như kinh Hoa Nghiêm nói" Nhất thiết duy
tâm tạo". Kinh Lăng già nói: "Do tự tâm chấp trước, tâm
hiện tợ cảnh bên ngoài, cảnh được thấy đó chẳng phải
có thật, thế nên nói Duy tâm". Kinh Giải Thâm mật nói: "
Cảnh sở duyên của các thức, đều do các thức hiện" và
biết bao chữ tâm chữ thức, như chữ thức duyên danh sắc,
A lại gia, thức thực v.v... tham, sân. si, nhĩ thức v.v... trong
các kinh đều được diễn tả như là nguồn gốc của mọi
sự mọi vật.
Các
Bộ phái Phật giáo khai triển và hệ thống hoá các thứ tâm
ấy, rõ nét nhất là phái Hữu bộ hệ thống hoá thành 75
pháp, trong đó tâm là chủ yếu. Ðến Du già Sư Ðịa Luận
hệ thống hóa thành 200 pháp, đến Duy thức tông thì rút lại
còn 100 pháp, gom vào năm vị, trong đó Tâm thức là chủ.
Năm
vị 100 pháp là:
1.
Sắc là tướng của thức nhận biết, ngoài thức thì không
có tướng sắc.
2.
Tâm vương là tự thể của thức.
3.
Tâm sở là quyến thuộc, sở thuộc của thức.
4.
Bất tương ưng hành là cái bóng của Sắc, Tâm, Tâm sở hợp
lại.
5.
Vô vi pháp là thực tánh của thức.
100
pháp đều là thức, liên hệ với thức mới có đưọc.
Có
người ngờ rằng: Sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có,
khi ta chết rồi nó vẫn còn, thế sao gọi là thức biến?
hoặc như chiếc máy vi tính, khi khoa học chưa chế ra thì không
ai biết, khi khoa học chế ra rồi người ta mới biết, thế
sao gọi là thức biến?
Ðâu
biết rằng sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta
chết rồi nó vẫn còn, vậy nó là có với ai? Còn với ai?
Ai biết nó có? ai biết nó còn? Nếu khi ta đang sống trong
hiện tại mà biết được núi sông khi ta chưa sanh hay sau khi
ta chết, thì đó là cái biết theo tưởng tượng, mà tưởng
tượng thì đâu phải ngoại thức.
Vả
lại núi kia sông nọ là có, máy vi tính là có, cái có đó
có giống cái có của Na tiên dưới mắt vua Di lan đà, hay
cái có của chiếc xe dưới mắt Na tiên không? Nếu cái có
đó cũng giống cái có của Na tiên dưới mắt vua Di lan đà,
cái có của chiếc xe dưới mắt Na tiên, thì đều là cái
có do thức biến.
Không
phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà
thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy,
là thức biến.
Ðể
xiển dương đạo lý Duy thức một cách hệ thống chặt chẽ,
đầu thế kỷ thứ năm Tây lịch, Bồ tát Thiên Thân (Vasubandhu)
đã dựa các kinh Ðại thừa A tỳ đạt ma, Nhập Lăng Già,
Giải Thâm Mật, nhất là luận Du già Sư Ðịa, Hiển Dương
Thánh Giáo, Nhiếp Ðại Thừa, Biện Trung Biên v.v... mà viết
ra 30 bài tụng ngắn gọn, nhưng nội dung hết sức phong phú.
Có thể chia làm bốn phần sau đây:
- Phần
đầu – Phá chấp ngã pháp, tức thuộc Biến kế sở chấp
tánh.
- Phần
hai - Giảng kỹ về Duy thức tướng, tức thuộc Y tha khởi
tánh.
- Phần
ba - Giảng về ba Vô tánh, tức Duy thức tánh, thuộc Viên thành
thật tánh.
- Phần
bốn - Giảng về sự tu chứng qua năm hạnh vị.
Hoặc
theo xưa có nhiều cách chia, như: Trong ba mươi bài tụng, hai
mươi bốn bài đầu nói về Tướng Duy thức, bài thứ hai
mươi lăm nói về Tánh Duy thức, năm bài cuối cùng nói Hạnh
vị tu chứng Duy thức.
Trong
hai mươi bốn bài đầu; một bài rưỡi đầu lược nói Tướng
Duy thức, hai mươi hai bài rưỡi sau nói rộng về Tướng Duy
thức.
Ba
tự tánh; Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thật
có ý nghĩa không khác gì ý nghĩa "không, giả, trung" trong bài
tụng ở Trung luận:" Nhân duyên sở danh pháp, ngã thuyết tức
thị không, thị danh vi giả danh, diệc danh Trung đạo nghĩa".
Biển kế sở chấp ngã pháp, là "không", Tâm, Tâm sở và Kiến
tướng phần Y tha khởi huyễn sự là "giả", Viên thành thật
tức chơn như là "trung".
Ngài
Long Thọ đứng trên chơn không vô tướng, Viên thành thật
tánh mà phá Biển kế chấp. Ngài Thế Thân đứng trên Duy
thức Y tha khởi để phá Biển kế chấp. Hai phương thuốc
cùng chữa một bịnh, bịnh ảo tưởng về thật ngã, thật
pháp.
Luận
sư Thanh Biện vì phá vọng tình chấp có, cho nên nói hết
thảy pháp đều không. Luận sư Hộ pháp, vì phá vọng tình
chấp không, cho nên nói hết thảy pháp Duy thức huyễn có.
Nói không để phá có, nói có để phá không, đều cùng mục
đích đưa tri kiến người ta tới chỗ ngộ nhập thật tướng
Trung đạo, lìa tứ cú tuyệt bách phi.
Nói
Duy thức không, nhưng ý không phải ngừng lại nơi không, nếu
ngừng lại nơi không thì thành ác thủ không. Nói Duy thức
có, nhưng ý không phải ngừng lại nơi Duy thức có, nếu ngừng
lại nơi Duy thức có, tức là pháp chấp. Như trong luận Thành
Duy thức này cuốn hai nói: "Nếu chấp Duy thức là thật có,
thì không khác gì chấp ngoại cảnh, cũng là pháp chấp".
Bồ
tát Thiên Thân viết xong 30 bài tụng Duy thức này vào lúc
cuối đời mình, chưa kịp giải thích. Sở dĩ có được sự
giải thích chi ly như ngày nay còn thấy được là do mười
vị Ðại luận sư nói nhau chú giải.
Trong
mười Ðại luận sư này, ngài Thân Thắng, Hỏa Biện là đồng
thời Thiên Thân, cách hơn 100 năm sau ngài Thiên Thân,
có tám Ðại luận sư là Ðức Huệ, An Huệ, Nan đà, Tịnh
Nguyệt, Thắng Hữu, Trần Na, Trí Nguyệt và đệ tử ngài
Trần Na là ngài Hộ Pháp, cùng nhau tiếp tục giải thích,
mỗi vị mười quyển, mười vị thành 100 quyển.
Ngài
Huyền Trang sau 16 năm du học Ấn Ðộ về Trung Hoa rút yếu
nghĩa của 100 quyển luận kia, dịch ra Hoa văn tóm gọn trong
mười quyển. Trong mười quyển này lý nghĩa chủ yếu là
của ngài Hộ Pháp, cho nên nói bộ Luận Thành Duy Thức mười
quyển này do Hộ Pháp v.v... tạo. Chính ngài Giới Hiền, chủ
trì trường Ðại học Phật giáo Na lan đà lúc ngài Huyền
Trang sang Ấn Ðộ học là đệ tử của ngài Hộ Pháp. Ngài
Giới Hiền đã truyền cho ngài Huyền Trang môn học Duy thức
này.
Nói
đến Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang thì đại đa số người
đều biết, hoặc biết qua tiểu sử, qua Tây Du Ký hay biết
qua phim Tây Du, Ðường Tam Tạng thỉnh kinh. Dù qua cách nào
người ta cũng thấy ngài là một bậc vĩ nhân hy hữu. Nhà
học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết về ngài như vầy: "Ðọc
xong tiểu sử của ông, ta mới thấy tấm gương của ông để
lại cho ta soi không có một chút vết. Các vĩ nhân khác, trừ
vài vị Thánh, còn có thể có chỗ cho ta không phục, còn ông
thì suốt đời thanh đạm, can đảm, cần cù, hiếu học, lễ
độ, khiêm tốn, trong sạch và hy sinh".
Ngài
không những là một Thánh Tăng, một Bồ tát trong Phật giáo,
mà còn là một nhà sử học, văn học, tâm lý học, triết
học v.v... mặt nào cũng vĩ đại.
Thế
nhưng có một điều ít người biết đến, đó là công trình
dịch thuật vô tiền khoáng hậu của ngài không kém chi cuộc
mạo hiểm đi thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu của ngài.
Thật
vậy, với Phạn văn khó như thế, Hoa văn khó như thế, đạo
lý khó như thế mà ngài đã dịch rất nhiều kinh sách Phật
hơn bất cứ ai.
Từ
Ấn Ðộ ngài mang về Trung Hoa 520 hòm gồm 657 bộ kinh Phật
bằng Phạn văn. Từ khi về nước cho đến khi gác bút quy
Tây, suốt 19 năm ròng âm thầm chuyên dịch, ngài đã dịch
được 75 bộ gồm 1335 cuốn, trong đó chủ yếu là kinh Ðại
Bát Nhã 600 cuốn, Ðại Tỳ bà sa luận 200 cuốn, Du già Sư
Ðịa Luận 100 cuốn, Cu xá Luận 30 cuốn, Hiển Dương Thánh
Giáo luận 20 cuốn, Thành Duy Thức Luận 10 cuốn v.v...
Giáo
lý Ðại thừa Phật giáo có ba hệ, một là hệ "Pháp Tánh
Không Tuệ" với các bộ kinh như Ðại Bát Nhã 600 cuốn v.v...
hai là hệ "Pháp Tướng Duy Thức" với các bộ luận Du già
Sư Ðịa 100 cuốn, Hiển Dương Thánh Giáo luận 20 cuốn, Thành
Duy Thức Luận 10 cuốn v.v... ba là hệ "Pháp Giới Viên Giác"
với các bộ kinh Viên Giác, Hoa nghiêm, Pháp Hoa, Niết bàn v.v...
Trong
ba hệ đó, ngài Huyền Trang đã dịch ra hết chín phần mười
các kinh luận thuộc hệ "Pháp Tánh Không Tuệ" và "Pháp Tướng
Duy Thức". Hai hệ giáo lý này tuy cách trình bày khác nhau rất
xa, nhưng cùng nhằm một chủ đích là phá ngã pháp chấp,
hiển bày Trung đạo thật tướng. Như luận Thành Duy Thức
này cuốn hai nói: "Các Tâm, Tâm sở, vì là pháp Y tha khởi,
nên cũng như huyễn sự, chẳng phải thật có. Vì khiến trừ
bịnh vọng chấp có thật cảnh lìa ngoài Tâm, Tâm sở nên
nói Duy có Thức. Nếu lại chấp Duy thức là thật có, thì
chẳng khác gì chấp ngoại cảnh, cũng là pháp chấp". Cuốn
bảy lại nói: "Trước đây nói các thức tướng sai biệt
là dựa theo lý thế tục (Tục đế) mà nói, chứ không phải
dựa Chơn thắng nghĩa (Chơn đế). Trong Chơn thắng nghĩa thì
tâm suy miệng nói đều bặt dứt". Như thế rõ ràng lý nghĩa
cuối cùng của hệ Bát nhã và hệ Du già có gì khác nhau đâu.
Chắc
hẳn đã thâm ngộ chỗ đó, nên ngài Huyền Trang đã dịch
cả kinh Ðại Bát nhã lẫn luận Du già một cách dung thông
tự tại, không vướng mắc thiên lệch, nặng bên này nhẹ
bên kia.
Thái
độ không thiên lệch này, ngài đã bộc lộ ngay khi còn học
tại Ấn Ðộ. Khi đó có luận sư Sư Tử Quang tôn Trung Quán
mà kích bác Du già, ngài đã hội thông cả Trung Quán và Du
già để viết ra bài luận Hội Tông 3000 bài tụng để phủ
chính lại bịnh thiên chấp không của Sư Tử Quang.
Bộ
luận Thành Duy Thức này là bộ luận Cương yếu của môn
Duy thức học, trình bày lý Duy thức theo luận pháp Nhân minh
với những từ ngữ mới lạ, giản ước, nghĩa lý khúc chiết,
ý kiến của các Luận sư đan xen chằng chịt, hỏi đáp không
phân ranh giới rõ ràng, có khi câu hỏi ẩn trong câu đáp,
dùng nhiều đại danh từ bỉ, thử, do dó thật khó lòng hiểu
cho chu đáo. Ðúng như lời tán thán của luận Duy thức xu
yếu: "Vạn tượng hàm ư nhất tự, thiên huấn giảng ư nhất
ngôn".
Tôi
dịch bộ luận Thành Duy Thức này, trước hết vì lòng ngưỡng
mộ chân dung ngài Huyền Trang, sau là để góp phần với các
vị đang nghiên cứu hoặc đang giảng dạy Duy thức có sách
cơ bản về Duy thức để tham khảo dễ dàng hơn. Luận Duy
Thức hay Câu xá có khả năng làm sáng nghĩa những câu Phật
dạy trong các kinh Nikaya, A hàm như câu: "Chúng sanh nương bốn
cách ăn mà tồn tại. Trong đó có "thức thực". Hay "Hành duyên
thức", hay "Thọ, Noãn, thức", vậy thức câu đó là thức
nào? Không đọc Thành Duy Thức tưởng khó nói cho rõ.
Dù
tôi đã để nhiều công phu vào bản dịch này, nhưng chắc
chắn không sao tránh khỏi còn nhiều sai sót. Hy vọng sau này
khi phát hiện ra được hoặc nhờ Thiện tri thức chỉ cho,
tôi sẽ điều chỉnh lại cho bản dịch được hoàn bị hơn.
Mùa An cư P.L. 2539 – 1995
THÍCH THIỆN SIÊU