NGHĨA
CHỮ THÀNH DUY THỨC
.
Duy Thức
là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y
thức sở biết).
Muôn
sự muôn vật không tự hiện hữu, chỉ hiện hữu khi đủ
duyên, chỉ hiện hữu giữa mối quan hệ, lớp này lớp khác
trùng trùng vô tận, một làm duyên cho tất cả, tất cả duy
một, tất cả làm duyên cho một, một duy tất cả. Do cái
này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này
không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt. Như
thế là duyên khởi, y tha khởi. Trong đó nếu nói duy thì cái
nào cũng duy được hết, duy sắc, duy hương, duy vô minh, duy
căn, duy trần v.v... như Cổ đức nói: "Nhất sắc nhất hương,
vô phi trung đạo". Ngài Thiên Thai Trí Giả nói: "Tùy niêm nhất
pháp, giai thị pháp giới". (Bất cứ đưa ra một pháp nào,
pháp đó đều là pháp giới muôn pháp).
Thức
là một trong hết thảy pháp, nhưng thức có năng lực đặc
biệt biết được cái khác và tự biết được mình, nó là
chủ lực ở ngay trong mỗi mỗi chúng sanh. Chính cái biết
này làm cho các pháp trong đồng nhất tính duyên khởi, vô
danh vô tướng, vô thỉ vô chung, vô trung vô biên ( không trong
không ngoài) nổi lên thiên hình vạn trạng, rồi mê muội
chạy theo giả tướng thiên hình vạn trạng đó mà đắm trước,
tạo nghiệp, buộc ràng theo nó, gây nên khổ đau.
Lại,
"Duy có nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; Thức
có nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm".
Nói
Duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người
ta hãy tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại cái năng lực
thiên biến vạn hóa ở ngay trong mình để gạn lọc nó, trau
dồi nó, sửa chữa nó phải biến hóa như thế nào để chỉ
đem lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ.
Ðến
khi đã chuyển được tám thức thành bốn trí, sáng suốt
hoàn toàn, lý trí nhất như, sắc tâm bất nhị, không còn
lấy sắc làm sắc, lấy tâm làm tâm, được tự tại không
còn vướng mắc, sợ hãi, thì bấy giờ không cần duy, không
cần thức, hay cần duy gì cũng được, vô ngại.
Lý
Duy thức tiềm ẩn trong lời Phật rải rác ở các kinh, Bồ
tát Thế Thân dùng lý đó viết thành luận, đó là do Lý thành
Giáo, nên gọi là Thành Duy thức. Ngược lại cũng chính do
luận của ngài Thế Thân mà lý Duy thức được phát huy thành
lập, đó là do Giáo thành Lý, nên gọi là Thành Duy thức.
Lại mười vị Ðại luận sư giải thích văn 30 bài tụng
Duy thức của ngài Thế Thân tạo thành bộ luận Duy thức.
Ðó là do Giáo thành Giáo, nên gọi là Thành Duy thức.
Thành
Duy thức cũng gọi là Tịnh Duy thức, vì bộ luận này giảng
giải rõ ràng rốt ráo đạo lý Duy thức.
Tam
Tạng Pháp Sư Huyền Trang sau khi du học Ấn Ðộ mang về Trung
Hoa (602 – 644), rút lấy lời giải của mười vị Ðại luận
sư dồn lại và dịch ra thành bộ luận Thành Duy Thức mười
cuốn, lưu truyền đến nay.
LUẬN
THÀNH DUY THỨC
Cúi
lạy Duy thức tánh,
Ðấng
thanh tịnh trọn, phần.
Tôi
nay giải lời ngài.
Vì
lợi lạc hữu tình. (1)
- Nay
tạo Luận này cốt để làm cho người mê muội và hiểu sai
lý "nhị không" (ngã không, pháp không) được trở lại hiểu
đúng, hiểu đúng để đoạn trừ hai trọng chướng. Do ngã
chấp, pháp chấp nên phát sinh đủ hai trọng chướng, nếu
chứng lý ngã không, pháp không thì trọng chướng kia liền
đoạn diệt. Chướng đoạn diệt vì để chứng được hai
vị thù thắng. Do đoạn diệt chướng phiền não là thứ làm
cho sanh tử tương tục mà chứng quả chơn giải thoát, do đoạn
diệt chướng sở tri là thứ làm ngăn ngại sự liễu giải
cảnh sở tri, mà chứng được quả Ðại Bồ đề.
Lại
vì khai thị cho người lầm chấp ngã, pháp thật có, mê lý
Duy thức, để khiến họ đạt ngộ lý Nhị không, biết đúng
như thực lý Duy thức.
- Lại
có người mê và lầm lý Duy thức, nên hoặc chấp ngoại cảnh
giống như thức chẳng phải không, hoặc chấp nội thức giống
như cảnh chẳng phải có, hoặc chấp các thức dụng thì khác
mà thể thì đồng, hoặc chấp lìa ngoài tâm, không riêng có
Tâm sở. Vì ngăn chận các thứ dị chấp như thế, khiến
họ hiểu đúng như thật lý Duy thức thâm diệu, cho nên tạo
Luận này. (2)
I.
LƯỢC NÊU TƯỚNG DUY THỨC (*)
Hỏi:
Nếu chỉ có Thức thì tại sao người thế gian và trong Thánh
giáo đều nói có ngã và pháp?
Tụng
đáp:
Do
giả nói ngã pháp,
Có
tướng ngã pháp chuyển,
Chúng
nương thức biến hiện,
Thức
Năng biến có ba,
Là
Dị thục, Tư lương,
Và
thức Liệu biệt cảnh.
Luận
rằng: Thế gian và Thánh giáo nói có ngã và pháp, chỉ là
do giả nói, chứ chẳng phải có thật tánh. Ngã nghĩa là chủ
tể, pháp nghĩa là qủy trì. hai thứ ấy đều có các tướng
chuyển biến hiện ra. Ngã có các tướng như là hữu tình,
mạng giả v.v... Dự lưu, Nhất lai v.v... Pháp có các tướng
như là Thật, Ðức, Nghiệp v.v.. Uẩn, Xứ, Giới v.v... Chuyển
nghĩa là tùy theo duyên thì thiết ra các tướng khác nhau.
Hỏi:
- Các tướng như thế nếu do giả thuyết, thì nương vào đâu
được thành giả thuyết?
Ðáp:
- Các tướng ngã pháp như thế đều nương vào sự chuyển
biến của thức mà giả thi thiết.
- Thức
nghĩa là liễu biết, nhận thức. Trong đây nói thức cũng
bao gồm cả Tâm sở, vì nó tương ưng nhau vậy.
- Biến
nghĩa là thức thể chuyển biến ra hai phần tương tợ là
Tướng phần và Kiến phần. Vì Tướng và Kiến đều nương
Tự chứng phần của thức mà khởi lên, rồi nương hai phần
Kiến, Tướng này mà thi thiết ngã và pháp. Ngã và pháp kia
lìa hai phần Kiến, Tướng này thì không có chỗ nương (tức
phân biệt giả).
Hoặc
lại do nội thức chuyển biến thành tợ ngoại cảnh, vì do
năng lực phân biệt huân tập về ngã pháp, nên khi các thức
sanh khởi liền biến thành ra tướng tợ ngã, tướng tợ pháp.
Tướng ngã pháp đó tuy ở nội thức, nhưng do phân biệt mà
hiện ra tương tợ như là cảnh ở bên ngoài (nhân duyên giả).
Các loại hữu tình từ vô thỉ đến nay, duyên theo tướng
tợ ngã tợ pháp đó, chấp cho là thật ngã, thật pháp. Như
người chiêm bao, do sức chiêm bao mà trên tâm họ hiện ra
các tướng tợ như là cảnh ở bên ngoài, rồi duyên theo đó
họ chấp cho là thật có ngoại cảnh.
Cái
thật ngã, thật pháp của kẻ ngu phu chấp trước này đều
không có thật có, nó chỉ tùy theo vọng tình mà bịa đặt
ra, cho nên nói nó là giả (phân biệt biến, phân biệt giả).
Nội thức biến ra tợ ngã tợ pháp, tuy có mà không phải
thật có tánh ngã pháp, nhưng tợ như là có ngã pháp hiện
ra, nên nói là giả (nhân duyên biến, nhân duyên giả).
Ngoại
cảnh theo vọng tình mà bịa đặt chứ chẳng phải có như
thức, còn nội thức chắc chắn nương nhân duyên sanh, nên
chẳng phải không như cảnh. Nhờ đó bèn ngăn được hai thứ
chấp là chấp tăng và chấp giảm (ngã pháp không mà chấp
cho là thật có, đó là chấp tăng. Nội thức có mà lại chấp
cho là không, đó là chấp giảm).
Cảnh
nương nội thức mà giả lập, cho nên nó chỉ có trên mặt
thế tục (Tục đế), còn thức là chỗ nương của giả cảnh,
nên nó cũng có trên mặt thắng nghĩa (lý rốt ráo). (3)
(*)
Các tiểu mục, các số thứ tự và các chữ "hỏi – đáp"
là do người dịch thêm vào.
II.
PHÁ CHẤP NGÃ
- Làm
sao biết được thật không có ngoại cảnh, chỉ có nội thức
sanh ra tợ như ngoại cảnh, nên không thể có thật ngã, thật
pháp?
- Thế
nào là không thể có thật ngã?
- Chấp
thật ngã lược có ba thứ:
1.
Chấp ngã thể thường hằng châu biến, lượng đồng với
hư không, tùy nơi tạo nghiệp mà thọ khổ, thọ vui.
2.
Chấp ngã thể tùy thường mà lượng thì bất định, tùy
theo thân lớn nhỏ mà nó có dãn ra hoặc rút lại.
3.
Chấp ngã thể thường nhưng rất vi tế như một cực vi, nó
thầm chuyển dịch trong thân, tạo tác sự nghiệp.
- Lối
chấp ngã thứ nhất ấy không đúng lý. Vì sao? Chấp ngã là
thường hằng châu biến, lượng đồng với hư không, thì
lý đáng ngã ấy không theo chân để chịu sự khổ vui. Lại
ngã là thường, là biến thì lý đáng ngã ấy không động
chuyển, như thế làm sao ngã ấy có thể theo thân tạo tác
các nghiệp?
Lại
cái ngã bị chấp đó là đồng hay là khác giữa các loài
hữu tình? Nếu nói đồng, thì khi một ngã của hữu tình
này làm, lý đáng tất cả ngã của các hữu tình khác đều
làm, khi một ngã thọ quả thì lý đáng tất cả ngã khác
đều thọ, khi ngã của hữu tình này được giải thoát, thì
lý đáng tất cả của ngã của các hữu tình khác đều được
giải thoát? Nếu vậy, thì mắc lỗi lớn. Còn nếu nói khác
thể, mà các ngã của các hữu tình lại cùng biến khắp,
thế thì thể của các ngã đó cũng lẫn lộn nhau. Lại khi
một ngã tác nghiệp, một ngã thọ quả, mà ngã đó vì cùng
với các ngã khác ở một chỗ không riêng biệt, thì lý đáng
phải gọi là tất cả ngã tác nghiệp, tất cả ngã thọ quả.
Nếu cho rằng tác nghiệp, thọ quả đều có sở thuộc riêng,
nên không mắc lỗi ấy thì lý cũng không đúng. Bởi vì ngã
thể của các hữu tình đã biến khắp, thời nghiệp, quả
và thân đã cùng với ngã thể của các hữu tình hợp làm
một, mà nếu tác nghiệp thọ quả chỉ thuộc ngã này, chẳng
phải thuộc ngã kia, thì cũng không đúng lý.
Khi
một ngã của hữu tình này giải thoát, tất cả ngã của
các hữu tình khác lý đáng đều được giải thoát, vì pháp
tu chứng hợp một với tất cả ngã vậy.
- Lối
chấp ngã thứ hai cũng phi lý. Vì sao? Vì chấp ngã thể là
thường trú. Ðã thường trú thì không có thể theo chân mà
có sự dãn ra và rút lại. Nếu nó đã có sự dãn ra và rút
lại thì nó không khác gió trong ống bể, không thể thường
trú được. Lại ngã đã theo thân thì ngã ấy có thể chia
chẻ như thân, như vậy làm sao có thể chấp ngã thể là một
được?
- Lối
chấp ngã thứ ba cũng phi lý. Vì sao? Vì lượng của ngã rất
nhỏ như một mảy vi trần, như thế thì làm sao ngã có thể
khiến cả thân to lớn chuyển động? Nếu nói ngã tuy nhỏ
nhưng tuần chuyển rất nhanh trong thân, giống như vòng lửa
quay, nên như tuồng nó chuyển động trong thân, thế thời
cái ngã đó chẳng phải một, chẳng phải thường, vì cái
gì có qua lại chyển động thì đều chẳng phải thường
nhất vậy.
- Lại
có ba thứ chấp ngã:
1.
Chấp ngã tức uẩn.
2.
Chấp ngã lìa uẩn.
3.
Chấp ngã chẳng phải tức chẳng phải lìa uẩn.
- Thứ
nhất, chấp ngã tức uẩn, không đúng lý. Vì ngã ấy nên
giống như uẩn, chẳng phải thường, nhất. Lại các sắc
trong thân chẳng phải là thật ngã, vì nó giống như các sắc
ngoài thân, có sự chất ngại.
Còn
Tâm, Tâm sở pháp cũng chẳng phải thật ngã, vì đợi có
các duyên, Tâm, Tâm sở mới phát sinh, nó không hằng thường
tương tục được.
Các
pháp Bất tương ưng hành, các sắc thuộc pháp xứ nhiếp khác,
cũng chảng phải thật ngã, vì nó giống như hư không, không
có tính giác tri (không giác tri thì đâu phải ngã).
- Thứ
hai, chấp ngã lìa uẩn, cũng không đúng lý. Vì ngã lìa uẩn
thì nó cũng như hư không, không có tác nghiệp và thọ quả.
- Thứ
ba, chấp ngã chẳng phải tức uẩn, chẳng phải lìa uẩn,
cũng không đúng lý. Vì cho rằng ngã nương uẩn mới lập,
chẳng phải tức uẩn lìa uẩn thì ngã đó giống như cái
bình (bình do dất làm ra, bình không là đất, cũng không lìa
đất mà có), chẳng phải là thật ngã. Lại đã không thể
nói ngã thuộc hữu vi hay vô vi (ngã tức là uẩn thì thuộc
hữu vi, ngã lìa uẩn thì thuộc vô vi. Ở đây ngã chẳng tức
năm uẩn chẳng phải lìa năm uẩn, tức không thể nói là
hữu vi hay vô vi), thì cũng không thể nói là ngã hay phi ngã.
Thế
nên, các lối chấp ngã trên không thành.
- Lại
các ngã thể được chấp cho là thật có đó, là nó có tư
lự hay không tư lự? Nếu ngã có tư lự thì vô thường, vì
không phải lúc nào cũng có tư lự. Nếu ngã không tư lự
thì giống như hư không, không thể tác nghiệp và thọ quả.
Cho nên lối chấp ngã đó không thành.
- Lại
các ngã thể được chấp cho là thật có đó, nó có tác dụng
hay không tác dụng? Nếu có tác dụng thì ngã giống như tay
chân, lẽ phải vô thường. Nếu không tác dụng thì ngã giống
như sừng thỏ, không phải là thật ngã. Thế nên chấp ngã
chẳng tức uẩn, chẳng lìa uẩn cũng không thành.
- Lại
các ngã thể được chấp cho có thật đó, nó có phải là
cảnh sở duyên của ngã kiến chăng? Nếu nó không là cảnh
sở duyên của ngã kiến thì các ông làn sao biết đó là thật
ngã? Nếu ngã là cảnh sở duyên của ngã kiến thì lẽ ra
ai có ngã kiến là người chẳng thuộc vào hạng người điên
đảo, vì họ biết đúng như thật (nếu có thật ngã, thì
người nào chấp có ngã, có ngã kiến, là người đó biết
đúng như thật, chứ không phải điên đảo). Nếu thế, thì
tại sao người chấp có ngã lại bị kẻ tin vào chỉ giáo
vô ngã chê bai và chỉ xưng tán người không chấp ngã rằng:
"Không chấp ngã thì có thể chứng Niết bàn, người chấp
ngã thì bị trầm luân sanh tử", chứ đâu có thể người
có tà kiến chấp ngã lại chứng Niết bàn, còn người chánh
kiến không chấp ngã lại bị trầm luân sanh tử!
- Lại
các ngã kiến không thể duyên thật ngã, vì nó đã có sở
duyên, giống như tâm duyên các pháp khác. Lại sở duyên của
ngã khiến nhất định không phải là thật ngã, vì nó là
sở duyên, như các pháp sắc, hương v.v... Thế nên ngã kiến
không duyên thật ngã, chỉ duyên các uẩn do nội thức biến
hiện, rồi tùy theo vọng tình so đo chấp trước này nọ.
(4)
III.
HAI THỨ NGÃ CHẤP
- Nhưng
tất cả ngã chấp lược có hai thứ:
1.
Câu sanh.
2.
Phân biệt.
- Ngã
chấp câu sanh là ngã chấp từ vô thỉ đến nay do sức hư
vọng huân tập bên trong tâm, nó cùng một lần sinh ra với
thân, chứ không đợi có tà giáo và tà phân biệt mới sinh,
mà là nhậm vận chuyển biến hiện khởi, nên gọi là Câu
sanh. Loại Câu sanh này có hai:
1.
Thường tương tục, tức thức thứ bảy duyên kiến phần
của thức thứ tám, khởi lên tướng kiến phần của thức
thứ tám ấy trên tự thức thứ bảy và chấp lấy tướng
đó làm thật ngã.
2.
Có gián đoạn, tức thức thứ sáu duyên vào tướng năm thủ
uẩn được biến hiện trên tự thức nó, hoặc duyên chung
cả năm thủ uẩn hoặc duyên riêng từng thủ uẩn, khởi lên
tướng dạng ấy trên tự thức, rồi chấp lấy tướng đó
làm thật ngã. hai thứ câu sanh ngã chấp này vi tế nên khó
đoạn trừ. Về sau trong giai đoạn tu đạo, thường thường
tu tập phép quán sanh không thù thắng (nhân vô ngã, ở tu đạo
vị quán lý sanh không sâu hơn ở kiến đạo vị, nên gọi
là thắng sanh không quán) một cách triệt để mới có thể
đoạn trừ được.
- Ngã
chấp phân biệt cũng do sức của duyên hiện tại bên ngoài,
nó chẳng cùng một lần sanh ra với thân, mà phải đợi có
tà giáo và tà phân biệt mới sanh khởi được, nên gọi là
phân biệt. Thứ ngã chấp phân biệt này chỉ có ở ý thức.
Ðây cũng có hai:
Một
là duyên tà giáo nói về tướng năm uẩn, rồi khởi lên tướng
ấy trên tự tâm và phân biệt so đo chấp lấy tướng đó
làm thật ngã. Hai là duyên tà giáo nói về tướng ngã, rồi
khởi tướng ấy trên tự tâm, và phân biệt so đo chấp lấy
tướng đó làm thật ngã.
Hai
thứ ngã chấp phân biệt này thô phù nên dễ đoạn trừ.
Trong lúc tu tướng kiến đạo, quán tất cả pháp là sanh không
chân như (nhân vô ngã), tức có thể đoạn trừ.
Tất
cả ngã chấp về năm thủ uẩn đã nêu trên, đối với thủ
uẩn bên ngoài tự tâm thì hoặc có, hoặc không, còn đối
với năm thủ uẩn khởi lên bên trong tự tâm thì đều có
(thủ uẩn bên ngoài tự tâm hoặc có, hoặc không, là như
chấp có thật ngã ngoài tâm, thì ngã thể đó hoàn toàn không
có, giống như lông rùa; còn chấp các thủ uẩn do nhân duyên,
y tha khởi làm ngã, thủ uẩn đó là thật có, song tâm duyên
không tới, vì nó là sơ sở duyên, nên cũng gọi là ngoài
tâm. Nghĩa thứ hai là như thức thứ bảy duyên thức thứ
tám, chấp làm ngã, thức thứ tám ở ngoài thức thứ bảy,
nó có thật, còn thức thứ sáu đối thức thứ tám thì không
duyên tới, tức là không. Nhưng bản chất thủ uẩn sơ sở
duyên thì hoặc có, hoặc không có thật; còn ảnh tượng tướng
phần thủ uẩn được biến ra trên tự thức để mà duyên
thì ảnh tượng ấy luôn luôn là có).
Thế
nên biết ngã chấp đều duyên theo tướng năm thủ uẩn vô
thường mà vọng chấp đó là ngã. Nhưng các tướng uẩn ấy
đều từ duyên sanh, chúng chỉ có một cách như huyễn, vì
so đo sai quấy chấp năm thủ uẩn đó là ngã, thì ngã đó
quyết định chẳng phải có thật. Cho nên Khế kinh nói: "Bí
sô nên biết, các thứ ngã kiến của hàng Sa môn, Bà la môn
trong thế gian, tất cả đều duyên theo tướng năm thủ uẩn
mà khởi ra". (5)
IV
GIẢI THÍCH VẤN NẠN
Hỏi:
- Nếu không có thật ngã làm sao có các việc nhớ, biết,
tụng, tập, ân, oán?
Ðáp:
- Thật ngã như các ông chấp, nó đã thường hằng không biến
đổi, thì lúc sau giống như lúc trước, các việc nhớ, biết,
tụng, tập, ân, oán chẳng thể nào có được. Hoặc lúc trước
giống như lúc sau, các việc nhớ, biết, tụng, tập, ân, oán
luôn luôn chẳng lúc nào không; vì sau với trước, ngã thể
không sai khác vậy. Nếu cho rằng ngã dụng trước sau biến
dịch chứ chẳng phải ngã thể, lý cũng không đúng. Vì dụng
không lìa thể, dụng nên phải thường như thể, thể không
lìa dụng, thể nên chẳng phải thường như dụng.
Nhưng
các hữu tình mỗi mỗi đều có bản thức thứ tám, trước
sau nhất loại tương tục, tự giữ gìn chủng tử, chủng
tử đó cùng với tất cả pháp hiện hành làm nhân cho nhau,
do sức huân tập đó mà có được các việc nhớ, biết v.v...
Do
thế, lời cật nạn của ông vừa rồi là có lỗi đối với
tông chỉ của ông, chứ không phải với tông chỉ của tôi.
Hỏi:
- Nếu không có thật ngã thì ai tạo nghiệp, ai chịu quả
báo?
Ðáp:
- Thật ngã như các ông chấp, nó đã không biến dịch như
hư không, thì làm sao nó có thể tạo nghiệp chịu quả báo?
Nếu ngã có biến dịch thì là vô thường (đâu phải thật
ngã).
Nhưng
các loài hữu tình, do sức nhân duyên của Tâm, Tâm sở tương
tục không gián đoạn, nên có việc tạo nghiệp và chịu quả
báo. Ðiều này đối với lý không trái.
Hỏi:
- Ngã nếu không có thì cái gì sanh tử luân hồi trong các
thú? Ai chán khổ để cầu chứng Niết bàn?
Ðáp:
- Thật ngã như các ông chấp, nó đã không sanh diệt, như
thế làm sao có thể nói nó sanh tử luân hồi. Ngã đã thường
như hư không, thì không bị khổ bức não, có gì phải chán
bỏ để cầu chứng Niết bàn. Cho nên lời ông nói chỉ làm
hại ông thôi.
Song
các loài hữu tình, thân tâm tiếp tục do phiền não nghiệp
lực, nên có sự luân hồi các thú và chán bỏ khổ để cầu
chứng Niết bàn.
Do
thế nên biết chắc chắn không có thật ngã, chỉ có các
thức, tù vô thỉ đến nay, trước diệt sau sanh, nhân quả
tiếp nối, do vọng tình huân tập, mà có tướng ngã tương
tợ hiện ra, kẻ ngu ở trong đó chấp quấy cho ngã là thật.
(6)
V.
PHÁ CHẤP PHÁP
- Thế
nào ở ngoài thức không có pháp thật?
- Vì
pháp ở bên ngoài thức như của ngoại đạo và các thừa
giáo khác chấp, đúng lý thì nó chẳng phải có.
- Pháp
của ngoại đạo chấp tại sao không có?
Phái
số luận chấp: "Ngã là tư", nó thọ dụng 24 pháp như Giác
đại v.v... Ba đức Tát đỏa, Lạt xà, Ðáp ma (dũng, trần,
ám, hay tham, sân, si) hợp lại tạo thành v.v... Nhưng pháp Giác
đại v.v... đó do ba sự gốc là Tát đỏa, Lạt xà, Ðáp ma
hợp thành, là thật chẳng phải giả, hiện lượng nắm bắt
được.
Lối
chấp kia phi lý. Vì sao? Vì các pháp Giác đại v.v... do ba sự
gốc như vậy hợp thành, thì nó giống như đạo quân hay đám
rừng, là giả chứ chẳng phải thật, làm sao có thể nói
pháp đó là hiện lượng nắm bắt được?
Lại
các pháp Giác đại v.v... nếu là thật có thì nó như ba sự
gốc ( là Tát đỏa, Lạt xà, Ðáp ma), chẳng phải do ba sự
gốc hợp thành. Lại Tát đỏa v.v... cũng chính là Giác đại
v.v... thì đáng lý nó cũng như Giác đại v.v... phải do ba
sự gốc hợp thành và cũng chuyển biến vô thường như Giác
đại.
Lại
ba sự gốc là Tát đỏa, Lạt xà, Ðáp ma, mỗi cái có nhiều
công năng, vậy thể nó cũng phải nhiều, vì công năng và
thể là một vậy. Lại ba thể đều đã biến khắp, thì khi
ở một chỗ chuyển biến thời các chỗ khác lẽ phải cũng
chuyển biến, vì thể không khác nhau vậy. Còn như ba sự ấy,
thể và tướng đều khác nhau, thế thì làm sao hòa hợp chung
thành một tướng? Vì không lẽ khi hòa hợp biến làm một
tướng, cùng với khi chưa hòa hợp, thể không khác nhau. Nếu
cho rằng ba sự đó, thể tuy khác mà tướng đồng, thì bèn
trái với tôn chỉ của ông chủ trương thể và tướng là
một. Thể nên như tướng, âm thầm là một; tướng nên như
thể, rõ rệt là ba. Cho nên không thể nói ba thể hợp thành
một tướng.
Lại
ba sự sai biệt, Giác đại v.v.. là tổng. Tổng và biệt chung
một, nên chẳng phải một, chẳng phải ba. Khi ba sự đó biến
chuyển nếu không hòa hợp thành một tướng, thì nên như
khi chưa biến chuyển, làm sao ta lại hiện thấy là một sắc
tướng v.v... ? Nếu ba sự hòa hợp thành một tướng, thì
là mất biệt tướng gốc và thể cũng phải theo đó mất
luôn.
Không
thể nói ba sự đều có hai tướng, là một tổng một biệt,
vì tổng tức là biệt, tổng cũng phải là ba, như thế làm
sao lại thấy một? Nếu cho rằng ba thể đều có ba tướng
hòa lẫn khó biết, nên thấy là một thì cũng không được;
vì đã có ba tướng thì đâu còn có thể thấy là một, lại
làm sao biết ba sự có khác?
Nếu
kia mỗi mỗi thể đều đủ ba tướng, thì nên mỗi mỗi sự
đều có thể thành được sắc, thanh v.v... chứ có thiếu
gì mà phải đợi ba sự hòa hợp. Và mỗi thể cũng nên có
ba tướng, vì thể tức là tướng vậy.
Lại
các pháp Giác đại v.v... đều do ba sự hợp thành, lần lượt
đối với nhau không có sai biệt, thế thời nhân quả, ngũ
duy lượng, ngũ đại, các căn mỗi mỗi đều không sai biệt.
Nếu không sai biệt thì một căn có thể nhận biết được
tất cả cảnh, hoặc một cảnh mà tất cả căn đều nhận
biết được, thể thời hiện thấy bằng hiện lượng, tỷ
lượng các vật tình phi tình, tịnh, uế trong thế gian, đều
không sai khác nhau. Như thế là có lỗi lớn.
Cho
nên biết thật pháp của phái Số luận kia chấp không thành,
nó chỉ do vọng tình so đo chấp cho là có thôi. (7)
Pháo
thắng luận chấp: "Các cú nghĩa như Thật, Ðức v.v... phần
nhiều là có thật và có tự tánh, hiện lượng nắm bắt
được".
- Lối
chấp này không đúng lý. Vì sao? Vì trong các cú nghĩa, những
cái có tính thưòng trú, nếu nó có thể sanh ra quả thì là
vô thường (tôn), vì nó có tác dụng (nhân) như qủa được
sanh (dụ). Nếu nó không sanh ra quả thì nó không thể lìa
thức có tự tánh thật, ví như sừng thỏ.
Lại
các cái vô thường, nếu có thể chất ngăn ngại thì là có
phương hướng và phần vị, nếu có phương hướng và phần
vị thì có thể phân tích, như đội quân, đám rừng, chẳng
phải có thật tánh. Nếu không chất ngại như Tâm, Tâm sở
thì nó không thể lìa Tâm, Tâm sở mà có thật tánh.
Lại
đất, nước, lửa, gió của phái Thắng luận kia chấp, chẳng
phải có chất ngại, nhiếp vào cú nghĩa thật (tôn), vì do
thân căn xúc chạm (nhân) ví như cứng, ướt, nóng, động
(dụ). Và chính cứng, ướt, nóng, động của phái Thắng luận
chấp, chẳng phải không chất ngại, nhiếp vào cú nghĩa "Ðức"
(tôn), vì do thân căn xúc chạm (nhân) ví như đất, nước,
lửa, gió (dụ). Ðất nước, lửa ba thứ như đối với màu
xanh v.v... đêu do mắt thấy, thì chuẩn theo lý lẽ đây mà
khiển trách. Thế nên biết không thật có tính, đất, nước,
lửa, gió cùng cứng, ướt v.v... riêng biệt, cũng không phải
mắt thấy đất, nước, lửa, gió thật.
Lại
phái Thắng luận kia chấp: "Trong thật cú nghĩa, những cái
có chất ngại và thường, đúng ra là vô thường (tôn), vì
đều có chất ngại (nhân), ví như đất thô (dụ) v.v... Trong
các cú nghĩa, những pháp không chất ngại, được sắc căn
nhận biết, đáng ra đều có chất ngại (tôn), vì họ cho
pháp đó do sắc căn nhận biết (nhân) ví như đất, nước,
lửa, gió (dụ).
Lại
phái Thắng luận kia chấp: năm cú nghĩa như Ðức, Nghiệp
v.v... không nhiếp vào thật cú, đúng lý nó chẳng phải lìa
ngoài thức mà có tánh riêng (tôn), vì nó không nhiếp vào
thật cú (nhân), ví như đứa con của người con gái đá (dụ).
Thật, Ðức cú v.v... chẳng nhiếp vào đại hữu tánh, thì
đúng lý nó chẳng phải lìa ngoài thức riêng có tự tánh
(tôn), vì nó chẳng nhiếp vào đại hữu tánh (nhân), ví như
hoa đốm giữa không (dụ).
Lại
đại hữu tánh của phái Thắng luận chấp: "Lìa ngoài Thật,
Ðức v.v... không riêng có tự tánh (tôn), vì họ cho rằng
đại hữu tánh chẳng phải không (nhân), ví như Thật, Ðức
(dụ). Nếu lìa Thật, Ðức v.v... thì chẳng phải là đại
hữu tánh (tôn), vì họ cho rằng đại hữu tánh khác với
Thật, Ðức, (nhân) v.v... ví như cái hoàn toàn không (dụ).
Như đại hữu tánh chẳng phải không, (tức có) không cần
riêng có hữu tánh để làm cho nó có, thế thì tại sao Thật,
Ðức v.v... lại cần riêng có hữu tánh để làm cho nó có?
Nếu lìa ngoài pháp không lại còn riêng có vô tánh. Nhưng
kia đã không thế thì sao đây lại thế? Cho nên biết đại
hữu tánh của phái Thắng luận kia chấp chỉ là do so đo hư
vọng.
Lại
phái Thắng luận kia chấp: "Tánh đồng dị của Thật, Ðức,
Nghiệp có riêng khác với thể Thật, Ðức, Nghiệp", lẽ đó
chắc chắn không đúng. Chớ nói tánh đồng dị đó cũng chẳng
phải là tánh đồng dị của Thật, Ðức, Nghiệp (tôn), vì
nó có thể riêng khác với thể của Thật (nhân), ví như Ðức,
Nghiệp (dụ).
Lại
lý đáng Thật, Ðức v.v... chẳng phải nhiếp vào Thật, Ðức
(tôn) v.v..., vì khác với tánh đồng dị của Thật, Ðức
(nhân) v.v..., ví như Ðức, Nghiệp và Thật (dụ).
Các
tánh đồng dị của đất, nước, lửa, gió đối với các
thể đất, nước, lửa, gió, qua lại cật nạn, chuẩn theo
đây nên biết. Như tánh đồng dị của Thật v.v... không riêng
có tánh đồng dị ngoài Thật v.v... để làm cho nó thành tánh
đồng dị, thì ngoài "Thật" v.v... cũng không nên riêng có
tánh đồng dị của Thật để làm cho Thật, Ðức, Nghiệp
thành đồng dị. Nếu lìa Thật riêng có tánh đồng dị của
Thật, thời lẽ ra lìa phi Thật nên riêng có tánh phi đồng
dị của phi Thật. Nhưng kia đã không thế, thì sao đây lại
thế? Cho nên biết "đồng dị tánh", chỉ là giả bịa đặt.
Lại
cú nghĩa "hoà hợp" của phái Thắng luận kia chấp chắc chắn
không phải thật có (tôn), vì nó nhiếp vào các pháp phi thật
v.v... (nhân), ví như cái hoàn toàn không (dụ).
Phái
Thắng luận kia cho rằng: "Thật v.v... do hiện lượng nhận
biết", lấy lý suy xét nó còn chẳng phải thật có, huống
chi cú nghĩa "hòa hợp" mà theo họ không phải hiện lượng
nhận biết, thì đâu lại có thể thật có? Giả sử cho cú
nghĩa hòa hợp là cảnh hiện lượng nhận biết, thì bởi
lý lẽ vừa nói, nó cũng chẳng phải thật có.
Nhưng
các cú nghĩa Thật v.v... kia chẳng phải là tự thể thật
có ở ngoài thức do hiện lượng nhận biết (tôn), vì họ
cho nó là cái bị biết (nhân), ví như lông rùa (dụ).
Lại
trí duyên "Thật cú" chẳng phải nhiếp vào trí hiện lượng
duyên tự thể thật cú ở ngoài thức (tôn), vì nó giả hòa
hợp sanh (nhân), ví như trí duyên "Ðức cú" (dụ) v.v... nói
rộng cho đến trí duyên "hòa hợp cú" cũng chẳng phải nhiếp
vào trí hiện lượng duyên tự thể "hòa hợp cú" ở ngoài
thức (tôn), vì nó giả hòa hợp sanh (nhân), ví như trí duyên
"Thật cú" (dụ).
Do
đó nên biết "Thật cú nghĩa v.v..." của phái Thắng luận
chấp cũng chỉ là theo vọng tình bịa đặt ra. (8)
- Lại
có người chấp có một "Ðại Tự Tại thiên có thật thể
biến khắp thường hằng, sanh ra vạn vật". Lối chấp kia
cũng phi lý. Vì sao? Vì nếu là cái gì năng sinh thì chắc chắn
cái đó là vô thường, các cái vô thường thì chắc chắn
không thể biến khắp, các cái không biến khắp thì không
phải thật hữu. Và cái gì thể đã là thường, biến khắp,
lại có đủ các công năng, thì đáng lý cái đó ở khắp
tất cả chỗ, tất cả lúc, và đồng loạt sanh ra tất cả
pháp. Còn nếu đợi có ý muốn và có duyên khác nó mới có
thể sanh, thì bị trái với Nhất nhân luận. Hoặc ý muốn
và duyên khác cũng nên đồng loạt khởi lên, vì thường có
vậy.
- Ngoài
ra, có người chấp có một "Phạm thiên", "thời gian", "phương
hướng", "bản tế", "tự nhiên", "hư không", "ngã" v.v... là
thường trú, là thật có, đủ các công năng, sanh ra tất cả
pháp. Những lối chấp ấy đều được phá bác giống như
đây.
- Có
người chấp "riêng thứ âm thanh" trong Ngũ minh luận (Vệ đà
luận") là thường, nó có thể làm định lượng để diễn
tả các pháp. Lại có người chấp "tất cả âm thanh đều
là thường", chỉ chờ gặp duyên mà phát hiện, mới có khả
năng diễn tả.
Hai
lối chấp âm thanh trên đều phi lý. Vì sao? Vì âm thanh trong
Ngũ minh luận có khả năng diễn tả, thì nó không phải thường
trú (tôn), vì cho nó có khả năng diễn tả (nhân), ví như
các âm thanh khác (dụ). Các âm thanh khác cũng chẳng phải
là thanh thể thường còn (tôn), vì phải chờ duyên mới có
(nhân), ví như cái bình, áo (dụ).
- Có
ngoại đạo chấp "cực ví của đất, nước, gió, lửa là
thật có, thường còn, có khả năng sanh ra thô sắc, các thô
sắc được sanh ra không vượt quá phạm vi của nhân, nên
các thô sắc ấy tuy là vô thường, mà có thể nó thật có".
Lối
chấp này cũng phi lý. Vì sao? Vì cực vi ấy nếu có phương
hướng, phần vị, ví như đàn kiến, thì thể nó chẳng phải
thật. Nếu không có phương hướng, phần vị, ví như Tâm,
Tâm sở, thì nó không thể tụ tập chung quanh sanh ra quả sắc
thô. Nếu nó đã sanh quả (nhân), thì nó cũng giống như quả
được sanh (dụ), làm sao có thể bảo cực vi là thường trú
(tôn)?
Lại
quả sắc được sanh, không vượt khỏi phạm vi của nhân
cực vi, thì nó cũng như cực vi, không gọi đó là sắc thô,
thời quả sắc này không phải các sắc căn như nhẫn v.v...
nhận biết, và thế là trái với chủ trương của mình. Nếu
bảo "quả sắc là do lượng và đức hợp lại, nên không
phải thô mà như là thô, sắc căn có thể nhận biết", song
quả sắc được chấp đó đã đồng với lượng của nhân
cực vi, thì nó như cực vi, không cùng với thô hợp được.
Hoặc bảo cực vi cùng với tính thô hợp, thì nó như quả
sắc thô, cùng ở chung một chỗ. Nếu bảo "quả sắc biến
khắp ở tự thể của nhân cực vi, vì nhân chẳng phải một,
nên có thể gọi là thô", nếu thế thời thể của quả sắc
chẳng phải là một. Như chỗ ở của nhân cực vi có riêng
khác vậy. Ðã vậy thì quả sắc này lại không thành thô
sắc, do đó cũng không phải sắc căn nhận biết được. Nếu
quả sắc có nhiều phần hợp lại nên thành thô, nhiều cực
vi nhân hợp lại thì chẳng phải là nhỏ, đủ trở thành
căn và cảnh, thì còn dùng quả sắc làm gì? Ðã lo nhiều
phần hợp thành, thì không phải thật có. Thế thời biết
lối chấp của ông trước sau trái nhau.
Lại
quả và nhân đều có chất ngại, thì không cùng ở trên một
vị trí nưu hai cực vi. Nếu bảo "quả "và nhân thể nhập
vào nhau như nước nhập vào cát, thuốc nhập vào nước đồng";
ai chấp nhận thể của cát và nước đồng thu nhận nước
và thuốc đâu! Hoặc nước thu nhận cát, thì thể của hạt
cát, đã biến đổi rời nhau, chẳng phải một, thường; nước
đồng thu nhận thuốc, thì thể nước đồng biến thành vàng,
chẳng phải còn là một, là thường.
Lại
quả sắc thô, thể nó nếu là một, thì khi thức biết được
một phần này là phải thấy được tất cả các phần khác;
vì kia, đây là một, thì kia hẳn phải như đây. Nếu ông
không chấp nhận như thế thì trái sự. Thế là điều người
kia chấp, tới lui đều bất thành. Ðó chỉ theo vọng tình
so đo chấp trước. (9)
Nhưng
các ngoại đạo chấp tuy có nhiều phẩm loại, song pháp thể
(hữu pháp) bị chấp không ngoài bốn thứ:
- Một
là chấp hữu pháp (chỉ Giác đại v.v... của Số luận) cùng
với tánh có (chỉ Minh tánh của Số luận) thể chỉ là một,
như phái Số luận chấp. Lói chấp này phi lý. Vì sao? Vì đừng
bảo hết thảy pháp chính là tánh có. Nếu hết thảy pháp
chính là tánh có, thì nó đều như tánh có, thể không sai
khác, bèn trái với ba đức (Tát đoả, Lạt xà, Ðáp ma) và
ngã, mỗi cái thể khác nhau (theo Số luận chấp) và trái với
thế gian hiện thấy các pháp có sai khác nhau. Lại nếu sắc
v.v... chính là tánh của sắc v.v... thì sắc không nên có xanh,
vàng khác nhau.
- Hai
là chấp hữu pháp (chỉ Thật, Ðức, Nghiệp của Thắng luận)
cùng với tánh có (chỉ Ðại hữu tánh của Thắng luận),
thể khác nhau, như phái Thắng luận chấp, Lối chấp này cũng
phi lý. Vì sao? Vì đừng bảo hết thảy pháp phải là phi tánh
có. Giống như vật đã diệt không còn gì để biết được,
là trái với "Thật cú" v.v... tự thể nó không phải không,
và cũng trái với thế gian hiện thấy có các vật. Lại nếu
sắc không phải tánh sắc, thì sắc nên như là tiếng, không
phải là cảnh của mắt thấy.
- Ba
là chấp hữu pháp cùng với tánh nó cũng một cũng khác, như
phái ngoại đạo Vô tâm chấp. Lối châp này cũng phi lý. Vì
sao? Vì nói một và khác đều bị lỗi như một và khác đã
nói trên kia. Hai tướng khác nhau, thì thể phải sai khác nhau.
Còn nếu một và khác đồng thể, đều không thành được.
Chớ có bảo hết thảy pháp cùng đồng một thể. Hoặc một
và khác chỉ là giả không phải thật mà chấp là thật, thì
lý không thành.
- Bốn
là hữu pháp cùng với tánh có chẳng một chẳng khác, như
phái ngoại đạo Tà mạng chấp. Lối chấp này cũng phi lý.
Vì sao? Vì chẳng một chẳng khác khác thì là đồng với một
và khác.
Lời
nói chẳng một chẳng khác là lời nói già hay biểu (phủ
định hay khẳng định). Nếu là biểu thì không nên nói phi
cả hai, còn nếu là già thì là không chấp chi hết. Còn cũng
già cũng biểu thì là bị trái lẫn nhau. Còn phi già phi biểu
thì thành hý luận. Lại nói chẳng một chẳng khác là trái
với sự hiểu biết chung của thế gian về các vật có một
có khác. Và cũng trái với chủ trương của mình (các pháp
sắc v.v... quyết định thật có".
Thế
nên biết lời nói của kia chỉ là lối quanh co chạy lỗi,
những người có trí, chớ lầm chấp nhận. (10)