VIII.
GIẢI RÕ TƯỚNG NHẤT THIẾT CHỦNG
- Nên
phân biệt rõ thêm về tướng Nhất thiết chủng.
Trong
đây pháp gì gọi là "Chủng tử"? – Nghĩa là công năng sai
biệt trong bản thức, chính nó đích thân sanh ra tự quả của
nó. Công năng này với bản thức và tự quả do nó sanh chẳng
phải một, chẳng phải khác, thể và dụng, nhân và quả,
đúng lý là như vậy. Tuy chẳng phải một, chẳng phải khác,
nhưng mà chủng tử là thật có, còn nếu là giả pháp thì
như pháp không, nó chẳng phải là nhân duyên của các pháp.
Hỏi:
- Chủng tử này cùng với các pháp đã chẳng phải một, chẳng
phải khác, thì nó giống như cái bình, là giả chứ không
phải thật (vì bình do đất tạo thành, đất và bình chẳng
phải một, chẳng phải khác).
Ðáp:
- Nếu nói vậy, chân như cùng các pháp cũng chẳng phải một,
chẳng phải khác, như thế thì chân như phải là giả. Nếu
chấp nhận chân như là giả, thì không có chân Thắng nghĩa
đế! Nhưng các chủng tử chỉ y theo lý thế tục mà nói nó
là thật có, song không đồng chân như (có theo Thắng nghĩa
đế).
Chủng
tử tuy nương thức thể thứ tám, nhưng là tướng phần của
thức này, chứ không phải là kiến phần, tự chứng phần
và kiến phần thường lấy chủng tử làm cảnh sở duyên.
Các
chủng tử hữu lậu cùng với thức Dị thục thể không khác
biệt, nên nhiếp vào tánh vô ký, nhưng nhân và quả của nó
đều có tánh thiện, ác vô ký nên cũng gọi chủng tử hữu
lậu là thiện, ác, vô ký. Còn các chủng tử vô lậu không
phải nhiếp vào cùng tánh Dị thục thức, vì nhân và quả
của vô lậu đều thuộc tánh thiện, nên chỉ gọi chủng
tử vô lậu là thiện.
Hỏi:
- Nếu vậy tại sao ở Quyết trạch phần thứ hai trong luận
Du già nói: Tất cả hai mươi hai căn đều có chủng tử Dị
thục, đều là Dị thục sanh? (Vì trong hai mươi căn, có ba
căn vô lậu).
Ðáp:
- Tuy nói ba căn vô lậu là Dị thục, mà chẳng phải là vô
ký, vì y nơi Dị thục mà gọi là chủng tử Dị thục. Chủng
tử vô lậu là thiện. Dị thục là vô ký, tuy khác tánh mà
phải nương nhau, như thức có đủ ba tánh mà nương vô ký
phát sanh, hoặc chủng tử vô lậu do sức huân tập chuyển
biến thành thục, mà gọi là Dị thục, nhưng không phải thứ
Dị thục nhiếp vào tánh vô ký.
Chủng
tử vốn có và chủng tử mới sanh.
- Trong
đây có thuyết cho rằng: "Tất cả chủng tử nhiễm tịnh
đều bản tánh vốn có, chứ không phải do huân tập mới
sanh. Do sức huân tập chỉ có thể làm cho nó tăng trưởng".
Như Khế kinh nói: "Hết thảy loài hữu tình từ vô thỉ lai
có chủng tử giới như chùm trái ác xoa, pháp nhĩ như vậy
vốn có". Giới nói đây là tên khác của chủng tử.
Lại
Khế kinh nói: "Giới từ vô thỉ lại làm chỗ nương cho hết
thảy pháp". Giới nói đây có nghĩa là nhân.
Luận
Du già cũng nói: "Thể của các chủng tử từ vô thỉ lai,
tánh tuy vốn có nhưng do nhiễm tịnh mới huân tập mà phát
hiện". "Các loài hữu tình từ vô thỉ lai, nếu ai có sẵn
pháp (đạo lý) Bát niết bàn thì hết thảy chủng tử hữu
lậu, vô lậu đều có đủ. Còn ai không có sẵn pháp Bát
niết bàn là thiếu ba thứ Bồ đề chủng tử (Thanh văn,
Duyên giác, Vô thượng Bồ Ðề)".
Những
đoạn văn như vậy, thật đủ làm chứng không phải ít.
Lại
đã nói các loài hữu tình vốn có năm chủng tánh khác nhau,
nên biết chắc có pháp nhĩ chủng tử vốn có, không phải
do huân tập phát sanh.
Lại
luận Du già nói: "Chúng sanh ở Ðịa ngục thành tựu ba căn
vô lậu, đó là chủng tử vô lậu chứ không phải hiện hành
vô lậu".
Lại
từ vô thỉ lần lượt truyền đến pháp nhĩ vốn có tánh
chủng tử bản tánh thường trụ.
Những
văn ấy đủ chứng tỏ chủng tử vô lậu là pháp nhĩ vốn
có, không do huân tập sanh. Pháp hữu lậu cũng thế, pháp nhĩ
vốn có chủng tử, và chỉ do huân tập làm cho tăng trưởng,
chứ không phải huân riêng chủng tử mới nào khác.
Như
thế mới kiến lập nhân quả không rối loạn.
- Lại
có thuyết cho rằng chủng tử đều do "huân tập phát sanh".
Chỉ vì sở huân và năng huân đều có từ vô thỉ, cho nên
nói các chủng tử cũng thành tựu từ vô thỉ. Chủng tử
đã là tên khác của tập khí, mà tập khí thì chắc chắn
phải do huân tập mới có, như mùi thơm của mè là do hoa ướp
mà có. Như Khế kinh nói: "Tâm loài hữu tình được huân tập
bởi các pháp nhiễm tịnh, mới có sự chứa nhóm của vô
lượng chủng tử".
Luận
nói: "Chủng tử bên trong tâm nhất định có sự huân tập,
còn hạt giống bên ngoài tâm tâm thì hoặc có huân hoặc không
huân.
Lại
ba thứ chủng tử được huân tập là danh ngôn, nghiệp và
ngã chấp, nó tổng nhiếp hết thảy chủng tử các pháp hữu
lậu. Ba thứ này đã do huân tập mà có, cho nên chủng tử
hữu lậu chắc chắc nhờ có huân tập mới phát sanh.
Vô
lậu chủng tử cũng do huân tập, nói: "Văn huân tập" là do
nghe Chánh pháp được bình đẳng tuôn ra từ pháp giới thanh
tịnh, mà huân tập phát khởi thành chủng tử vô lậu, đó
là tính chủng tử của tâm xuất thế vô lậu.
- Các
hữu tình xưa nay chủng tánh sai khác, không do chủng tử vô
lậu có hay không có, mà chỉ dựa có chướng hay không chướng
mà kiến lập. Như Luận Du già nói: "Ðối với cảnh giới
chân như, nếu có đầy đủ chủng tử hai chướng là phiền
não chướng và sở tri chướng, thì lập làm chủng tánh Không
Bát niết bàn pháp. Nếu chỉ có đầy đủ chủng tử sở
tri chướng, thì một phần lập làm chủng tánh Thanh văn, một
phần lập làm chủng tánh Ðộc giác. Nếu hoàn toàn không
có chủng tử hai chướng thì lập làm chủng tánh Như Lai".
Cho nên biết xưa nay có chủng tánh khác nhau là y nơi có chướng
hay không chướng mà kiến lập, chứ không phải y nơi chủng
tử vô lậu vốn có mà kiến lập.
Nói
câu: "Ðịa ngục thành tựu chủng tử vô lậu" là y theo nghĩa
có thể sẽ sanh mà nói, chứ không phải theo nghĩa đã có
thật thể chủng tử đó.
- Có
thuyết cho rằng, chủng tử hữu lậu, vô lậu đều có hai
loại:
1.
Chủng tử vốn có, tức công năng sai biệt về Tứ sanh, Ngũ
uẩn, Thập nhị xứ, Thâp bát giới ở trong Dị thục thức
từ vô thỉ lại, pháp nhĩ vốn có, đức Thế Tôn y theo đó
nói các loài hữu tình từ vô thỉ lai có chủng chủng giới
như chùm trái ác xoa, pháp nhĩ vốn có. Còn những dẫn chứng
khác, nói rộng như trước. Ðây gọi là chủng tử bản tánh
vốn có.
2.
Chủng tử mới sanh, tức là vô thỉ lai do thường thường
hành huân tập mà có. Ðức Thế Tôn y theo đó nói tâm các
hữu tình được huân tập bởi các pháp nhiễm tịnh, thành
chỗ chứa nhóm của vô lượng chủng tử. Các Luận cũng nói
chủng tử nhiễm tịnh do pháp nhiễm tịnh huân tập mà phát
sanh, đây chính gọi là chủng tử do huân tập thành.
Nếu
chỉ có chủng tử vốn có, thì các chuyển thức không cùng
với A lại da thức làm tính nhân duyên cho nhau. Như Khế kinh
nói: "Các pháp đối với Tạng thức, Tạng thức đối với
các pháp cũng vậy, làm quả tánh cho nhau, cũng thường làm
nhân tánh cho nhau.
Bài
Tụng này ý nói thức A lại da cùng các chuyển thức trong
tất cả thời triển chuyển sanh lẫn nhau, làm nhân quả lẫn
nhau.
Luận
Nhiếp Ðại thừa nói: "Thức A lại da cùng với pháp tạp
nhiễm làm nhân duyên cho nhau, như tim đèn và ngọn lửa triển
chuyển phát cháy, lại như hai bó lau nương nhau mà đứng.
Chỉ y theo hai thứ chủng tử và hiện hành đó kiến lập
nhân duyên, còn những nhân duyên khác đều không phải thật
nhân duyên.".
Nếu
các chủng tử không do huân tập sanh, thì làm sao các chuyển
thức cùng với thức A lại da có được nghĩa làm nhân duyên?
Không thể do huân tập làm cho tăng trưởng mà gọi là nhân
duyên, (làm cho tăng trưởng thì chỉ gọi là Tăng thượng
duyên). Không thể bảo rằng nghiệp thiện ác làm nhân duyên
cho Dị thục quả (nó chỉ làm Tăng thượng duyên).
Lại
các Thánh giáo nói có chủng tử do huân tập mới sanh là đều
trái với nghĩa chủng tử vốn có kia. Thế nên nói chỉ có
chủng tử vốn có lại là trái với lý lẫn giáo nói chủng
tử mới sanh.
Nếu
chỉ có chủng tử mới sanh, thì các pháp hữu lậu, vô lậu
không thể sanh được, vì thiếu nhân duyên sẵn có. Pháp hữu
lậu không thể làm chủng tử cho pháp vô lậu, vì không thể
có chủng tử vô lậu sanh ra pháp hữu lậu. Nếu chấp nhận
chủng tử vô lậu sanh hữu lậu, thì các đức Phật lại
sanh ra pháp hữu lậu, pháp thiện lại có thể làm chủng tử
cho pháp bất thiện.
Phái
phân biệt luận tuy dẫn kinh nói: "Tâm tánh vốn tịnh, do khách
trần phiền não làm cho ô nhiễm, nên gọi là tạp nhiễm.
Khi xa lìa phiền não thì chuyển thành vô lậu, cho nên pháp
vô lậu chẳng phải vô nhân sanh".
Nhưng
chữ tâm tánh nói đây có ý nghĩa là gì?
- Nếu
nói tâm tánh đó chỉ cho lý không, thì lý không chẳng phải
là nhân của tâm. Lại, lý không là pháp thường, quyết không
phải là chủng tử của các pháp, vì thể của lý không trước
sau, không chuyển biến. Nếu nói tâm tính đây chính là tâm
(bản tịnh), thì đồng với Phái Số luận chấp, tướng tuy
chuyển biến mà thể thường nhất, tâm ác và vô ký lại
đều là thiện. Nếu chấp nhận như thế thì lý đáng tâm
ác và vô ký cũng tương ưng với thiện Tâm sở tín v.v...
Còn nếu không chấp nhận như thế thời tâm ác và vô ký
vẫn không phải là thể của thiện tâm. Như vậy còn không
được gọi là thiện, huống gì gọi là vô lậu. Lại, thiện
tâm hữu lậu, tuy không đồng với tâm ác và vô ký, song đã
bảo là tạp nhiễm thì nó như ác tâm, tánh chẳng phải là
vô lậu; cho nên thiện tâm hữu lậu không thể làm chánh nhân
cho vô lậu. Ðừng bảo thiện và ác làm nhân cho nhau được.
Lại,
nếu tâm hữu lậu mà tánh là vô lậu (gọi là tâm tánh vốn
tịnh), thì có thể tâm vô lậu mà tánh là hữu lậu, nhu vậy
thì nhân duyên sai khác giữa hữu lậu, vô lậu không thể
có được.
Lại,
tâm của loài Dị sanh (phàm phu), nếu là vô lậu, thời khi
đang ở địa vị loài Dị sanh có pháp vô lậu hiện hành,
thì nên gọi đó là bậc Thánh.
Nếu
bảo tâm của loài Dị sanh, tánh tuy là vô lậu, nhưng tướng
có ô nhiễm, nên không gọi là vô lậu hiện hành, thì không
bị lỗi này (lỗi gọi loài Dị sanh là bậc Thánh). Hiện
hành đã không phải vô lậu, thời chủng tử của tâm cũng
chẳng phải vô lậu, tại sao ông nói có loài Dị sanh chỉ
đưọc thành tựu chủng tử vô lậu? Vì chủng tử và hiện
hành tánh đồng nhau vậy.
Nhưng
Khế kinh nói: "Tâm tánh vốn thanh tịnh" là nói chân như được
hiển hiện từ lý tâm không. Chân như là tánh chân thật của
tâm. Hoặc nói tâm thể không phải là phiền não, nên gọi
là tánh vốn tịnh, chứ không phải nói tánh của tâm hữu
lậu là vô lậu, nên gọi là vốn tịnh.
Do
đó nên tin rằng, các loài hữu tình có chủng tử vô lậu
từ vô thỉ, pháp nhĩ thành tựu, không do huân tập, về sau
ở địa vị thắng tấn tu tập, huân tập làm cho nó tăng
trưởng, lấy nó làm nhân mà pháp vô lậu khởi lên, lại
huân tập trở thàh chủng tử. Chủng tử pháp hữu lậu, so
theo đây mà biết.
Trong
các Thánh giáo tuy nói chủng tử bên trong tâm, quyết nhờ
có sự huân tập, nhưng không nhất định nói hết thảy chủng
tử đều do huân tập mới sanh, làm sao có thể hoàn toàn bác
không có chủng tử vốn có? Nhưng chủng tử vốn có cũng
do huân tập làm cho tăng thịnh, mới kết quả thành. Thế
nên nói chủng tử trong tâm quyết phải có huân tập.
Sự
nghe huân tập chẳng phải chỉ huân tập chủng tử hữu lậu
mà khi nghe Chánh pháp cũng huân tập chủng tử vô lậu vốn
có, làm cho tăng thịnh dần, triển chuyển cho đến phát sanh
tâm xuất thế vô lậu. Cho nên cũng nói đó là nghe huân tập.
Trong nghe huân tập, những tánh thiện hữu lậu, bị sự tu
tập đoạn trừ, do đó chiêu cảm dị thục vô lậu thù thắng,
làm tăng thượng duyên thù thắng cho pháp xuất thế. Còn những
tánh vô lậu không bị sự tu tập đoạn trừ, thì làm duyên
chính cho pháp xuất thế. Cái nhân duyên chính này vì ẩn khó
biết cho nên Thánh giáo có chỗ nói nương nơi tăng thượng
duyên thô hiển mà phương tiện giả nói tâm thiện hữu lậu,
đó là chủng tử của tâm xuất thế kiến đạo vô lậu.
- Nương
hai chướng mà kiến lập chủng tánh sai biệt là ý muốn hiển
bày chủng tử vô lậu có hay không có. Nghĩa là nếu ai hoàn
toàn không có chủng tử vô lậu thì chủng tử hai chướng
kia vĩnh viễn không thể bị hại trừ, chính ngay đó lập
làm pháp phi Niết bàn. Nếu ai chỉ có chủng tử vô lậu của
hàng Nhị thừa thì chủng tử sở tri chướng kia vĩnh viễn
không thể bị hại trừ, ngay đó một phần lập làm chủng
tánh Thanh văn, một phần lập làm chủng tánh Duyên giác. Nếu
ai có chủng tử vô lậu của Phật thì chủng tử hai chướng
kia đều bị hại trừ vĩnh viễn, và ngay đó lập làm chủng
tánh Như Lai. Cho nên biết, do chủng tử vô lậu có hay không
có mà hai chướng có thể bị dứt hay không thể bị dứt.
Nhưng
chủng tử vô lậu vì ẩn khó biết, nên ước theo hai chướng
khả đoạn hay không khả đoạn để hiển bày chủng tánh
sai biệt. Nếu không có chủng tử vô lậu như vậy, thì có
nhân gì khác mà hai chướng kia có thể bị hại hay không thể
bị hại. Nếu bảo pháp nhĩ vốn có hai chướng có thể hại
và không thể hại, thì đối với chủng tử pháp vô lậu
tại sao không chấp nhận cũng vốn có như thế. Nếu vốn
hoàn toàn không có chủng tử pháp vô lậu, thời các Thánh
đạo vĩnh viễn không sanh được, biết lấy gì để loại
trừ chủng tử hai chướng, để mà nói nương hai chướng
lập chủng tánh sai khác? Thánh đạo kia đã không thể hiện
sanh, mà nói ba vô lậu căn sẽ có thể hiện sanh, cũng nhất
định phi lý.
Nhưng
các Thánh giáo, nơi nơi đều có chủng tử vốn có, nay nếu
nói không có là trái với nghĩa kia. Thế nên biết, nói chỉ
có chủng tử mới sanh là trái với cả lý lẫn giáo.
Do
đó, nên biết chủng tử các pháp đều có hai loại là loại
vốn có và loại mới sanh.
Nhưng
chủng tử tóm tắt có sáu nghĩa:
1.
Sát na diệt – Nghĩa là thể nó vừa sanh liền diệt, có năng
lực thù thắng mới thành chủng tử. Nghĩa này ngăn ngừa
những pháp gì thường, vì đã thường không chuyển biến
thì không thể nói nó có công dụng năng sanh.
2.Quả
câu hữu – Nghĩa là nó cùng với quả pháp hiện hành do nó
sanh ra cùng hòa hợp một lúc, mới thành chủng tử. Nghĩa
này ngăn ngừa những pháp gì có trước sau và cách lìa nhau.
Vì hiện hành với chủng tử tuy khác loại nhưng không trái
nghịch nhau, cùng một lúc hiện có nơi một thân, mới có
tác dụng phát sanh, không giống như chủng tử với chủng
tử tự loại trước sau sanh nhau; vì trước sau trái nhau không
thể cùng có. Tưy nhân chủng tử với quả, có khi câu hữu,
có khi không câu hữu, nhưng đây chỉ nói nhân quả hiện tại
đồng thời là có thể có tác dụng làm nhân (mới gọi là
chủng tử) chứ vị lai chưa sanh và quá khứ đã diệt, không
có tự thể (không làm nhân được).
Vì
vậy y nơi khả năng sanh hiện quả mà lập tên chủng
tử, chứ không y nơi sự dẫn sanh chủng tử tự loại để
lập tên chủng tử. Cho nên chỉ nên nói với quả cùng cómột
lần, mới thành chủng tử.
3.
Hằng tùy chuyển – Nghĩa là phải cùng một loại tương tục
trường kỳ cho đến khi đạt địa vị cứu cánh, mới thành
chủng tử. Nghĩa này ngăn ngừa các chuyển thức thường chuyển
dịch gián đoạn, không tương ưng với pháp chủng tử. Ðây
là hiển thị chủng tử tự loại sanh nhau.
4.
Tánh quyết định – Nghĩa là tùy theo sức của nhân thiện
ác có công năng quyết định sanh ra quả thiện hoặc ác không
hỗn loạn, mới thành chủng tử. Nghĩa này ngăn ngừa các
Bộ phái khác chấp nhân tánh sanh ra quả tánh khác, mà cho
đó là nghĩa nhân duyên.
5.
Ðãi chủng duyên – Nghĩa là phải chờ các duyên cùng loại
chung hợp lại, có công năng thù thắng, mới thành chủng tử.
Nghĩa này ngăn ngừa ngoại đạo chấp nguyên nhân tự nhiên,
không cần chờ các duyên thường hằng vẫn chóng sanh ra quả.
Hoặc ngăn ngừa các Bộ phái khác chấp duyên thường có,
để hiển thị cái duyên được chờ đợi đó không phải
thường có, cho nên chủng tử không phải thường cùng lúc
bỗng sanh ra quả.
6.
Dẫn tự quả - Nghĩa là mỗi mỗi dẫn sanh ra hiện quả sắc
và tâm riêng biệt, mới thành chủng tử. Nghĩa này ngăn ngừa
ngoại đạo chấp chỉ một nhân sanh ra tất cả quả; hoặc
ngăn ngừa các Bộ phái khác chấp sắc và tâm làm nhân duyên
cho nhau.
Tóm
lại, chỉ có công năng sai biệt trong bản thức là có đủ
sáu nghĩa này, mới thành chủng tử, chứ không phải gì khác.
Lúa,
nếp v.v... bên ngoài do thức biến hiện, giả lập gọi là
hạt giống, nhưng chẳng phải thật hạt giống.
Chủng
tử có thể lực trực tiếp sanh ra quả chính thức gần nhất
thì gọi là sanh nhân, còn gián tiếp dẫn đến quả tàng dư
cách xa làm cho không dứt ngang, thì gọi là dẫn nhân.
Chủng
tử trong bản thức tất do huân tập được sanh trưởng, đích
thân sanh ra quả, đấy là nhân duyên, còn chủng tử bên ngoài
hoặc có huân tập hoặc không huân tập, nó chỉ là tăng thượng
duyên. Nói đến quả được sanh tất phải lấy chủng tử
bên trong tâm làm nhân duyên của nó, còn lúa, nếp là kết
quả do chủng tử cọng tưởng sanh.
- Y
theo nghĩa gì lập danh từ huân tập?
- Sở
huân và Năng huân đều có đủ bốn nghĩa. làm cho chủng tử
trong bản thức được sanh trưởng, nên gọi là huân tập.
Thế
nào là bốn nghĩa của Sở huân?
1.
Tánh kiên trụ - Nếu pháp gì trước sau một loại tương tục
bền chắc, có khả năng duy trì tập khí mới thành Sở
huân. Nghĩa này ngăn ngừa các chuyển thức và âm thanh, gió
là thứ không có tánh kiên trụ, nên không phải là Sở huân
(chịu sự huân tập).
2.
Tánh vô ký - Nếu pháp gì có tính bình đẳng dung nạp mọi
tập khí không chống nghịch, mới thành Sở huân. Nghĩa này
ngăn ngừa tính thiện và ô nhiễm, nó có thể lực cường
thịnh, không dung nạp những gì trái với nó, nên không phải
là Sở huân. Do đó Ðệ bát Tịnh thức của Như Lai chỉ mang
theo chủng tử vô lậu cũ mà không phải huân tập chủng tử
mới.
3.
Tính khả huân - Nếu pháp gì có tính tự tại không cứng
nhắc kín nhiệm, có khả năng nạp thọ tập khí, mới thành
Sở huân. Nghĩa này ngăn ngừa tâm sở và pháp vô vi là
pháp dựa vào cái khác và cứng nhắc kín nhiệm, nên không
phải là Sở huân.
4.
Tính cùng hòa hợp với Năng huân -Nếu pháp gì cùng với pháp
Năng huân đồng thời đồng xứ không tức không ly, mới là
Sở huân. Nghĩa này ngăn ngừa đối với thân người khác
và sát na trước sau không có sự hòa hợp, nên không phải
là Sở huân.
Do
đó, chỉ có thức Dị thục có đủ bốn nghĩa trên, nên có
thể thành Sở huân, chứ không phải các Tâm sở v.v...
Thế
nào là bốn nghĩa của Năng huân?
1.
Có sanh diệt - Nếu pháp gì không thường hằng mà biến chuyển,
có tác dụng sanh trưởng tập khí, mới là pháp Năng huân.
Nghĩa này ngăn ngừa pháp vô vi, trước sau không biến đổi,
không có tác dụng sanh trưởng, cho nên không phải Năng huân.
2.
Có thắng dụng - Nếu pháp gì có sanh diệt nhưng có thế lực
tăng thịnh, có khả năng dẫn phát tập khí, mới là
pháp Năng huân. Nghĩa này ngăn ngừa tâm, Tâm sở dị thục
non kém, nên không phải Năng huân.
3.
Có tăng giảm - Nếu pháp gì có tác dụng thù thắng, có thể
tăng có thể giảm, thu nhiếp tập khí, mới là pháp Năng huân.
Nghĩa này ngăn ngừa ở Phật quả, thiện pháp tròn đầy không
tăng không giảm, nên không phải Năng huân. Thiện pháp kia
nếu Năng huân thì chưa phải tròn đầy, như vậy hóa ra Phật
quả trước sau có hơn kém khác nhau.
4.Cùng
Sở huân hòa hợp mà chuyển biến - Nếu pháp gì cùng với
pháp Sở huân đồng thời đồng xứ, không túc không ly mới
là pháp Năng huân. Nghĩa này ngăn ngừa đối với thân ngừa
khác và sát na trước sau không hòa hợp, nên không phải là
Năng huân.
Do
đó, chỉ có bảy chuyển thức và tâm sở của nó là có thế
lực tác dụng thù thắng, có tăng có giảm, có đủ bốn nghĩa
này mới có thể thành pháp Năng huân.
Như
thế thức Năng huân (bảy thức trước) với thức Sở huân
(Tàng thức), cùng sanh cùng diệt mới thành nghĩa huân tập,
làm cho chủng tử trong thức Sở huân sanh trưởng, như hoa
ướp mè, cho nên gọi là huân tập.
Hiện
thức Năng huân từ khi chủng tử sanh ra nó, liền có thể
làm nhân trở lại huân tập thành chủng tử. Ba pháp Năng
huân, Sở huân và Chủng tử, đồng thời triển chuyển làm
nhân quả cho nhau, như tim đèn sanh lửa cháy, lửa cháy cháy
tim đèn. Cũng như bó cây lau, đồng thời nương nhau làm nhân
quả, đồng thời là lẽ chắc chắn. Hiện hành năng huân
sanh ra chủng tử, chủng tử khởi lên hiện hành, như cái
nhân câu hữu, thủ đắc quả sĩ dụng. Còn chủng tử trước
sau, tự loại sanh nhau như là cái nhân đồng loại, dẫn sanh
ra quả đẳng lưu. Chỉ hai nhân này đối với quả, là nhân
duyên,ngoài ra, các pháp khác đều chẳng phải nhân duyên,
giả sử có chỗ gọi là nhân duyên, nên biết đó là giả
thuyết.
Ðó
gọi là lược nói hành tướng của tất cả chủng tử. (17)
Thức
A lại da này, hành tướng và sở duyên của nó như thế nào?
- Không
thể biết chấp thọ, xứ và liễu của nó được.
Liễu
nghĩa là liễu biệt, tức hành tướng của thức. Thức lấy
sự liễu biệt làm hành tướng.
Xứ
nghĩa là xứ sở, tức khí thế gian, nơi nương dựa của loài
hữu tình.
Chấp
thọ có hai, đó là chủng tử hữu lậu và sắc thân có các
căn.
Chủng
tử là các tập khí của sự phân biệt về tướng và danh.
Thân
có các căn là các sắc căn như mắt, tai (tịnh sắc căn) và
là chỗ các căn nương (tức phủ trần thân căn). Hai thứ
chủng tử và thân căn này đều là của thức chấp thọ,
thu nhiếp chấp giữ làm tự thể, đồng an đồng nguy (thọ).
Chấp
thọ và xứ đều là cảnh sở duyên của thức A lại da này.
Do
sức nhân duyên mà khi tự thể thức A lại da sanh khởi, bên
trong biến làm chủng tử và thân có các căn, bên ngoài biến
thành khí thế giới, rồi liền lấy tướng do mình đã biến
ra đó làm cảnh sở duyên cho mình, và hành tướng năng duyên
nương theo đó mới sanh khởi được.
Trong
đoạn này nói liễu, tức thức Dị thục đối với cảnh
sở duyên của mình có tác dụng liễu biệt và tác dụng liễu
biệt này thuộc về kiến phần.
Nhưng
khi tự thể thức hữu lậu sanh khởi, đều có tướng sở
duyên và năng duyên tương tợ hiện ra. Tâm sở tương
ưng với nó, nên biết khi sanh khởi cũng thế. Tướng sở
duyên tương tợ gọi là tướng phần, tướng năng duyên tương
tợ; gọi là kiến phần.
Nếu
Tâm, Tâm sở không có tướng sở duyên, thì không thể duyên
đưọc cảnh sở duyên của mình, hoặc mỗi mỗi tâm có thể
duyên được tất cả cảnh, vì cảnh của riêng mình cũng
giống như cảnh của tâm khác, cảnh của tâm khác giống như
cảnh của riêng mình (không có tướng phần sắc mà mắt vẫn
thấy, thì không có tướng phần tiếng mắt cũng vẫn thấy.
Như vậy không có tướng phần tiếng mà tai vẫn nghe, thì
không có tướng phần sắc tai cũng vẫn thấy hay sao?).
Nếu
Tâm, Tâm sở không có tướng năng duyên, thì không thể duyên,
giống như hư không ... hoặc hư không cũng có khả năng
duyên. Thế nên biết Tâm, Tâm sở phải có đủ hai phần,
như Khế kinh nói:
Tất
cả chỉ có giác, (Duy thức).
Nghĩa
sở giác đều không (không ngoại cảnh).
Năng
giác, sở giác phần (kiến tướng phần).
Ðều
tự nhiên chuyển hiện (đều từ chủng tử sanh).
- Người
chấp thật có cảnh sở duyên lìa ngoài thức, thì họ gọi
ngoại cảnh là sở duyên, gọi tướng phần là hành tướng,
gọi kiến phần là sự, vì đó là tướng tự thể của Tâm,
Tâm sở. Tâm và Tâm sở đồng căn sở y và cảnh sở duyên,
hành tướng tương tợ, sự thể của Tâm vương và Tâm sở
tuy mỗi mỗi tương tợ đồng đều, mà tướng của nó thì
khác nhau, vì tướng của thức Tâm vương với tướng của
thọ, tưởng Tâm sở khác nhau vậy.
- Người
đạt lý không có cảnh sở duyên lìa ngoài thức, thì nói
tướng phần là "sở duyên", kiến phần gọi là "hành tướng",
tướng và kiến đều nương phần tự thể gọi là "sự" tức
là tự chứng phần. Nếu phần tự chứng này không có, thì
không thể tự nhớ tự biết Tâm, Tâm sở pháp, như cảnh
chưa từng trải qua, thì không thể nhớ biết.
Tâm,
Tâm sở đồng nương một căn, mà cảnh sở duyên thì chỉ
là tương tợ nhau, vì hành tướng khác nhau, tác dụng liễu
biệt lãnh nạp khác nhau. Sự (tự chứng phần) tuy mỗi một
Tâm hay Tâm sở đều có sự thể đồng đẳng tương tợ nhau
mà tướng nó thì khác nhau, vì thể của thức Tâm vương là
liễu biệt mà thể của Tâm sở thọ là lãnh nạp khác nhau
vậy.
Nhưng
mỗi mỗi Tâm, Tâm sở khi sanh khởi, lấy lý suy ra mỗi cái
đều có ba phần là sở lượng, năng lượng và lượng quả,
vì kiến và tướng phải có thật thể để nương. Như bài
kệ trong Tập Lượng Luận nói:
Tướng
tợ cảnh, sở lượng,
Tướng
năng thủ, tự chứng,
Tức
năng lượng và quả,
Cả
ba, thể không khác.
- Lại
Tâm, Tâm sở, nếu phân biệt tỉ mỉ, nên có bốn phần. Ba
phần như trên, thêm phần thứ tư là chứng tự chứng phần.
Nếu phần thứ tư này không có thì cái gì làm chứng cho phần
thứ ba? Vì phần tự chứng và chứng tự chứng đồng là
tâm, nên đều có thể chứng cho nhau vậy.
Lại
tự chứng phần sẽ không có quả, vì các năng lượng, phải
có quả vậy. Không nên cho kiến phần là quả thứ ba, vì
kiến phần có khi nhiếp vào phi lượng, do đó kiến phần
không chứng được phần tự chứng thứ ba, vì chứng được
tự thể phần thứ ba phải là hiện lượng (chứ không phải
phi lượng).
Trong
bốn phần của thức trên đây, hai phần đầu là ngoài, hai
phần sau là trong. Tướng phần đầu chỉ là sở duyên, ba
phần là kiến, tự chứng và chứng tự chứng sau là thông
cả sở duyên và năng duyên. Nghĩa là phần thứ hai chỉ duyên
tướng phần thứ nhất hoặc lượng, phi lượng, hoặc hiện
lượng hoặc tỷ lượng. Tự chứng phần thứ ba duyên được
kiến phần thứ hai, và chứng tự chứng phần thứ tư, còn
chứng tự chứng phần chỉ duyên tự chứng phần thứ ba,
chứ không duyên kiến phần thứ hai, vì vô dụng. Phần thứ
ba, thứ tư đều thuộc vào hiện lượng. Cho nên biết Tâm,
Tâm sở đủ có bốn phần hợp thành là đủ cả sở duyên,
năng duyên, không bị lỗi vô cùng, chẳng phải tức chẳng
phải ly, lý Duy thức được thành lập. Thế nên bài tụng
trong Khế kinh nói:
Tâm
chúng sanh hai tánh,
Trong
ngoài tất cả phần,
Năng
thủ, sở thủ buộc,
Thấy
nhiều thứ sai biệt.
Bài
tụng này ý nói: Tâm tánh chúng sanh do hai phần kiến, tướng
hợp thành, hoặc trong hoặc ngoài, đều có sở thủ, năng
thủ ràng buộc nhau, nên thấy có mọi thứ, hoặc lượng hoặc
phi lượng, hoặc hiện lượng hoặc tỷ lượng, sai biệt nhiều
phần. Trong đây nói kiến tức là kiến phần.
Bốn
phần như thế, hoặc gom làm ba, vì phần thứ tư nhiếp vào
phần thứ ba tự chứng phần. Hoặc gom làm hai, tức ba phần
sau là năng duyên, đều nhiếp vào kiến phần. Ở đây nói
kiến là nghĩa năng duyên. Hoặc gom làm một, vì cùng một
thể. Như bài kệ trong kinh Nhập Lăng già nói:
Do
tự tâm chấp trước,
Tâm
chuyển tợ ngoại cảnh,
Sở
kiến kia phi hữu,
Thế
nên nói Duy tâm.
Như
vậy nơi nơi nói duy nhất tâm, đây nói nhất tâm cũng nhiếp
luôn Tâm sở. Thế nên biết hành tướng của thức chính là
liễu biệt, liễu biệt chính là kiến phần của thức.
Nói
"xứ" có nghĩa là trong thức Dị thục do thế lực của chủng
tử cọng tướng (chung của nhiều hữu tình) đã thành thục
mà nó biến hiện ra tướng khí thế gian tợ như ngoại sắc,
đó chính là bốn đại chủng đất, nước, lửa, gió bên
ngoài và các sắc sở tạo là thanh, hương, vị, xúc. Tuy các
hữu tình biến ra cảnh giới khác nhau nhưng tướng nó tương
tợ nên cùng chung xứ sở không khác, như ánh sáng của các
ngọn đèn chiếu khắp mà thấy như tuồng một ánh sáng chiếu.
Hỏi:
- Dị thục thức của ai biến ra tướng khí thế gian này?
Ðáp:
Có thuyết cho rằng Dị thục thức của tất cả hữu tình.
Vì sao? Vì như Khế kinh nói: "Tất cả hữu tình do sức tăng
thượng của nghiệp chung với nhau mà khởi lên".
Có
thuyết khác lại nói: "Nếu như thế, thì các đức Phật,
Bồ tát có thể thật sự biến ra cõi tạp uế này, và các
loài dị sanh có thể thật sự biến ra các cõi trong sạch
nhiệm mầu tại phương kia cõi này? Lại các bậc Thánh nhàm
chán hữu sắc mà sanh lên cõi vô sắc, chắc không còn sanh
hạ giới thì còn biến ra cõi hạ giới này để làm gì?"
Cho nên biết chỉ có chúng sanh hiện ở và sẽ sanh đến cõi
này mới biến ra cõi này. Nhưng kinh dựa theo phần ít mà nói
là tất cả. Vì chúng sanh có nghiệp đồng nhau mới chung nhau
biến ra vậy.
Có
thuyết lại nói: "Nếu như vậy, khi khí thế giới sắp hoại,
đã không có chúng sanh hiện ở và sẽ sanh đến, thì Dị
thục thức nào biến ra cõi sắp hoại đó? Lại các loài Dị
sanh nhàm chán Hữu sắc mà sanh lên cõi trời Vô sắc, hiện
không có sắc thân lại còn dự liệu biến ra cõi này để
làm gì? Giả sử chúng sanh có sắc thân cõi nước khác nhau,
thô tế cách biệt, không nương tựa duy trì nhau, mà ở cõi
này biến ra cõi kia có ích gì?"
- Nhưng
cõi nước được biến ra, là cốt vì làm chỗ nương tựa
y trì và thọ dụng cho sắc thân, cho nên nếu đối với thân
mà có thể có tác dụng y trì thọ dụng thì liền biến ra
nó. Do đó, giả sử sanh vào phương khác thì thức cõi này
cũng biến ra cõi này được. Cho nên thế gian khi sắp hoại
hay khi mới thành, tuy không có loài hữu tình mà nó vẫn hiện
có. Ðây là nói tất cả chúng sanh cùng thọ dụng. Nếu thọ
dụng riêng, thì chuẩn theo đây mà biết. Vì giữa Ngạ qủy,
Người và Trời, sự thấy có khác nhau.
Các
chủng tử nói ở đây chính là chỉ tất cả chủng tử pháp
hữu lậu được Dị thục thức chấp trì, nó cùng tánh với
thức Dị thục, nên làm sở duyên cho thức Dị thục, còn
chủng tử pháp vô lậu tuy nương gá nơi thức Dị thục, nhưng
không cùng tánh với thức Dị thục. Tuy không phải sở duyên,
nhưng không lìa thức, như tánh chân như là tự tánh của thức,
nên không trái lý Duy thức.
Thân
có các căn là do thế lực của chủng tử bất cọng tướng
được thành thục nơi thức Dị thục, nó biến ra sắc căn
và chỗ sắc căn nương tựa, tức bốn đại chủng đất,
nước, lửa, gió bên trong thân và các sắc, hương, vị, xúc.
Có
thế lực của chủng tử cọng tướng đã thành thục này,
nên đối với tha nhân cũng biến ra thân tượng tợ với họ.
Nếu không như thế, thì không có cái gì nghĩa người này
thọ dụng thân người khác.
Trong
đây còn có thuyết nói: "Cũng biến tợ tịnh sắc căn người
khác". Như Luận Biện Trung Biên nói: "Năm tịnh sắc căn của
thân ngưòi khác hiện ra tợ năm căn của mình". Có thuyết
lại cho rằng: "Chỉ có thể biến ra chỗ nương tương tợ,
vì năm tịnh sắc căn của người khác đối với mình là
vô dụng". Nói năm tịnh sắc căn trên thân người khác tợ
như trên thân mình là nhằm nói đến nghĩa thức của mình
và thức của người đều tự biến. Do đó cho nên khi đã
sanh đến cõi khác hoặc Bát niết bàn mà thi thể người ấy
vẫn thấy còn tồn tại.
Trên
đây là nói nghiệp lực biến ra khí giới bên ngoài, căn thân
bên trong, ba cõi và chín địa sai khác, nếu có định lực
thì sự biến ra khí giới, căn thân, cõi và địa, tự và
tha không nhất định. Căn thân và khí giới được biến ra
phần nhiều tương tục lâu dài, còn biến ra âm thanh và ánh
sáng thì phần nhiều tạm thời, vì tùy theo duyên lực hiện
tại kích thích phát khởi.
Lược
nói cảnh sở biến của thức A lại da này, là gồm các chủng
tử hữu lậu, mười chỗ có sắc là năm căn, năm trần và
các sắc thật hiện ra nhiếp thuộc pháp xứ.
Tại
sao thức này không thể biến ra tợ Tâm, Tâm sở để làm
cảnh sở duyên?
- Thức
hữu lậu biến lược có hai thứ: Một là theo thế lực nhân
duyên mà biến. Hai là theo thế lực phân biệt mà biến. Thứ
đầu là hữu dụng, thứ sau chỉ làm cảnh. Thức Dị thục
biến chỉ tùy theo nhân duyên, nên các sắc thanh được biến
phải có thật dụng, nếu biến ra tâm thì không có thật dụng;
vì tướng phần tâm không thể duyên được, chỉ khi cần
sự thật dụng của Tâm, Tâm sở thì nó mới từ thức A lại
da sanh ra; nếu biến ra pháp vô vi, cũng không thật dụng. Thế
nên biết Dị thục thức không duyên Tâm, Tâm sở. Ðến địa
vị vô lậu, Dị thục thức tương ưng với thắng tụệ,
tuy không phân biệt mà tính lặng trong, dù không thật
dụng như Tâm, Tâm sở cũng hiện ra được bóng dáng vô vi
kia. Nếu không như vậy, thì các đức Phật chẳng phải là
bậc Chánh Biến Tri.
Cho
nên biết ở địa vị hữu lậu, thức Dị thục này chỉ
duyên với khí giới, căn thân và chủng tử hữu lậu. Ở
tại cõi Dục và cõi Sắc có đủ ba thứ sở duyên đó, nhưng
ở cõi Vô sắc thì chỉ duyên chủng tử hữu lậu, vì nhàm
chán sắc, và ở đó không có quả sắc của nghiệp mà chỉ
có quả sắc của định. Ðối với lý không trái. Thức thứ
tám ở cõi trời Vô sắc kia cũng duyên sắc của định này
làm cảnh.
Bất
khả tri là không thể biết. Vì hành tướng của thức này
rất vi tế khó có thể liễu tri. Hoặc sở duyên của thức
này là cảnh chấp thọ bên trong cũng rất vi tế khó biết,
còn khí thế gian bên ngoài thì phạm vi khó lường, cho nên
gọi là không thể biết.
- Hành
tướng của thức này phủ nhận cảnh sở duyên khó biết
như thế nào? Như trong Diệt tận định, thức không lìa thân,
nên tin là có. Vậy quyết phải chấp nhận Diệt tận định
vẫn có thức thứ tám, vì người nhập Diệt tận định vẫn
thuộc vào loài hữu tình, ví như khi hữu tâm. Ở địa vị
Vô tưởng định và Vô tưởng thiên vẫn có tâm, nên biết
cũng như thế. (18)
(Hết cuốn hai của bản Hán)
- Thức
A lại da này cùng với mấy Tâm sở tương ưng?
Thường
cùng với Tâm sở xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư tương ưng.
Nghĩa là thức A lại da từ vô thỉ cho đến khi chưa chuyển
thành trí, trong tất cả địa vị, nó thường cùng với năm
Tâm sở này tương ưng, vì thuộc Tâm sở biến hành vậy.
- Xúc
tâm sở là khi ba thứ căn, cảnh, thức hoà thuận, xúc phân
biệt theo sự biến khác của ba thứ hoà thuận đó, mà khiến
Tâm, Tâm sở tiếp xúc cảnh, và có công dụng làm chỗ nương
cho Tâm sở thọ, tưởng và tư. Nghĩa là căn, cảnh, thức
ba thứ cùng nhau tùy thuận, nên gọi là ba sự hòa, xúc nương
ba thứ hòa đó phát sanh, khiến ba thứ đó được hòa hợp.
Cho nên nói Tâm sở xúc là vị trí của ba thứ hòa hợp kia.
Ba thứ đều có công năng tùy thuận nhau sanh các Tâm sở,
nên gọi là biến khác. Xúc tương tợ với sự biến khác
đó mà khởi lên, nên gọi là phân biệt. Nhưng khi căn biến
khác có sức dẫn khởi lên xúc mạnh hơn thức và cảnh, cho
nên Tập Luận chỉ nói: "Xúc phân biệt theo sự biến khác
của căn".
Hòa
hợp tất cả Tâm, Tâm sở khiến đồng tiếp xúc cảnh. Ðó
là tự tánh của xúc.
Xúc
tâm sở đã có công năng tương tợ với ba sự hòa thuận
khởi lên Tâm sở, cho nên lấy sự làm chỗ nương cho Tâm
sở thọ v.v... làm nghiệp dụng. – Kinh Khởi Tận nói: "Thọ,
tưởng và hành uẩn, tất cả đều lấy xúc làm duyên, do
đó nên nói thức, xúc và thọ. Nhân hai thứ căn và cảnh
hòa hợp sanh thức; nhân ba thức căn, cảnh và thức hòa hợp
sanh xúc; nhân bốn thứ căn, cảnh, thức, và xúc hòa hợp
sanh thọ". Luận Du già chỉ nói: "Xúc làm chỗ nương cho thọ,
tưởng, tư". Trong đây "Tư" là chủ, là thắng ở trong hành
uẩn, nên chỉ nói "Tư" là nhiếp hết 47 Tâm sở khác (51 Tâm
sở trừ thọ, tưởng, xúc, tư còn 47). Tập Luận chỉ nói:
"Xúc làm chỗ nương cho thọ, vì xúc sanh thọ là kế cận,
là thắng hơn các Tâm sở khác". Nghĩa là tướng sở thủ
khả ý của xúc cùng với tướng sở thủ thuận ích của
thọ hết sức gần nhau. Lại vì xúc dẫn phát sanh thọ mạnh
hơn các tâm sở khác.
- Nhưng
tự tánh của xúc là thật chứ chẳng phải giả, vì Tâm sở
trong sáu sáu pháp, là sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái,
sáu xúc, sáu thọ, và vì nhiếp vào xúc thực (trong bốn cách
ăn), và vì là một duyên trong mười hai chi nhân duyên, giống
như tánh của thọ (là thật có riêng), chứ xúc không phải
chính là ba sự hòa hợp (là giả có).
Tác
ý tâm sở là tánh cảnh giác tâm, có nghiệp dụng dẫn tâm
đến cảnh. Nghĩa là nó cảnh giác chủng tử tâm đáng khởi
nên khởi, và dẫn tâm đã khởi khiến đến cảnh, nên gọi
là tác ý. Tuy nó cũng có thể dẫn khởi Tâm sở, song vì Tâm
vương là chủ nên chỉ nói dẫn tâm.
Có
thuyết nói: "Khiến tâm (đang duyên cảnh này) xoay đến cảnh
khác, hoặc nói ngay nơi một cảnh giữ tâm trụ lại, gọi
là tác ý". Hai lối nói đó đều phi lý; vì như vậy thì tác
ý không phải là Tâm sở biến hành, và chẳng khác chi định
Tâm sở.
Thọ
tâm sở là tính lãnh nạp tướng của cảnh thuận, nghịch
và trung bình, và có nghiệp dụng khởi tâm ái, vì nó khởi
lên ba thứ muốn là muốn hợp lại, muốn lìa ra và muốn
không cả hai.
Có
người cho rằng thọ có hai thứ:
1.
Cảnh giới thọ, tức lãnh thọ cảnh sở duyên.
2.
Tự tánh thọ, tức lãnh thọ cái xúc đồng sanh với nó.
Và
họ cho rằng trong hai thứ thọ ấy chỉ có tự tánh thọ mới
là tự tướng của thọ, còn cảnh giới thọ vì chung một
tướng cảnh giới với Tâm, Tâm sở khác, không phải là tự
tướng của thọ.
Kia
nói thế phi lý, vì Thọ tâm sở quyết không duyên Xúc tâm
sở cùng sanh với nó. Nếu Thọ tâm sở sanh ra tương tợ với
Xúc tâm sở, mà gọi là lãnh thọ xúc, như vậy hễ cái gì
quả tương tợ với nhân, đều là "thọ" cả hay sao? Lại
xúc đã là nhân của thọ thì nên gọi là nhân thọ chứ sao
gọi là tự tánh thọ?
Nếu
bảo như vua ăn các vật của quốc ấp (vua từ quốc ấp sanh,
lại ăn vật của quốc ấp) cũng vậy, thọ là lãnh thọ,
xúc được sanh ra thọ thể, gọi là tự tánh thọ, thì lý
cũng không đúng, vì trái với chủ trương của ông (cho tự
tánh thọ là lãnh nạp cái xúc cùng sanh với thọ). Lại thọ
không thể tự chứng biết được thọ (như dao không tự cắt).
Nếu
bảo thọ tuy lãnh nạp mà không bỏ tự tánh nó, gọi là tự
tánh thọ, thì lý đáng tất cả pháp đều là tự tánh thọ.
Cho nên biết lối nói của kia chỉ để dụ dỗ trẻ con thôi
(vừa rồi phá tự tánh thọ) .
- Nhưng
cảnh giới thọ, không phải chung với các tướng của Tâm,
Tâm sở khác, vì khi lãnh thọ tướng thuận hoặc nghịch nhất
định thuộc về mình, gọi là cảnh giới thọ, không chung
với các tướng của Tâm, Tâm sở khác (thọ lấy sự lãnh
nạp làm tướng, thức lấy sự liễu biệt làm tướng, tưởng
lấy sự thu nhận cảnh tượng làm tướng, dục lấy sự hy
vọng cảnh làm tướng, tuệ lấy sự giảm trạch cảnh quán
làm tướng ... nên không tướng nào chung nhau).
Tướng
Tâm sở là tính chấp thủ tướng mạo của cảnh, và có nghiệp
dụng thiết đặt ra các danh ngôn. Nghĩa là nhờ có tưởng
an lập tướng phân ranh giới của cảnh, mới có thể theo
đó thiết đặt danh ngôn.
Tư
tâm sở là tánh khiến tâm tạo tác, và có nghiệp dụng sai
khiến tâm làm lành, dữ. Nghĩa là thủ lấy tướng chánh nhân
của cảnh rồi khu dịch khiến tâm làm lành, dữ (thủ tướng
tà nhân thì khiến tâm tạo ác v.v...).
Năm
Tâm sở trên đã nhiếp thuộc vào biến hành, cho nên quyết
định cùng với Tạng thức tương ưng. Tướng của Biến hành,
đoạn sau sẽ nói rộng.
- Hành
tướng năm Tâm sở xúc v.v... tuy khác với hành tướng của
thức Dị thục, nhưng mà đồng thời, đồng chỗ nương, đồng
cảnh sở duyên, đồng có tự thể như nhau, nên gọi là tương
ưng.
Lại
"thọ" tương ưng với thức Dị thục này, nó chỉ có chơn
Dị thục, và cứ chuyển theo dẫn nghiệp quá khứ, không cần
đợi các duyên hiện tại. Vì chỉ cứ nhậm vận chuyển theo
thế lực của nghiệp thiện ác, cho nên chỉ là "xả thọ".
Còn khổ thọ, lạc thọ là Dị thục sanh, không phải chân
Dị thục, nó phải đợi có duyên hiện tại mới có. Do đó
khổ thọ, lạc thọ không tương ưng với thức Dị thục này.
- Lại
do thức Dị thục này thường không biến chuyển, loài hữu
tình thường chấp nó làm tự nội ngã, nếu nó cùng với
khổ thọ, lạc thọ tương ưng, thì ra nó có chuyển biến,
hữu tình đâu còn chấp nó làm ngã. Cho nên biết thức này
chỉ tương ưng với "xả thọ".
Hỏi:
- Nếu vậy tại sao thức này cũng là Dị thục quả của nghiệp
ác chiêu cảm?
Ðáp:
- Ðã chấp nhận thiện nghiệp có thể chiêu cảm xả thọ,
thì ác nghiệp đây cũng nên thế, vì xả thọ không trái với
khổ, lạc. Ví như pháp vô ký, thiện hay ác nó đều chiêu
cảm được cả.
Hỏi:
- Tại sao thức Dị thục này không tương ưng với Tâm sở
Biệt cảnh?
Ðáp:
- Vì năm Tâm sở Biệt cảnh có tánh trái nhau. Nghĩa là:
Tâm
sở dục (hy vọng) chỉ sanh ra đối với cảnh vui thích, còn
thức này nhậm vận theo nghiệp chuyển, không có hy vọng gì.
Tâm
sở thắng giải chỉ phát sanh đối với cảnh đã ấn hợp
kiên trì quyết định, còn thức này hôn muội không ấn hợp
kiên trì gì.
Tâm
sở niệm chỉ nhớ rõ đối với việc đã từng trải qua,
tập quen, còn thức này hôn muội yếu kém không thể nhớ
rõ gì.
Tâm
sở định có khả năng khiến tâm chuyên chú vào một
cảnh, còn thức này cứ nhậm vận từng sát na duyên theo cảnh
duyên khác nhau.
Tâm
sở tuệ chỉ chọn lựa việc được, mất v.v... còn thức
này vi tế, muội liệt không thể chọn lựa gì.
Thế
nên thức Dị thục này không cùng năm Tâm sở Biệt cảnh
tương ưng.
- Laị
thức này là tánh Dị thục (vô lý) cho nên không tương ưng
với Tâm sở có tánh thiện (mười một thiện Tâm sở) và
tâm sở có tánh ô nhiễm (phiền não tâm sở).
- Bốn
Tâm sở bất định như ố tác, thùy miên, tầm, tứ tuy có
khi là tánh vô ký, song vì có gián đoạn, nên quyết không
phải thức Dị thục tương ưng.
Hỏi:
- Pháp có bốn thứ là thiện, bất thiện, hữu phú vô ký,
vô phú vô ký. A lại da thức thuộc về pháp nào?
Ðáp:
- Thức này chỉ là vô phú vô ký, vì là tánh Dị thục. Thức
Dị thục nếu là thiện hay ô nhiễm thì lưu chuyển sanh tử
và hoàn diệt. Niết bàn (nếu thiện thì chỉ thành hoàn diệt,
nhiễm thì chỉ thành lưu chuyển) không thể thành được.
Lại
thức này là chỗ nương của thiện và ô nhiễm, nếu nó chỉ
là thiện hay chỉ là ô nhiễm thì nó trái ngược nhau, không
thể cùng làm chỗ nương cho cả hai thứ.
Lại
thức này là chỗ bị huân tập, nếu thiện hay nhiễm thì
như mùi rất thơm hoặc rất thối, đều không thể chịu sự
huân tập từ các mùi khác với nó. Và nếu không huân tập
thì nhân quả tạp nhiễm và thanh tịnh đều không thành được.
Cho nên thức này chỉ là vô phú vô ký.
Phú
nghĩa là pháp ô nhiễm làm chướng ngại Thánh đạo, lại
thường che lấp tâm làm cho bất tịnh. Thức này không phải
ô nhiễm nên gọi là vô phú.
Ký
nghĩa là điều thiện, ác, quả báo khả ái, phi khả ái, và
tự thể thù thắng, đều có thể ghi nhận rõ ràng. Thức
này không phải thiện, ác nên gọi là vô ký.
- Câu
"Xúc Tâm sở v.v... cũng như thế", nghĩa là như thức A lại
da, chỉ nhiếp về tánh vô phú vô ký, các Tâm sở xúc, tác,
ý, thọ, tưởng, tư cũng thế, vì pháp tương ưng tất phải
đồng tánh với nhau.
- Lại
năm Tâm sở xúc v.v... như A lại da, cũng là Dị thục, sở
duyên và hành tướng của nó đều không thể biết rõ, và
nó duyên ba thứ tánh cảnh là chủng tử, căn thân, khí giới,
thì năm Tâm sở tương ưng với nó cũng tánh vô phú vô ký
... Cho nên luận văn nói: "Xúc Tâm sở v.v... cũng như thế".
- Có
thuyết cho rằng: "Tâm sở xúc v.v... như A lại da, cũng là
Dị thục và Nhất thiết chủng"; rộng nói cho đến "nó là
tánh vô phú vô ký"; vì câu tụng chỉ nói: "cũng như thế",
chứ không giản biệt.
Lối
nói kia cũng phi lý. Vì sao? Vì xúc nương theo thức, không được
tự tại, như Tâm sở tham, tín v.v... không thể thọ huân,
làm sao xúc v.v... đồng với thức A lại da có khả năng
giữ gìn chủng tử.
Lại
nếu Tâm sở xúc v.v... cũng có thể chịu sự huân tập, thì
lý đáng một hữu tình có sáu cá thể chủng tử (Một Tâm
vương, năm Tâm sở biến hành cùng huân). Nếu vậy khi có
quả sanh khởi, nó từ chủng tử nào mà sanh khởi? Lẽ không
thể nói từ cả sáu chủng tử sanh khởi, vì chưa từng thấy
nhiều hạt giống sanh ra một mầm. Nếu nói quả sanh ra chỉ
từ một chủng tử, thì năm thứ chủng tử kia trở thành
vô dụng. Cũng không thể nói từ chủng tử này đến chủng
tử kia lần lượt sanh quả, vì khi huân tập đồng một lúc,
có thế lực ngang nhau. Lại cũng không thể nói cả sáu quả
(do A lại da và năm Tâm sở Biến hành) đồng thời vụt sanh,
vì không thể có một hữu tình trong cùng một sát na sanh ra
sáu nhãn thức, nhĩ thức v.v...
- Ai
nói Xúc tâm sở v.v... cũng có thể thọ huân và giữa gìn
chủng tử?
- Nếu
không thể, tại sao nói: "Xúc v.v... cũng như thức", gọi là
Nhất thiết chủng.
- Ðó
là vì năm Tâm sở xúc, tác ý v.v... có tướng phần tương
tợ chủng tử, nên gọi là Nhất thiết chủng. Và vì cảnh
sở duyên của xúc cùng với sở duyên của thức bằng nhau,
vì ở cõi Vô sắc, Xúc tâm sở có cảnh sở duyên, vì thân
- sở - duyên - duyên tất phải khi nào cũng có.
- Tướng
chủng tử tương tợ trên Xúc tâm sở nói đây, không phải
là nhân duyên sanh ra hiện thức, giống như trên Xúc Tâm sở
hiện ra tướng nhãn căn tương tợ, nó không phải thật làm
chỗ nương cho thức, cũng như lửa tương tợ không có công
dụng đốt cháy.
- Lời
cứu nạn của người kia phi lý. Xúc, tác ý v.v... duyên tướng
chủng tử tương tợ, điều này đến đoạn nói về "chỗ
chấp thọ" mới nên đem so sánh với thức.
- Do
đó, trước đây bài tụng nói câu "nhất thiết chủng" hẳn
là nói đến nghĩa thức thọ huân, giữ gìn chủng tử, (chứ
không nói sở duyên chủng tử hữu lậu). Nếu không phải
vậy, thì ở bổn tụng có lỗi nói trùng lập.
Lại
tụng kia nói câu "cũng như vậy" vì không có giản biệt, cho
nên đem so sánh làm chứng không thành. Không thể nói năm Tâm
sở xúc v.v... cũng có khả năng liễu biệt. Xúc ... cũng
tương ưng với xúc như thức ... đo đó nên biết câu "cũng
như vậy" trong bài tụng, là tùy theo chỗ thích hợp mà nói,
chứ không phải bảo xúc giống như thức Dị thục tất cả.
(19)
- Thức
A lại da là đoạn hay thường?
- Chẳng
phải đoạn chẳng phải thường. Vì nó hằng mà chuyển vậy.
"Hằng" nghĩa là thức này từ vô thỉ đến nay, một loại
tương tục thường hằng không gián đoạn, vì là căn gốc
từ đó thi thiết có ba cõi, sáu đường, bốn loài. Vì thể
tánh bền chắc, duy trì chủng tử không để mất. "Chuyển"
nghĩa là thức này từ vô thỉ đến nay, niệm niệm sanh diệt,
trước sau biến khác, nhân diệt quả sanh, chẳng phải thường
nhất, nên có thể làm chỗ cho bảy chuyển thức huân tập
thành chủng tử. Nói "hằng" là ngăn không phải đoạn, nói
"chuyển" là biểu thị không phải thường. Giống như dòng
nước dốc. Nhân quả là như vậy, như dòng nước dốc chẳng
phải đoạn chẳng phải thường, tiếp nối mãi thành có sự
trôi nổi, chìm đắm. Thức này cũng vậy, từ vô thỉ đến
nay, sanh diệt tiếp nối chẳng phải thường, chẳng phải
đoạn, làm trôi nổi chìm đắm loài hữu tình, không để
thoát ra khỏi.
Lại
như dòng nước dốc, tuy có bị gió kích động nổi sóng mà
vẫn chảy không dứt. Thức này cũng vậy, tuy có gặp các
duyên khởi lên nhãn thức v.v... vẫn hằng tiếp nối không
dứt.
Lại
như dòng nước dốc, tuy chảy lên xuống mà các vật cá, tôm,
cỏ rác vẫn theo dòng chảy không rời bỏ, Thức cũng vậy,
các tập khí bên trong và các pháp xúc Tâm sở bên ngoài vẫn
thường đi theo chuyển biến.
Pháp
và dụ như trên, ý muốn hiển bày thức này từ vô thỉ nhân
quả tiếp nối chẳng phải đoạn, chẳng phải thường.
Nghĩa
là tánh của thức này từ vô thỉ lại, sát na, sát na, quả
sanh nhân diệt. Vì quả sanh cho nên chẳng phải đoạn, nhân
diệt cho nên chẳng phải thường. Chẳng phải đoạn, chẳng
phải thường là ý nghĩa của lý Duyên khởi. Cho nên nói thức
này hằng mà chuyển như dòng nước dốc.
Hỏi:
- Quá khứ và vị lai đã không phải thật có, nên nói phi
thường là được, chứ sao lại phi đoạn? Mà phi thường
tức là đoạn, thi đâu đưọc thành chánh lý Duyên khởi?
Ðáp:
- Quá khứ và vị lai nếu là thật có thì có thể cho là phi
đoạn, chứ sao lại phi thường? Mà phi đoạn tức là thường,
cũng không thành chánh lý Duyên khởi.
Hỏi:
- Tuy nhiên đâu phải chỉ bác lỗi người khác mà nghĩa của
mình được thành?
Ðáp:
- Nếu không tồi tà thì khó mà hiển chánh. Ngay khi nhân trước
diệt là quả sau sanh, hai đầu như quả cân cao thấp cùng
lúc. Như thế nhân quả tiếp nối như dòng nước, cần gì
phải thật có quá khứ và vị lai mới thành phi đoạn.
Hỏi:
- Ngay khi nhân hiện hữu thì hậu quả chưa sanh. Vậy nhân
đó là nhân của cái gì? Ngay khi quả hiện hữu thì nhân trước
đã qua mất, vậy quả ấy là quả của cái gì? Ðã không
nhân quả thì cái gì lìa đoạn thường?
Ðáp:
Nếu nói ngay khi có nhân đã có hậu quả, vậy quả đó đã
sẵn có cần gì đợi nhân trước? Nhân đã không có thì quả
làm sao có? Không nhân không quả, đâu có lìa đoạn thường?
- Theo
Ðại thừa giáo, nghĩa nhân quả được thành là nương nơi
tác dụng của pháp thể, cho nên điều cật nạn của ông
không liên quan gì đến tông chỉ Ðại thừa của tôi. Nếu
theo ông, quả thể đã vốn có thì quả dụng cũng vốn có
và nhân duyên được chờ đợi cũng vốn có, như thế thì
nhân quả quyết không có.
- Vậy
hãy nên tin theo chánh lý duyên khởi của Ðại thừa, đó là
chánh lý thâm diệu ly ngôn. Nói nhân nói quả, đều là giả
thiết đặt. Cứ quán sát pháp hiện tại thấy có tác dụng
dẫn đến sau, giả lập cho đó là quả đương lai và đối
lại nói là nhân hiện tại. Quán sát pháp hiện tại có tướng
thù đáp đối với trước, giả lập cho đó là nhân quá khứ,
và đối lại nói là quả hiện tại. "Giả" nghĩa là trên
hiện thức hiện ra tợ như tướng nhân, tướng quả kia.
Như
vậy lý thú nhân quả rõ ràng, xa lìa hai bên đoạn thường,
khế hội trung đạo. Các người có trí nên thuận theo đó
mà tu học.
- Có
các Bộ phái khác nói: "Tuy không có quá khứ, vị lai, song
có nhân quả thường tiếp nối". Nghĩa là pháp hiện tại,
di chuyển rất nhanh như là có hai thời kỳ đầu và cuối.
Khi sanh thì đáp trả nhân, khi diệt thì dẫn sanh quả. Thời
gian tuy có hai mà thể là một. Ngay khi nhân trước diệt là
ngay khi quả sau sanh. Thể tướng tuy khác nhau mà đều thật
có. Như vậy nhân quả chẳng phải giả bịa đặt, nhưng lìa
đoạn thường, không bị cật nạn trên. Làm sao người có
trí lại bỏ đây mà tin kia?
Luận
chủ: Lời kia chỉ nói là suông, hoàn toàn không có thật nghĩa.
Nếu chỉ trong một niệm mà có hai thời, sanh và diệt trái
nhau, thì làm sao có thể đồng trong hiện tại? Diệt nếu
ở hiện tại thì sanh phải ở vị lai. "Có" gọi là sanh, đã
là hiện tại, "không" gọi là diệt, làm sao chẳng phải là
quá khứ? Diệt nếu là chẳng phải không, thì sanh chẳng phải
có. Sanh đã là hiện hữu, thì diệt nên là hiện vô. Lại
cả hai trái nhau, làm sao thể là một? Chẳng phải như khổ
với lạc mà thấy có điều đó. Sanh và diệt nếu là một,
thì thời gian trước sau phải hai, còn sanh và diệt khác nhau,
thì đâu có thể nói thể đồng. Cho nên sanh và diệt đều
có trong hiện tại, đồng nương một thể, lý lẽ ấy không
thành.
- Kinh
Bộ Sư, chủ trương nhân quả tiếp nối, lý cũng không thành;
vì họ không chấp nhận có thức A lại da giữ gìn chủng
tử.
- Do
đó, nên tin theo chánh lý duyên khởi nhân quả tiếp nối của
Ðại thừa. (20)
- Thức
này từ vô thỉ thường hằng và chuyển biến như dòng nước,
vậy cho đến địa vị nào mới xả bỏ nó hoàn toàn?
- Ở
địa vị A la hán mới hoàn toàn xả bỏ nó. Nghĩa là các
bậc Thánh dứt phiền não chướng đến khi hoàn toàn sạch
hết thì gọi là A la hán. Bấy giờ thứ phiền não thô trọng
ở thức này vĩnh viễn xa lìa, nên gọi đó là xả bỏ.
Trong
đây nói A la hán là nhiếp chung cả quả vị vô học của
ba thừa. Vì cả ba thừa đều đã sát hại vĩnh viễn giặc
phiền não, xứng đáng lãnh thọ sự cúng dường tốt đẹp
của thế gian, vĩnh viễn không còn chịu quả sanh tử phân
đoạn.
- Làm
sao biết như thế? – Vì trong Quyết trạch phần ở luận
Du già nói: "Các vị A la hán, Ðộc giác và Như Lai đều không
còn thành tựu thức A lại da" (tức không còn ngã ái chấp
tàng). Tập Luận lại nói: "Các Bồ tát khi đắc Bồ đề,
thì liền dứt phiền não và sở tri chướng, thành quả vị
A lại da và Như Lai".
Hỏi:
- Nếu vậy, vi Bồ tát chưa vĩnh viễn dứt sạch chủng tử
phiền não, không phải là A la hán, thì lý đáng các vị ấy
đều phải thành tựu thức A lại da, thế cớ sao cũng chính
trong Quyết trạch phần kia nói: "Bồ tát bất thối, cũng không
thành tựu thức A lại da?" (Thành tựu đây có nghĩa là còn
có thức A lại da).
Ðáp:
Quyết trạch phần kia nói thế là chỉ cho người ở quả
vị vô học của Nhị thừa mà hồi tâm thú hướng đại Bồ
đề, chắc chắn họ không còn trở lui khởi phiền não chướng.
Vì bấy giờ họ đã thú hướng Bồ đề nên được đổi
tên gọi là Bồ tát bất thối. Người này không thành tựu
thức A lại da, tức là họ thuộc vào trong hàng A la hán. Cho
nên luận văn kia không trái với nghĩa này.
Lại
bậc Bồ tát ở Ðệ bát Bất động trở lên, nơi họ tất
cả phiền não vĩnh viễn không hiện hành, cứ nhậm vận trôi
trong dòng pháp chấp, có thể ở trong các hạnh như bố thí
v.v... mà khởi lên đủ các hạnh, và vì từng sát na, sát
na chuyển tiến thêm dần; cho nên ở địa vị này mới được
gọi là Bồ tát bất thối và bất động.
Song
vị Bồ tát bất động địa này tuy chưa dứt sạch chủng
tử phiền não trong Dị thục thức, mà ngã kiến, ngã
ái duyên thức Dị thục này cũng không còn chấp tàng làm
tự nội ngã, đo đó vĩnh viễn bỏ tên gọi A lại da. Nên
nói ở địa vị này không thành tựu thức A lại da, và cũng
gọi đây là A la hán.
- Có
thuyết cho rằng Bồ tát từ Sơ địa trở lên vì đã chứng
được chơn lý do hai không biểu lộ, đã được hai thứ trí
căn bản, hậu đắc thù thắng, đã dứt hai trọng chướng
(chủng tử) phân biệt, và trong một hạnh khởi đủ các hạnh,
nên tùy họ có vì sự lợi ích chúng sanh mà khởi phiền não
thì họ cũng không gây tội lỗi phiền não, cho nên gọi họ
là Bồ tát bất thối. Song vị Bồ tát này tuy chưa dứt sạch
phiền não câu sanh, mà phân biệt duyên thức này cũng không
còn chấp tàng làm tự nội ngã. Do đó, cũng bỏ tên A lại
da. Cho nên nói ở địa vị này không thành tựu thức A lại
da và trong bài tụng này cũng nói Bồ tát Sơ địa trở lên
là A la hán. Thế nên trong Tập Luận nói lời như thế này:
"Thập địa Bồ tát tuy chưa vĩnh viễn dứt sạch tất cả
phiền não, nhưng phiền não này chỉ như các thứ độc bị
chú thuật và thuốc đối trị, nó không có tội lỗi của
phiền não. Trong mọi địa vị, họ như A la hán đã dứt sạch
phiền não, cho nên cũng gọi họ là A la hán".
Luận
chủ: - Kia nói thế phi lý. Từ đệ Thất địa trở về trước
vẫn còn có ngã kiến, ngã ái câu sanh, (chứ không phải phân
biệt) chấp tàng thức này làm tự nội ngã, thì thế nào
mà bỏ được tên A lại da. Còn nếu ngã kiến ngã ái phân
biệt (chứ pháp phải câu sanh) kia không còn chấp tàng thức
này làm tự nội ngã mà cũng gọi là bỏ, thì các bậc hữu
học trong hàng Dự lưu v.v... cũng có thể đã bỏ tên A lại
da sao? Nếu chấp nhận như thế thì trái nghịch, phá hại
điều đã nói trong các luận.
- Bồ
tát ở địa thượng, đều do chánh trí, nên dầu có phiền
não cũng không lỗi lầm. Hàng Dự lưu không thể có được
việc đó, đâu có thể đem hàng Dự lưu kia sánh với Bồ
tát?
Luận
chủ: - Trong lục thức của vị Bồ tát nhập địa dầu có
khởi phiền não, nhưng do có chánh trí nên không mắc tội
lỗi của phiền não, còn đệ thất thức ở địa vị tâm
hữu lậu, vẫn nhậm vận hiện hành chấp tàng thức thứ
tám, như vậy đâu không phải đồng với Dự lưu. Do đó nên
biết kia nói phi lý.
Nhưng
A la hán đã dứt sạch phiền não thô trọng trong Tạng thức,
không còn chấp tàng A lại da thức làm tự nội ngã, đo đó
vĩnh viễn mất hẳn tên gọi A lại da, mà gọi là "bỏ", chứ
không phải xả bỏ tất cả thức thể A lại da. Chớ bảo
rằng A la hán không có thức giữ gìn chủng tử, bấy giờ
bèn nhập Vô dư Niết bàn.
Thức
thứ tám, tuy mỗi hữu tình đều có, song tùy theo nghĩa sai
biệt khác mà đặt ra nhiều tên gọi.
Hoặc
gọi là Tâm, bởi nó là nơi chứa nhóm các chủng tử do các
pháp huân tập vào. Hoặc gọi là A đà na, bởi nó chấp giữ
chủng tử và sắc căn không để hoại mất. Hoặc gọi là
Sở tri y, bởi nó làm chỗ nương dựa cho các pháp sở tri
nhiễm tịnh. Hoặc gọi là Chủng tử thức, bởi nó nhậm
vận chấp trì các chủng tử các pháp khắp cả thế và xuất
thế gian. Các tên nêu trên đây xuyên suốt mọi địa vị
từ phàm phu đến Hiền Thánh.
Hoặc
gọi là A lại da, bởi nó nhiếp giữ các pháp tạp nhiễm
và bởi nó bị ngã kiến, ngã ái chấp tàng làm tự nội ngã.
Tên gọi này chỉ có ở địa vị Dị sanh, hữu học, chứ
không thể có ở địa vị vô học và Bồ tát bất thối,
vì các địa vị này đâu còn có nghĩa chấp tàng pháp tạp
nhiễm.
Hoặc
gọi là Dị thục thức, bởi nó dẫn đến quả Dị thục
của nghiệp thiện ác trong đường sanh tử. Tên gọi này chỉ
có ở địa vị Dị sanh, Nhị thừa và Bồ tát, chứ không
phải có địa vị Như Lai vì Như Lai đâu còn có pháp Dị
thục vô ký.
Hoặc
gọi là Vô cấu thức, bởi nó làm chỗ nương dựa cho các
pháp cực thanh tịnh vô lậu. Tên gọi này chỉ có địa vị
Như Lai. Vì ở Bồ tát, Nhị thừa và Dị sanh còn chấp giữ
chủng tử hữu lậu, còn có thể chịu huân tập, chưa được
thức thứ thứ tám trọn lành thanh tịnh. Như Khế kinh nói:
Thức
vô cấu của Như Lai,
Là
tánh tịnh vô lậu,
Giải
thoát hết mọi chướng,
Trí
viên cảnh tương ưng.
Tên
A lại da vì tội lỗi nặng, vì bị xả bỏ trước hết, cho
nên trong tụng đây nhấn mạnh trước. Thức thể Dị thục
thì khi Bồ tát sắp chứng Bồ đề liền xả bỏ, và khi Thanh
văn, Ðộc giác nhập Vô dư y Niết bàn cũng xã bỏ. Còn thức
thể Vô cấu không có bao giờ xả, vì thời gian lợi lạc
hữu tình là vô tận. Bốn tên Tâm, A đà na, Sở tri y, Nhất
thiết chủng, xuyên suốt tất cả địa vị, tùy nghĩa nhiễm
tịnh thích hợp mà gọi tên.
- Nhưng
thức thứ tám tổng có hai địa vị:
1.
- Ở địa vị hữu lậu, nó nhiếp thuộc tánh vô ký, tuy tương
ưng với năm Tâm sở biến hành, chỉ duyên cảnh chấp thọ
và xứ như trên đã nói.
2.
Ở địa vị vô lậu, nó nhiếp thuộc thiện tánh, tương ưng
với 21 Tâm sở là năm Biến hành, năm Biệt cảnh và 11 thiện,
vì (Biến hành tâm sở) thường tương ưng với nhất thiết
tâm, (Dục tâm sở) thường ưa chứng tri cảnh sở quán, vì
(Thắng giải tâm sở) thường ấn nhập kiên trì nơi cảnh
sở quán, vì (Niệm tâm sở) thường nhớ rõ cảnh đã trải
qua, vì (Ðịnh tâm sở) Thế Tôn không lúc nào là không có
định tâm, vì (Tuệ tâm sở) thường quyết trạch hết thảy
pháp, vì có lòng tin cực tịnh, nên thường tương ưng 11 thiện,
vì không ô nhiễm nên không tương ưng căn tùy phiền não.
Vì không tán động nên không tương ưng Tâm sở Bất định,
và nó cũng chỉ tương ưng với xả thọ, vì hằng thường
nhậm vận tự tại chuyển một cách bình đẳng. Và lấy tất
cả pháp làm cảnh sở duyên, vì trí viên cảnh duyên khắp
hết thảy pháp. (21)