IX.
CHỨNG MINH CÓ THỨC THỨ TÁM
- Làm
sao biết ngoài nhãn thức v.v... riêng có tự thể thức thứ
tám?
Lấy
Thánh giáo và chánh lý làm định lượng mà biết có. Như
trong Khế kinh Ðại thừa A tỳ đạt ma nói:
Giới
từ vô thỉ lại,
Hết
thảy pháp đều nương,
Do
đó có các thú,
Và
Niết bàn chứng đắc.
Thức
thứ tám này, tự tánh vi tế cho nên lấy tác dụng để chỉ
bày nó. Nữa bài tụng đầu chỉ rõ thức thứ tám có tác
dụng làm nhân duyên. Nữa bài tụng sau chỉ rõ thức thứ
tám có tác dụng làm chỗ nương tựa, chấp trì lưu chuyển
(các thú) và hoàn diệt (Niết bàn). Chữ "giới) có nghĩa là
nhân, tức là chủng tử thức, từ vô thỉ lại, lần lượt
tiếp nối, đích thân sanh ra các pháp, cho nên gọi là nhân
(giới). Chữ "nương" (y) nghĩa là duyên, tức là thức chấp
trì. Thức này từ vô thỉ lại làm chỗ nương tựa một cách
bình đẳng cho hết thảy pháp, cho nên gọi là duyên. Nghĩa
là vì nó chấp trì (trì) các chủng tử, và làm chỗ nương
(y) cho các pháp hiện hành, do chủng tử mà biến ra pháp hiện
hành kia và do chấp trì mà làm chỗ nương cho pháp hiện hành
kia.
Biến
ra pháp kia là biến ra khí thế giới và thân có các căn. Làm
chỗ nương cho pháp kia là làm chỗ nương cho các chuyển thức.
Vì thức chấp thọ năm sắc căn, mà khiến cho năm thức nhãn,
nhĩ, v.v... nương căn đó chuyển hiện; lại làm chỗ nương
cho thức Mạt na, và ý thức thứ sáu nương Mạt na đó chuyển
hiện. Vì Mạt na và ý thức đều thuộc chuyển thức, nên
giống như nhãn thức v.v... phải nương nơi căn câu hữu mới
phát khởi được. Thức thứ tám vì là thức tánh, nên cũng
lấy thức thứ bảy làm câu hữu y. Ðây là nói về cái dụng
làm nhân duyên của thức thứ tám.
Trong
bài tụng chữ "đo đó có" là do có thức thứ tám này. Chữ
"có các thú: là các cõi thiện ác. Nghĩa là do có thức thứ
tám này chấp trì tất cả pháp thuận với luân hồi lưu chuyển;
mà khiến các hữu tình phải lưu chuyển trong sanh tử. Tuy
hoặc, nghiệp và sanh (tứ sanh), đều là lưu chuyển, nhưng
"thú" (đường) là quả, vì trọng yếu hơn nên nói nhấn mạnh
(các thú). Hoặc chữ "chư thú" xuyên suốt cả năng thú và
sở thú. Vì đồ tư dụng (tức hoặc và nghiệp) của các
thú, cũng gọi tên là thú.
Các
hoặc, nghiệp và sanh, đều nương nơi thức này. Ðó là thức
này có tác dụng làm chỗ y trì cho sự lưu chuyển.
Câu
"Và Niết bàn chứng đắc" là do có thức thứ tám này, cho
nên có Niết bàn chứng đưọc, nghĩa là do có thức thứ tám
này chấp trì tất cả pháp thuận với sự hoàn diệt, khiến
kẻ tu hành chứng đắc Niết bàn. Trong đây chỉ nói đạo
chứng đắc, vì Niết bàn không dựa nới thức này mà có.
Hoặc đây chỉ nói Niết bàn sở chứng, vì nó chính là điều
mà kẻ tu hành mong cầu.
Hoặc
ở đây nói chung cả Niết bàn (Diệt đế) và đạo (Ðạo
đế) đều là nhiếp thuộc vào phẩm loại hoàn diệt. Nghĩa
là Tụng nói chữ "Niết bàn" là biểu thị cảnh tịch diệt
được chứng. Còn Tụng nói chữ "chứng đắc" tiếp sau, là
biểu thị đạo năng đắc. Do đạo năng đoạn (vô gián đạo)
mà đoạn đưọc lậu hoặc sở đoạn, đến địa vị cứu
cánh chứng đắc Niết bàn. Ðạo năng đoạn, lậu hoặc ở
đoạn, đạo năng chứng, Niết bàn sở chứng đều nương
nơi thức này. Ðó là thức này có tác dụng làm chỗ y trì
cho hoàn diệt.
Lại,
trong bài tụng trên, câu đầu là hiển thị tự tánh của
thức này hằng có từ vô thỉ. Ba câu sau là hiển thị nó
làm chỗ y chỉ hoặc tổng, hoặc biệt cho hai pháp tạp nhiễm
và thanh tịnh. Pháp tạp nhiễm là Khổ đế, Tập đế, tức
là sở thú và bốn loài sanh, và năng thú là hoặc, nghiệp.
Pháp thanh tịnh là Diệt đế, Ðạo dế, tức Niết bàn sở
chứng và đạo năng chứng. Niết bàn và đạo, cả hai thứ
kia đều nương thức này mà có. Còn nếu nương chuyển thức
thì không thành.
Hoặc
câu đầu của bài tụng hiển thị thức thể từ vô thỉ
tiếp nối, ba câu sau hiển thị làm chỗ y chỉ cho ba thứ
tự tánh, là Y tha khởi tánh (câu tụng hai), Biến kế sở
chấp tánh (câu tụng ba) và Viên thành thật tánh (câu tụng
bốn). Theo thứ lớp như thế nên biết.
- Những
nghĩa được nói trong bài tụng trên, nếu lìa thức thứ tám
thì các nghĩa ấy không thành. Chính trong kinh Ðại thừa A
tỳ đạt ma kia còn nói:
Do
thức nhiếp tàng hết,
Chủng
tử của các pháp,
Nên
gọi A lại da.
Ta
chỉ dạy người thắng.
Do bản thức thứ tám này đầy đủ các chủng tử, cho nên
có thể nhiếp tàng các pháp tạp nhiễm, để nương theo nghĩa
ấy mà đặt tên thức thứ tám này là A lại da, chẳng phải
như "Thắng tánh" của phái Thắng luận chấp nó chuyển biến
thành Giác đại v.v... ở đây, thể chủng tử với quả của
chủng tử chẳng phải một, vì năng y chỉ và bị y chỉ đều
cùng sanh, cùng diệt.
Vì
nó cùng với pháp tạp nhiễm nhiếp tàng lẫn nhau, đồng thời
nó là nơi bị loài hữu tình chấp tàng làm ngã, cho nên thức
này tên là A lại da.
- Các
vị Bồ tát đã vào kiến đạo được chơn hiện quán, gọi
đó là người thắng. Các vị này có thể chứng biết thức
A lại da, cho nên đức Thế Tôn ta chính thức vì họ khai thị
dạy bảo. Hoặc tất cả Bồ tát trước mười địa đều
được gọi là người thắng. Tuy trước khi vào kiến đạo,
họ chưa thể chứng biết thức A lại da, nhưng có thể tin
biết lý Duy thức để cầu được quả chuyển y nó, nên Phật
cũng dạy cho. Các chuyển thức không thể có được các nghĩa
đó.
- Kinh
Giải Thâm Mật cũng nói như vầy:
Thức
A đà na rất thâm tế,
Các
chủng tử như dòng nước dốc,
Ta
không chỉ dạy hàng phàm phu,
Sợ
chúng phân biệt chấp làm ngã.
Vì
có khả năng chấp trì chủng tử các pháp, lại có khả năng
chấp thọ năm sắc căn và thân của sắc căn nương, cũng
có khả năng chấp thủ uẩn nghiệp kiết sanh tiếp nối,
cho nên nói thức này tên là A đà na. Hạng hữu tình không
có chủng tánh giác ngộ thì không thể biết cùng căn để
của nó, nên nói là rất sâu; còn hạng có chủng tánh Nhị
thừa thú tịch thì không thể thông đạt, nên nói là rất
tế. Ðây là chủng tử thật của hết thảy pháp, hể gặp
duyên kích thích thì liền hiện sanh các sóng mòi chuyển thức,
và thường hằng không gián đoạn, như dòng nước dốc. Trong
bài tụng, nói "phàm" tức chỉ hạng người không có chủng
tánh giác ngộ; nói "ngu" tức chỉ cho hàng Nhị thừa thú tịch.
Vì sợ hai hạng đó đối với thức này khởi tâm phân biệt,
vọng chấp làm ngã mà bị đoạ vào đường ác, chướng ngại
cho sự sanh vào Thánh đạo, nên đức Thế Tôn ta không chỉ
dạy cho họ.
Chỉ
có thức thứ tám mới có đủ các tướng như thế.
- Kinh
Nhập Lăng già cũng nói như vầy:
Như
biển gặp duyên gió,
Khởi
đủ thứ sóng mòi,
Sanh
tác dụng hiện tiền,
Không
lúc nào gián đoạn
Biển
Tạng thức cũng thế,
Gió
cảnh giới kích động,
Thường
khởi các sóng thức,
Sanh
tác dụng hiện tiền.
Các
thức nhãn, nhĩ, v.v... không thể giống như biển lớn, thường
tiếp nối chuyển biến khởi lên các sóng thức, cho nên biết
phải riêng có thức tánh thứ tám.
Trong
vô lượng kinh Ðại thừa đều nói riêng có thức thứ tám
này. Mà các kinh Ðại thừa đều là thuận với lý vô ngã,
và trái với sát thủ thứ (hữu tình ngã), là kinh có lý lẽ
trái bỏ lưu chuyển sanh tử, thú hướng hoàn diệt Niết bàn,
tán thán Phật, Pháp, Tăng, hủy báng các ngoại đạo, biểu
thị các pháp uẩn, xứ, giới, ngăn ngừa thắng tánh của
ngoại đạo. Cho nên người ưa thích Ðại thừa đều chấp
nhận kinh Ðại thừa có thể hiển bày nghĩa lý không điên
đảo, vì nó nhiếp thuộc vào Khế kinh, ví như kinh Tăng Nhất
v.v... đều là thuộc vào chí giáo lượng.
Lại,
Thánh Từ Thị dùng bảy nhân sau đây để chứng minh kinh Ðại
thừa thật là do Phật nói:
1.
Vì trước đó Phật không thọ ký – Nêú kinh Ðại thừa
là do những người sau khi đức Phật diệt độ, muốn phá
hoại Chánh pháp mà nói ra, thì tại sao Thế Tôn không dự
ký trước, như Ngài từng dự ký các việc bố ủy sẽ xảy
ra?
2.
Vì vốn cùng lưu hành – Kinh Ðại, Tiểu thừa giáo trước
đến nay cùng lưu hành, vậy thì làm sao biết riêng kinh Ðại
thừa là không phải của Phật nói.
3.
Vì không phải cảnh giới của người khác – Giáo lý Ðại
thừa rộng lớn rấtr sâu, không phải là cảnh giới của
hàng ngoại đạo tư lường biết đến đưọc, trong kinh luận
của họ chưa từng nói đến giáo lý Ðại thừa, dẫu có
nói cho họ nghe, họ cũng không tin thọ. Cho nên kinh Ðại thừa
chẳng phải là người không phải Phật nói được.
4..
Vì nên công nhận - Nếu bảo giáo lý Ðại thừa do các đức
Phật khác nói chứ không phải do đức Thích Ca nói, thế thì
giáo lý Ðại thừa là Phật nói, lẽ đó rõ ràng phải công
nhận.
5.
Vì lẽ có, không có - Nếu chấp nhận có giáo lý Ðại thừa,
thời nên tin giáo lý ấy là do Phật nói, vì ngoài kinh Ðại
thừa thì không có giáo lý Ðại thừa. Nếu bảo không có
giáo lý Ðại thừa, thì giáo lý Thanh văn thừa cũng không
có, vì ngoài Ðại thừa giáo thì quyết định không biết
nương vào đâu để thành Phật. Không Phật thì ai ra đời
giảng giáo lý Thanh văn thừa. Cho nên chỉ chấp nhận Thanh
văn thừa giáo là Phật nói, mà chê bai Ðại thừa giáo là
không đúng lý.
6.
Vì đối trị - Những người y theo Ðại thừa giáo siêng năng
tu hành, đều có thể đạt đến trí vô phân biệt, có khả
năng chính thức đối trị tất cả phiền não. Thế nên tin
kinh Ðại thừa là Phật nói.
7.
Vì nghĩa khác văn – Giáo lý Ðại thừa ý thú rất sâu sắc,
không thể theo văn thủ nghĩa nói, rồi sanh tâm phỉ báng cho
là không phải Phật nói.
Do
các lý như trên nên biết kinh Ðại thừa thật do Phật nói.
Như trong luận trang nghiêm có bài tụng tóm tắt nghĩa trên:
Trước
chẳng ký, cùng lưu hành
Không
phải cảnh giới ngoại đạo.
Ðồng
công nhận có, không có,
Ðối
trị, và nghĩa khác văn.
Trong
kinh thuộc các bộ phái Phật giáo cũng mật ý nói riêng thức
A lại da, như trong kinh A cấp ma (A hàm) của Ðại chúng bộ,
có chỗ mật ý nói thức này gọi là Căn bản thức, là chỗ
nương của nhãn thức v.v... ví như cội cậy là gốc của
nhánh lá, chứ không phải nhãn thức v.v... có được nghĩa
đó.
- Trong
kinh thuộc phái Thượng tọa bộ và Phân biệt luận giả,
đều có mật ý nói thức này gọi là Hữu phần thức. Hữu
là tam hữu (ba cõi), phần là nhân. Chỉ có thức này thường
hằng cùng khắp mới có thể làm nhân của Tam hữu.
- Hóa
địa bộ nói thức này là Cùng sanh tử uẩn. Lìa thức thứ
tám không thể riêng có pháp uẩn nào đi đến tận cùng ngằn
mé sanh tử, không bao giờ gián đoạn. Nghĩa là ở cõi trời
Vô sắc bị gián đoạn, ở cõi trời Vô tưởng thì các tâm
khác bị diệt mất, còn tâm Bất tương ưng hành pháp thì
lìa sắc và tâm không thể tự có. Ðó là điều đã được
công nhận. Cho nên biết chỉ có thức A lại da này mới gọi
là Cùng sanh tử uẩn.
- Trong
kinh Tăng Nhứt thuộc phái Thuyết Nhất thiết Hữu bộ cũng
mật ý nói: Thức này gọi là A lại da như nói ái A lại da,
lạc A lại da, hân A lại da, hỷ A lại da, nghĩa là lòng tham
của Mạt na đối với A lại da (Àlya - rãma, Àlya - rata, Àlya
- sammudita) trong ba đời tổng có và biệt khác nhau, nên lập
ra bốn tên ấy. Loài hữu tình chấp nó làm tự nội ngã thật,
cho đến khi chưa chấm dứt cái chấp đó, thì luôn luôn sanh
tâm ưa đắm nó. Cho nên A lại da thức mới là chỗ thật
đáng ưa đám, chứ không chịu chấp "năm thủ uẩn", vì khi
sanh vào chỗ thuần chịu khổ thì không ưa đắm thân năm
thủ uẩn ở đó, mà thường xuyên chán ghét thân năm thủ
uẩn đó, nghĩ rằng ta lúc nào sẽ xả bỏ được mạng căn
năm thủ uẩn này, chúng đồng phận này, thân tâm đau khổ
này, để cho ta được tự tại hưởng khoái lạc.
Năm
dục cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa là
người lìa dục, tuy họ không còn tham ưa năm dục, nhưng họ
vẫn ưa cái ta của mình.
Lạc
thọ cũng không phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa là
người xa lìa tạp nhiễm đệ Tam Thiền, tuy họ chán lạc
thọ của đệ Tam Thiền, nhưng họ vẫn ưa cái ta của mình.
Thân
kiến cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa
là những người không phải là bậc vô học nhưng tin lý vô
ngã, tuy họ không sanh lòng ưa đắm thân kiến, song đối với
cái ta bên trong họ vẫn ưa đắm.
Các
chuyển thức cũng chẳng phải cũng chẳng phải là chỗ thật
đáng ưa đắm, nghĩa là những người không phải vô học
nhưng cầu diệt Tâm, tuy họ chán ghét các chuyển thức, nhưng
họ vẫn ưa cái ta của mình.
Sắc
thân cũng chẳng phải cũng chẳng phải là chỗ thật đáng
ưa đắm, nghĩa là những người lìa sắc ô nhiễm, tuy họ
chán ghét sắc thân, nhưng họ vẫn ưa cái ta của mình.
Bất
tương ưng hành pháp lìa Sắc và Tâm không thể tự có cho
nên cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm.
Kẻ
Dị sanh, hàng Hữu học trong khi khởi ngã ái, tuy đối với
các uẩn khác hoặc có ái, không ái, nhưng đối với thức
thứ tám này luôn luôn vẫn ưa chấp đó làm ngã.
Cho
nên chỉ có thức thứ tám này là chỗ thật đáng ưa đắm.
Do đó trong kinh Tăng Nhất nói đến tên A lại da chính để
hiển thị thức A lại da này vậy.
- Trên
đây đã dẫn Thánh giáo làm chứng có thức A lại da. Bây
giờ sẽ hiển bày chánh lý làm chứng.
1.
Khế kinh nói: Chỗ tập hợp và phát khởi chủng tử các pháp
ô nhiễm, thanh tịnh đó gọi là tâm. Nếu không thức này
thì cái Tâm giữ gìn chủng tử kia không có được. Các chuyển
thức khi ở Diệt tận định v.v... bị gián đoạn. Các căn,
các cảnh, tác ý, thiện tâm v.v... chủng loại khác nhau, dễ
sanh, dễ mất như điền chớp, không chắc chắn, không thể
huân tập, không thể giữ gìn chủng tử, nên chẳng phải
là cái tâm tập hợp và phát khởi các chủng tử nhiễm tịnh.
Chỉ có thức thứ tám này, một loại trước sau tương tục
không gián đoạn, có tánh kiên trụ và có thể chịu huân
tập như mè, là tương đương với nghĩa chữ Tâm của kinh
nói. Nếu không chấp nhận có Tâm giữ gìn chủng tử thì
không những trái kinh mà cũng trái với chánh lý. Vì các pháp
nhiễm tịnh được khởi lên không do được huân tập. Không
huân tập thành chủng tử, thì sự khởi lên đó chỉ là uổng
công. Khi pháp nhiễm tịnh khởi lên đã không nhân nơi chủng
tử, thời đồng như ngoại đạo chấp tự nhiên sanh.
- Sắc
và pháp Bất tương ưng hành không phải là Tâm, ví như tiếng
vang, như ánh sáng, không phải là chỗ của pháp nhiễm tịnh
bên trong huân tập, thì nó đâu có thể giữ gìn chủng tử.
Lại những pháp Sắc và Bất tương ưng này lìa thức không
thể tự có, thì làm sao chấp nó làm chỗ nương cho chủng
tử bên trong?
Các
Tâm sở pháp tương ưng với chuyển thức, nó như chuyển thức
có gián đoạn, dễ khởi dễ mất, không tự tại, không phải
Tâm, nên không thể giữ gìn chủng tử, cũng không chịu sự
huân tập. Cho nên đúng lý phải có cái Tâm giữ gìn chủng
tử riêng.
- Có
thuyết cho rằng sáu thức từ vô thỉ, nương nơi căn và cảnh
có phận vị trước sau, thức thể tùy ba tánh chuyển biến,
song đồng một loại, nên có thể chịu sự huân tập và giữ
gìn chủng tử. Do đó thành nhân quả nhiễm tịnh, chứ cần
gì phải chấp có thức thứ tám?
- Lời
nói đó vô nghĩa. Vì sao? Vì nếu chấp thức loại có thật
thì đồng với ngoại đạo Thắng luận. Nếu chấp thức loại
là giả thì không có tác dụng mạnh mẽ, nên không thể giữ
gìn chủng tử thật của nội pháp.
Lại
chấp thức loại đó, nó nhiếp thuộc tánh gì? Nếu là tánh
thiện, ác, thời không thể chịu sự huân tập, vì nó thuộc
hữu ký, giống như Trạch diệt vô vi. Nếu nó là vô ký, thì
khi tâm thiện hoặc ác nổi lên, là không có tâm vô ký, thức
loại ấy tát phải đoạn, không thể nói sự thể của thức
có thiện, có ác mà loại chỉ là vô ký, vì loại khác nhau
thì cũng đồng như tánh thể thức khác nhau.
Loại
ở địa vị vô tâm, thức loại này quyết không có. Ðã có
gián đoạn, tánh không kiên trụ, thì làm sao chấp nó có thể
giữ gìn chủng tử và chịu sự huân tập.
Lại
A la hán hoặc tâm loài Dị sanh, sáu thức loại đồng
là vô ký, thể thời có thể A la hán huân tập các pháp nhiễm,
loài Dị sanh lại huân tập pháp vô lậu. Chấp nhận thế
thì có lỗi.
Lại
các căn nhãn, nhĩ v.v... hoặc các pháp khác cùng với nhãn
thức, mà loại của căn,loại của pháp và loại của thức
đó đồng là vô ký, thì nó nên huân tập lẫn nhau. Nhưng
các ông không chấp nhận như thế. Thế nên, không nên chấp
thức loại chịu sự huân tập.
Lại
sáu thức, hoặc tự thể hoặc chủng loại của nó trước
sau hai niệm đã không cùng khởi một lần, như cách nhiều
niệm trước sau thì không thể huân tập nhau, vì năng huân
và sở huân phải đồng thời.
Ðối
với người chấp "sáu thức cùng lúc sanh khởi có thể huân
nhau", (năm thức trước cùng lúc huân thức thứ sáu) thì do
ý thú đã nói trên mà biết thức thứ sáu đã không phải
sở huân, nên nó cũng không thể giữ gìn chủng tử.
-
Có người chấp Sắc, Tâm, tự loại không gián đoạn, niệm
trước làm chủng tử cho niệm sau, lý nhân quả được thành.
Cho nên lời nói trước đây (nói tập khởi gọi là Tâm để
chỉ thức A lại da) làm chứng không thành.
- Lối
chấp kia phi lý, vì không có sự huân tập. Nghĩa là tự loại
niệm trước sau kia đã không có sự huân tập, thì làm sao
chấp niệm trước làm chủng tử cho niệm sau? Lại nữa, tự
loại có gián đoạn thì không thể sanh trở lại, và hàng
Nhị thừa vô học không có thân ngũ uẫn đời sau, vì ngưòi
kia lấy sắc tâm khi chết làm chủng tử cho thân sau.
Cũng
không nên chấp Sắc, và Tâm lần lượt làm chủng tử sanh
ra nhau, vì chuyển thức và sắc đều không chịu sự huân
tập, như trước đã nói rồi.
- Có
thuyết cho rằng các pháp ba đời đều có nhân chiêu cảm
quả, quả thù đáp nhân, chứ nhọc gì phải chấp có thức
thứ tám giữ gìn chủng tử. Nhưng Khế kinh sở dĩ nói tâm
là chủng tử, vì tâm có công dụng thế mạnh khởi lên pháp
nhiễm tịnh.
- Lời
nói các pháp ba đời đó phi lý. Vì qúa khứ và vị lai chẳng
phải thường, chẳng phải hiện có, giống như hoa đốm giữa
không, không phải thật có. Lại nói không có tác dụng, không
thể chấp nó làm nhân duyên được. Nếu không có thức thứ
tám giữ gìn chủng tử nhiễm tịnh, thì lý nhân quả không
thành.
- Có
người chấp lý "không, vô tướng" của Ðại thừa là rốt
ráo, chỉ nương theo tợ tỷ lượng mà bác sạch hết, chẳng
những không có thức này cũng không có hết thảy pháp. Những
người này chỉ làm trái hại lời kinh đã dẫn ở trước,
đối với việc tri Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Ðạo,
nhân quả nhiễm tịnh, họ đều chấp cho là không thật, thời
thành đại tà kiến. Ngoại đạo hủy báng nhân quả nhiễm
tịnh, cũng không bảo là hoàn toàn không có, mà chỉ chấp
cho là không phải thật. Nếu hết thảy đều không thật có,
thời các Bồ tát không nên vì xả bỏ sanh tử không thật
có mà tinh cần tu tập tư lương Bồ đề không thật có. Ai
là ngưòi có trí lại đi tìm đứa con của người con gái
đá, lập đội quân để đánh địch mộng huyễn?
Cho
nên, nên tin có có tâm giữ gìn chủng tử, mà dựa vào đó
kiến lập nhân quả nhiễm tịnh. Và tâm kia tức là thức
thứ tám này vậy.
2.
Lại Khế kinh nói: Có tâm Dị thục do nghiệp thiện ác chiêu
cảm. Nếu không có thức thứ tám này thì tâm Dị thục kia
không thể có. Vì nhãn thức v.v... có gián đoạn không phải
lúc nào cũng là nghiệp quả (khi nó vô ký là nghiệp quả,
khi nó khởi thiện, ác, thì không phải nghiệp quả), ví như
điền chớp, nên chẳng phải là tâm Dị thục, tâm Dị thục
không thể dứt rồi lại nối, vì mạng căn (Dị thục) không
có việc ấy.
Sáu
thức nhãn, nhĩ, v.v... do nghiệp chiêu cảm, ví như âm thanh
không phải hằng số tiếp nối, nó là Dị thục sanh chứ
không phải chơn Dị thục.
Quyết
định phải chấp nhận có tâm chơn Dị thục thù đáp lại
dẫn nghiệp, biến khắp không gián đoạn, biến hiện căn,
thân, khí giới làm chỗ nương cho hữu tình, vì căn thân khí
giới lìa tâm Dị thục không thể có được. Bất tương ưng
hành pháp thì không có thật thể; các chuyển thức thì không
phải hằng có. Nếu không tâm Dị thục này thì cái gì biến
ra căn thân khí giới; lại nương nơí pháp gì mà luôn có
loài hữu tình.
Lại
khi ở trong định không tư lự gì hết, hoặc khi không ở
trong định thì có tư lự chuyện khác, vẫn thường khởi
lên nhiều sự cảm thọ nơi thân. Nếu không có tâm Dị thục
chấp giữ cảm thọ đó thì không thể lúc sau đó thân có
sự vui thích hoặc lao tổn. Nếu không hằng có tâm Dị thục
thì làm sao khi ra định lại có sự cảm thọ nơi thân này?
Ở
điạ vị những loài hữu tình không phải là Phật, khởi
lên các tâm thiện khác, chắc phải tâm chơn Dị thục đồng
thời hiện khởi.
Hỏi:
Sao riêng Phật không có tâm Dị thục?
Ðáp:
- Như chấp nhận khi khởi lên tâm chơn Dị thục kia, thì đó
là các loài hữu tình chứ chẳng phải Phật.
Do
đó các hữu tình thường có tâm chơn Dị thục và tâm ấy
chính là thức thứ tám này.
3.Lại
Khế kinh nói: Loài hữu tình lưu chuyển trong năm thú bốn
loài sanh. Nếu không có thức này thì cái thể của năm thú
bốn loài sanh (giới thú sanh thể) kia không thể có được.
Nghĩa là phải có đủ bốn nghĩa là thật có, hằng thường,
biến khắp, không lộn xộn mới có thể lập chính cái pháp
đó làm thể của năm thú, bốn loài sanh. Nếu pháp không phải
Dị thục, thì thể thú sanh sẽ rối loạn, trụ ở đây mà
khởi lên pháp nơi thú sanh khác.
Các
sắc Dị thục và một phần do nghiệp cảm ở trong năm thức,
nó không biến khắp thú sanh, vì ở trong cõi vô sắc, hoàn
toàn không có sắc và không có năm thức hiện hành. Các điều
thiện sanh ra đã có (báo đắc) và những điều do nghiệp
cảm ở trong ý thức tuy khắp thú sanh, khởi lên không rối
loạn, nhưng không hằng có.
Bất
tương ưng hành pháp không có thật thể. Tất cả pháp nói
trên đều không thể lập làm thật thể chính thức của ngũ
thú, tứ sanh.
Chỉ
có Dị thục tâm và tâm sở của nó thật có, hằng thường,
biến khắp, không tạp, mới chính thức chơn thật làm thật
thể của thú sanh. Nếu không có tâm Dị thục này thì khi
sanh cõi Vô sắc (không có sắc và năm thức, chỉ có ý thức)
ở vị trí khởi lên thiện tâm, tất không phải thể thú
sanh. Giả sử chấp nhận đó là thể thú sanh thu nhiếp các
pháp hữu lậu, thì các vị A na hàm khi sanh vào cõi Vô sác,
khởi lên tâm vô lậu, thì không phải thể thú sanh. Nói vậy
là trái lý.
Ðể
tránh khỏi lỗi trước và lỗi này, nên biết chỉ có pháp
Dị thục mới chính thức chơn thật là thể của thú sanh.
Do vậy mà đức Như Lai không nhiếp vào thể thú sanh, vì Phật
không còn có pháp Dị thục vô ký, và Phật cũng không nhiếp
thuộc vào cõi nào, vì Phật không còn có ba lậu, và vì Thế
Tôn đã xả bỏ Khổ, Tập đế. Các chủng tử hý luận nơi
Ngài dã vĩnh viễn dứt sạch.
Thể
của thú sanh đích thực là chỉ có tâm Dị thục và tâm sở
của nó, nhưng tâm và tâm sở của nó này lìa ngoài thức
thứ tám là không thể có được. Thế nên biết riêng có
thức thứ tám này.
4.
Lại Khế kinh nói: "Thân có sắc căn là cái có chấp và thọ,
nếu không có thức thứ tám này thì cái khả năng chấp thọ
thân có sắc kia không có". Nghĩa là năm sắc căn và chỗ nương
của nó chỉ trong đời hiện tại là có chấp thọ, tất nó
phải do tâm có khả năng chấp thọ nó, mà tâm ấy chỉ là
tâm Dị thục do nghiệp trước dẫn đến, chứ không phải
pháp thiện và nhiễm, hay một lại vô ký nào có khả
năng biến khắp tiếp nối chấp thọ thân có sắc căn. Các
chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... cũng không có được khả
năng như vậy.
Lời
nói "Chỉ có tâm Dị thục chấp thọ căn thân" này ý muốn
chỉ rõ các chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... dều không có tính
cách nhất loại có khả năng biến khắp tiếp nối chấp thọ
thân có sắc căn bên trong của mình, chứ không phải nói năng
chấp thọ chỉ là tâm Dị thục, (vì vô cấu thức cũng chấp
thọ) đừng cho rắng sắc thân vô lậu của đức Phật không
có chấp thọ (sắc thân của Phật có vô cấu thức chấp
thọ). Nhưng đây nói chấp thọ sắc thân hữu lậu thì chỉ
là tâm Dị thục.
Các
chuyển thức thì theo duyên hiện tại khởi lên, như tiếng,
như gió. Còn tâm thiện, tâm nhiễm không phải do nghiệp dẫn
đến ví như Phi trạch diệt. Dị thục sanh không phải là
chơn Dị thục, không phải là chỗ nương cho khắp các pháp,
không tiếp nối, ví như điển chớp không có khả năng
chấp thọ sắc thân hữu lậu.
- Nói
các Tâm thức là gồm luôn Tâm sở trong đó, vì nó quyết
định tương ưng nhau, ví như nói chữ "Duy thức" (gồm luôn
cả Tâm sở).
Không
phải các "Sắc căn" và "Bất tương ưng hành" có khả
năng chấp thọ thân có sắc căn, vì không có sở duyên, ví
như hư không.
Cho
nên cần có có tâm chấp thọ riêng, và tâm ấy chính là thức
thứ tám này.
5.
Lại Khế kinh nói: Ba pháp Thọ, Noãn, Thức, nương tựa duy
trì lẫn nhau mà được tồn tại liên tiếp. Nếu không có
thức này thì cái thức có khả năng giữ gìn Thọ và Noãn
kia được trụ lâu, không thể có được". Nghĩa là các chuyển
thức có gián đoạn, có biến chuyển như gió và tiếng, không
có tác dụng thường xuyên giữ gìn, không thể lập "chuyển
thức" làm cái thức giữ gìn Thọ, Noãn. Chỉ có thức Dị
thục không gián đoạn, không biến chuyển như Thọ và Noãn,
mới có tác dụng thường xuyên giữ gìn, nên có thể lập
thức Dị thục này làm cái thức giữ gìn Thọ và Noãn. Kinh
nói ba thứ ấy nương tựa gìn giữ lẫn nhau, nếu chỉ Thọ
và Noãn là nhất loại tiếp nối, còn thức thì không, là
không hợp chánh lý.
Hỏi:
- Tuy nói ba pháp Thọ, Noãn, Thức nương tựa giữ gìn lẫn
nhau, nhưng chỉ chấp nhận Noãn là không biến khắp ba cõi
(cõi Vô sắc không có Noãn). Sao không chấp nhận riêng "Thức"
có gián đoạn, chuyển biến?
Ðáp:
- Ðiều này đối với lý lẽ trước kia chẳng phải là điều
sai lầm đáng cật nạn. Nghĩa là nếu ở chỗ đó có đủ
ba pháp không gián đoạn chuyển biến là có thể thường xuyên
giữ gìn lẫn nhau. Nếu không như vậy, thì không có tác dụng
thường xuyên giữ gìn nhau.
Trước
đây dùng lý này để chỉ rõ cái thức được nói trong ba
pháp Thọ, Noãn, Thức , không phải là chuyển thức. Nên nếu
cho Noãn không biến khắp ba cõi, thì đâu có phá hoại lý
lẽ trước kia? Cho nên như trước nói, lý nghĩa là rốt ráo
được thành.
Lại
trong ba pháp, Thọ và Noãn chỉ là hữu lậu, cho nên biết
Thức giữ gìn Thọ, Noãn kia cũng là hữu lậu. Khi sanh cõi
Vô sắc, khởi lên tâm vô lậu, bấy giờ không có tâm Dị
thục thì thức nào duy trì thọ mạng ở cõi Vô sắc kia? Do
đó nên biết có thức Dị thục nhất loại hằng thường
và biến khắp, duy trì Thọ, Noãn và Thức đó là thức thứ
tám vậy.
6.
Lại Khế kinh nói: "Các loại hữu tình, trong khi thọ sanh và
khi mạng chung, chắc chắn ở trong hữu tâm tán loạn, chứ
không ở trong định vô tâm. Nếu không có thức Dị thục
này thời cái tâm trong khi sanh và khi chết đó không thể có".
Nghĩa là khi sanh và khi chết, thân tâm hôn muội, như ngủ
mê không chiêm bao, mê man, khi đó các chuyển thức minh mẫn
chắc chắn không hiện khởi. Lại ở trong vị trí sanh và
chết đó, hành tướng và sở duyên của sáu chuyển thức
đều không thể biết, giống như ở vị trí vô tâm, chuyển
thức chắc chắn không hiện hành. Hành tướng và sở duyên
của sáu chuyển thức nếu có hiện hành thì chắc sẽ được
biết rõ như những lúc khác, không phải như lúc mới sanh
hay lúc sắp chết. Hành tướng và sở duyên của chơn Dị
thục thức quá vi tế không thể rõ được. Nó là quả báo
do nghiệp dẫn, tiếp nối trong một thời gian, hằng không
chuyển biến. Chính cái hữu tâm tán loạn đó, gọi là tâm
khi sanh tử. Không trái với chánh lý.
- Có
thuyết cho rằng: "Ngũ thức ở vị trí thọ sanh đó quyết
không có, thì ý thức thủ cảnh hoặc nhân ngũ thức, hoặc
nhân tha giáo và nhân định lực mà khởi lên, các nhân đó
khi thọ sanh đã không có được, nên ở vị trí thọ sanh,
ý thức cũng không có (thuyết này chỉ năm thức làm nhân
sanh ý thức, nên nói như vậy)".
- Nếu
vậy, hữu tình sanh cõi Vô sắc, sau đó lẽ ra ý thức vĩnh
viễn không sanh ra được (vì ở Vô sắc không có năm thức);
vì định tâm chắc phải do từ ý thức tán loạn dắt dẫn,
mà ngũ thức và tha giáo ở cõi Vô sắc không có, thì tâm
tán loạn dẫn khởi lên định tâm không do đâu có được.
Nếu
bảo định kia do sức tập quán từ trước; sau đó bỗng nhiên
hiện ra. Nếu vậy, sao trong khi mới sanh cõi kia không hiện
khởi?
Lại
ở cõi Dục, cõi Sắc khi mới thọ sanh, ý thức tập quán
cũng nên hiện khởi. Nếu do vì hôn muội nên lúc ban sơ chưa
hiện tiền được, thì đấy chính là nguyên nhân vì hôn muội
không hiện khởi, phải do chủng tử trong bổn thức mới hiện
khởi. Ðã được công nhân trước kia, cần gì lại phải
nhọc công nói do ba nhân khác (là nhân năm thức, nhân tha giáo,
nhân định lực).
- Có
các bộ phái khác chấp: "Ở vị trí khi sanh và khi chết, có
một loại ý thức vi tế, mà hành tướng và sở duyên của
nó đều không thể biết rõ". nên biết loại ý thức vi tế
ấy chính là thức thứ tám đây; vì đã công nhận ý thức
thô hiển không phải là một loại vi tế khó biết như vậy.
Lại
khi sắp chết, do nghiệp thiện ác mà có cảm xúc lạnh lần
lượt khởi lên trên dưới ở nơi thân. Nếu không thức Dị
thục này, thì việc đó không thành được. Vì chuyển thức
thì không thể chấp thọ thân được. Còn năm thức nhãn,
nhĩ v.v... đều có chỗ nương riêng nên hoặc không hiện hành.
Còn đệ lục ý thức bấy giờ không trụ nơi thân, và đệ
lục ý thức duyên cảnh không nhất định, lại khi sắp gá
trong thân hằng thời tương tục, thì cảm xúc lạnh không
thể do đệ lục ý thức tạm phát ra được. Vậy nên biết
chỉ có tâm Dị thục do nghiệp lực đời trước, hằng thời
biến khắp tương tục chấp thọ thân phần, nên khi sắp chết
tâm Dị thục xả bỏ chỗ chấp thọ nào nơi thân, thì cảm
xúc lạnh sanh ra ở đó. Vì Thọ, Noãn và Thức không lìa nhau,
hễ chỗ nào có cảm xúc lạnh khởi lên thì chỗ đó là phi
hữu tình, chỗ thân chết phi tình này tuy cũng do Dị thục
tâm biến ra và duyên, nhưng không chấp Thọ. Cho nên quyết
định có thức thứ tám này.
7.
Lại Khế kinh nói: "Thức duyên danh sắc, danh sắc duyên thức",
hai pháp đó lần lượt nương nhau, ví như bó câu lau, cùng
lúc đứng vững. Nếu không có thức thứ tám này thì tự
thể của "thức" trong thức duyên danh sắc không có được.
Và trong kinh kia tự giải thích rằng, danh là bốn uẩn không
phải sắc, sắc là cái hình trạng trong bào thai như Kiết
la lam v.v... Hai thứ này cùng với thức nương nhau mà trụ,
như hai bó câu lau thường cùng duyên nhau trong một lúc mà
trụ, không hề lìa nhau. Các chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... nhiếp
vào trong danh. Nếu thức thứ tám không có, thì nói cái gì
là thức duyên danh sắc đây? Cũng không thể nói thức uẩn
thuộc về danh trong danh sắc đó chỉ là cho năm thức thân,
còn thức trong câu "Thức duyên danh sắc" là chỉ cho thức
thứ sáu, vì khi ở giai đoạn hình trạng Kiết la lam chưa
có năm thức.
Lại
các chuyển thức có gián đoạn chuyển biến, không có sức
hằng thời chấp trì danh sắc, làm sao nói nó thường cùng
danh sắc duyên nhau.
Vậy
nên biết "Thức duyên danh sắc" là rõ ràng chỉ cho thức thứ
tám.
(Hết quyển ba của bản Hán)
8.
Lại Khế kinh nói: "Tất cả hữu tình đều nuơng ăn mà tồn
tại. Nếu không có thức này thì cái thể của thức thực
(sống bằng các ăn của thức) kia không thể có". Nghĩa là
Khế kinh nói: Ăn có bốn cách:
1.
Ðoàn thực – Làm biến hoại đồ ăn là tướng trạng của
cách ăn này. Nghĩa là ở cõi Dục, những đồ vật có hương,
có vị, có xúc, trong khi nó biến hoại thì lấy đó làm ăn.
Do dó Sắc không thuộc về đoàn thực, vi khi biến hoại màu
sắc không có tác dụng gi nuôi thân.
2.
Xúc thực- Tức xúc chạm cảnh là tướng trạng của nó. Nghĩa
là khi Xúc tâm sở hữu lậu của hữu tình xúc chạm cảnh
mà có sự cảm thọ hỷ lạc, thì có thể lấy đó làm ăn.
Xúc tâm sở tuy tương ưng với tất cả các thức, song Xúc
tâm sở ở nơi sáu thức trước, có nghĩa "Ăn" mạnh hơn,
cảnh xúc chạm ở đây thô phù rõ rệt, nhiếp nhận hỷ,
lạc, và xả thọ, thuận ý, ích thân, mà có sự tư dưỡng
mạnh hơn.
LTDT:
Chứng Minh Có Thức Thứ 8 (trang 8)
3.
Ý tư thực - Tức hy vọng là tướng trạng của nó. Nghĩa
là Tư tâm sở hữu lậu cùng sinh khởi với Dục tâm sở,
hy vọng cảnh đáng ưa, có thể lấy đó làm ăn. Tư tâm sở
này tuy tương ưng với tất cả các thức, nhưng "Tư" tương
ưng với ý thức có nghĩa ăn mạnh hơn, vì ý thức đối với
cảnh có sự hy vọng mạnh.
4.
Thức thực - Tức sự chấp trì là tướng trạng của nó.
Nghĩa là thức hữu lậu, do thế lực của Ðoàn, Xúc, Tư thực
tăng trưởng mà có thể thành nghĩa ăn. "Thức" nói đây tuy
chung cả tự thể các thức, nhưng thức thứ tám có nghĩa
ăn mạnh hơn, vì thức thứ tám là một loại tương tục chấp
trì mạng căn mạnh hơn.
Do
đó Tập Luận bốn cách ăn này nhiếp vào ba uẩn (sắc, hành,
thức uẩn), năm xứ (hương, vị, xúc, pháp và ý xứ), mưòi
một giới (hương, vị, xúc, pháp, ý và sáu thức giới). Bốn
sách ăn này có khả năng duy trì thân mạng hữu tình,
không để bị hư mất, nên gọi là ăn.
Ðoàn
thực chỉ có tác dụng ỏ cõi Dục, Xúc và Ý tư thực tuy
có ở cả ba cõi, nhưng nương nơi sáu thức mà chuyển, nên
tùy theo thức mà hoặc có hoặc không. Các chuyển thức nhãn,
nhĩ v.v... có gián đoạn, có biến chuyển, không phải cùng
khắp hằng thời duy trì thân mạng. Nghĩa là khi ở định
vô tâm (Vô tưởng định, Diệt tận định), khi ngủ mê, khi
chết ngất, khi ở cõi trời Vô tưởng, các chuyển thức bị
gián đoạn. Giả sử ở địa vị hữu tâm, tùy căn sở y,
cảnh sở duyên mà chuyển dịch theo ba tánh, ba cõi, chín địa,
nên đối với việc duy trì thân mạng, các chuyển thức không
biến khắp, không hằng thời làm sao duy trì được.
Những
người chấp không có thức thứ tám, vậy nương vào đâu
để có Thức thực? Và do đâu mà kinh nói: "Tất cả hữu
tình đều nương nơi ăn mà tồn tại?" Cũng không thể bảo
ở địa vị vô tâm, tuy không có thức hiện hành nhưng dùng
thức quá khứ, vị lai không hiện tại, không thường hằng,
như hoa đốm giữa không, không có thật thể thật dụng, hay
dù cho có thật thể thật dụng mà không phải ở hiện tại,
thì nó như hư không, không thành ăn được.
Cũng
không thể nói tâm nhập định là món ăn của hữu tình ở
địa vị vô tâm, vì khi ở vô tâm thì tâm gia hạnh nhập
định đã không còn nữa. Nó thuộc về quá khứ, không phải
là ăn, việc ấy đã thành tựu rốt ráo rồi.
Lại
không thể nói: "Pháp Bất tương ưng hành" ở Vô tưởng định
là món ăn cho hữu tình nhập Vô tưởng định; vì pháp Bất
tương ưng hành không nhiếp thuộc bốn cách ăn, vì lìa sắc
tâm, nó không thật có.
Có
người chấp ở Diệt tận định còn thức thứ sáu, nó đối
với hữu tình ở Diệt tận định có thể là món ăn. Lối
chấp đó cũng phi lý, đến đoạn sau sẽ phá rộng. Lại kia
thử nói hữu tình sanh vào hai cõi Sắc và Vô sắc, khi khởi
tâm vô lậu thì lấy gì làm ăn? Vì thức vô lậu là phá hoại
các hữu (cõi), nên thức vô lậu không thể là món ăn đối
với thân mạng hữu tình ở hai cõi đó.
Cũng
không thể chấp trong thức vô lậu có chủng tử hữu lậu,
có thể làm thức ăn cho hữu tình kia, vi thức vô lậu giống
như Niết bàn không thể chấp trì chủng tử hữu lậu.
Lại
không thể nói, thân và mạng của hữu tình ở thượng giới
duy trì lẫn nhau tức là làm món ăn cho nhau, vì trong bốn cách
ăn không nhiếp thuộc vào mạng thân kia (trong bốn cách ăn,
không có thân mạng thực). Lại ở cõi Vô sắc không thân,
thì mạng không thể duy trì, vì là chúng đồng phận giữa
các hữu tình không có thật thể.
Do
đó biết chắc khác với chuyển thức, có thức Dị thục
một loại thường hằng và biến khắp, chấp trì thân mạng
không để cho hoại mất. Nương theo lẽ đó, đức Thế Tôn
nói: "Tất cả hữu tình đều nương nơi ăn mà tồn tại".
Và chỉ nương nơi năm thủ uẩn mà kiến lập hữu tình. Phật
không có ngũ uẩn hữu lậu, nên không nhiếp vào hữu tình.
Nói "Hữu tình nương ăn mà tồn tại" nên biết đó là nói
theo cách thị hiện quyền xảo (tức nói nghĩa bóng).
Ðã
biết Dị thục thục là có tính cách ăn hơn cả, mà thức
đó chính là thức thứ tám này vậy.
9.
Lại Khế kinh nói: - Người ở Diệt tận định, thân, ngữ
và tâm hành của họ đều diệt mất (thân hành chỉ hơi thở
ra vào, ngữ hành chỉ tầm tư, ý hành chỉ thọ, tưởng),
nhưng mạng sống (thọ) không diệt, và cũng không bỏ hơi
nóng, nên các căn không biến hoại, "thức không lìa thân";
"Nếu không có thức Dị thục này thì người ở Diệt tận
định không thể có "thức không lìa thân". Nghĩa là vì thấy
nhãn thức v.v... hành tướng thô động đối với cảnh sở
duyên, khi khởi nhãn thức v.v... thường bị lao lự, nên chán
ghét nó, tạm thời cầu sự ngừng nghỉ, dần dần dẹp trừ
nhãn thức v.v... không khởi lên cho đến khi hết sạch, chính
nương ở vị trí đó mà trụ trong Diệt tận định. Cho nên
ở trong Diệt tận định, các chuyển thức đều diệt, nếu
không chấp nhận có thứ thức vi tế trước sau một loại
thường hằng biến khắp chấp trì Thọ, Noãn, thì nương vào
đâu để kinh nói: "Thức không lìa thân?"
Nếu
bảo lúc sau khi ra khỏi Diệt tận định, chuyển thức kia
khởi trở lại như sốt rét cách ngày, nên gọi là thức không
lìa thân; nếu thế thời không nên nói: "Tâm hành diệt"; vì
sáu thức và thọ tưởng khởi diệt đồng nhau. Lại Thọ,
Noãn và các căn nếu cũng nhu sáu thức thì có lỗi lớn, Cho
nên, nên chấp nhận có thức thứ tám cũng như Thọ và Noãn,
thật không lìa thân.
Lại
ở trong địa vị Diệt tận định, nếu hoàn toàn không có
thức thì như ngói gạch, chẳng phải loài hữu tình, đâu
được nói đó là người ở Diệt tận định.
Lại
nếu ở địa vị Diệt tận định không có Dị thục thức
thì cái gì chấp trì các căn và Thọ, Noãn? Nếu không chấp
trì thì phải hoại diệt hết, giống như thây chết, bèn không
có Thọ, Noãn. Ðã vậy, chắc về sau thức không sanh trở
lại mà vẫn nói: "Thức không lìa thân" thì cái thức đó
thuộc về thức gì? Vì các Dị thục thức bỏ thân này rồi,
lìa thân này gá vào thân khác, thì không phải là sanh trở
lại.
Lại
nếu ở địa vị Diệt tận định này không có thức duy trì
chủng tử, không có chủng tử thì về sau thức làm sao sanh
lại được. Pháp quá khứ, vị lai và Bất tương ưng hành,
chẳng có thật thể, điều này đã được thành lập rồi.
Còn các sắc pháp, lìa thức thì đều không có. Ngoài thức
thứ tám mà có việc thọ huấn và trì chủng thì cũng đã
ngăn trước kia rồi.
Nhưng
ở địa vị vô tâm như Diệt tận định cũng giống như ở
trong địa vị hữu tâm, chắc phải có thức này, vì có đủ
các căn và Thọ, Noãn, tức là nhiếp thuộc hữu tình (không
kể vô tâm hay hữu tâm).
Do
lẽ đó, ở địa vị Diệt tận định, quyết phải có thức
thật không lìa thân.
- Nếu
bảo ở địa vị Diệt tận định có thức thứ sáu gọi
là: "Thức không lìa thân" thì cũng không đúng lý, vì định
này cũng gọi là định vô tâm (không có thức thứ sáu).
Nếu
chấp không có năm thức gọi là vô tâm, thì có thể tất
cả định đều gọi là vô tâm định, vì tất cả định
đều không có năm thức thân.
Ý
thức nhiếp vào trong sáu chuyển thức, giống như năm thức,
ở Diệt tận định nó không có. Hoặc nói thức ở trong địa
vị Diệt tận định, hành tướng và sở duyên của nó đều
không thể biết, như Thọ và Noãn, thì đó không phải là
đệ lục thức.
Nếu
ở địa vị Diệt tận định có cái thức mà hành tướng
và sở duyên của nó đều có thể biết, thì đó lại giống
như ở các địa vị khác, chứ không nhiếp vào địa vị
Diệt tận định này. Vốn vì muốn ngưng nghỉ cái thức có
hành tướng và sở duyên có thể biết rõ, mới nhập Ðịnh
diệt này.
Lại
nếu ở địa vị Diệt tận định có thức thứ sáu, thế
thì Tâm sở pháp của thức này có hay không? Nếu có tâm sở
thì kinh không nên nói: "Trú ở định này, tam hành đều diệt".
Lại không nên gọi là Ðịnh diệt thọ tưởng.
Chấp:
- Khi tu gia hạnh về định này là chỉ cốt nhàm chán thọ
và tưởng, cho nên ở trong định này chỉ diệt thọ và tưởng.
Thọ và tưởng giúp tâm rất mạnh, nên ở trong các Tâm sở,
riêng nó được gọi là tâm hành, như vậy nói tâm hành diệt
(là chỉ diệt thọ tưởng chứ không diệt Tâm Tâm sở) có
gì trái đâu?
Luận
chủ - Trong Vô tưởng định, chỉ nên một mình tưởng diệt,
vì chỉ nhàm chán tưởng, nhưng ông không chấp nhận (chỉ
tưởng diệt) và như vừa nói chỉ có thọ và tưởng giúp
tâm rất mạnh, vậy khi hai thứ ấy diệt, tâm cũng phải diệt?
Chấp:
- Không, tâm (thức thứ sáu) không diệt, cũng như thân hành
(hơi thở ra vào) diệt mà thân vận tồn tại, tại sao cứ
phải trách tâm đồng diệt với hành (thọ, tưởng)?
Luận
chủ: - Nếu vậy, khi ngữ hành tầm tư diệt, ngôn ngữ không
nên diệt. Nhưng điều này không được chấp nhận.
Nhưng
(hành) đối với pháp có thứ biến khắp, có thứ không biến
khắp. Khi thứ hành biến khắp diệt, thì pháp quyết phải
diệt theo,nhưng khi thứ hành không biến khắp diệt, thì pháp
hoặc diệt hoặc không.
Thứ
hành không biến khắp là chỉ cho hơi thở ra vào (thân hành);
vì thấy khi hơi thở dứt mà thân vẫn còn.
Tâm
tầm tư đối với ngữ, thuộc loại hành biến khắp, nên
khi tầm tư diệt thì ngữ phải diệt.
Thọ
và tưởng đối với tâm cũng là loại hành biến khắp cũng
như Tư tâm sở, thuộc loại đại địa pháp (mười đại
địa pháp là năm Biến hành, năm Biệt cảnh, năm thứ này
biến khắp hết thảy tâm), nên khi thọ và tưởng diệt, tâm
nhất định diệt theo. Chứ làm sao có thể nói thọ, tưởng
diệt mà tâm (ý thức) không diệt?
Lại
(Hữu bộ) cho rằng: "Tư là thuộc đại điạ pháp", vậy thì
khi thọ, tưởng diệt, tư kia cũng nên diệt? Nếu tư diệt,
thì ở địa vị Diệt tận định này, tín cũng không có.
Vì không thể bảo Tâm sở biến hành diệt mà các Tâm sở
khác như tín v.v... có thể không diệt, làm sao nói còn có
các Tâm sở khác trừ thọ và tưởng? Nếu đã chấp nhận
thọ và tưởng cũng như tư thuộc đại địa pháp, thì ở
địa vị này tư đã có thì thọ, tưởng cũng nên có.
Lại
trong Diệt định này, nếu có tư thì cũng nên có xúc, vì
các Tâm sở khác đều nương năng lực của xúc mà phát sanh.
Nếu chấp nhận có xúc thì cũng nên có thọ, vì xúc làm duyên
cho thọ. Ðã chấp nhận có thọ, thì tưởng cũng nên có,
vì thọ và tưởng không rời nhau.
Chấp:
- Như "thọ" làm duyên sanh "ái", không có nghĩa tất cả thọ
đều có thể làm duyên sanh ái, cho nên xúc làm duyên sanh thọ,
không có nghĩa tất cả xúc đều làm duyên sanh thọ. Do đó,
vấn nạn nêu trên không đúng lý.
Luận
chủ: - Ông cứu chữa như vậy không đúng, vì có sự
sai khác. Nghĩa là đức Phật tự giản biệt nói chỉ có các
thọ do "vô minh xúc" làm duyên sanh ra, thọ đó mới làm duyên
sanh ái, chứ chưa bao giờ Phật giản biệt nói (chung chung)
xúc sanh thọ, cho nên nếu hễ có xúc tất là có thọ. Thọ
với tưởng đi đôi, lẽ đó chắc chắn. Hoặc nên như ở
các địa vị tán tâm khác, thọ tưởng đều không diệt.
Chấp
trong địa vị Diệt định có Tâm tư sở. Nếu thừa nhận
thế thì trái vói lời nói "Tâm hành diệt"; và và cũng không
thành được Ðịnh diệt thọ tưởng.
Nếu
không Tâm sở, thì sáu thức Tâm vương cũng không, không bao
giờ thấy có tâm nào lìa Tâm sở; vì các Tâm sở Biến hành
mà diệt thì Tâm vương diệt theo. Nếu bảo có Tâm vương
mà không có Tâm sở thì thọ tưởng không phải là đại địa
pháp, lại thức này không thể là pháp có Tâm sở tương ưng.
Nếu thừa nhận như thế thì không thể có căn sở y và cảnh
sở duyên, nó giống như sắc pháp v.v... cũng không thể gọi
là tâm.
Lại
Khế kinh nói: "Ý và pháp làm duyên sanh ra ý thức, ba thứ
hòa hợp sanh ra xúc, nơi xúc cũng khởi lên có thọ, tưởng,
tư". Nếu trong Ðịnh diệt tận có ý thức vì là có ba sự
hòa hợp, phải là có xúc, và xúc chắc chắn cũng khởi với
thọ, tưởng và tư. Vậy tại sao có thức mà lại không có
Tâm sở?
Nếu
bảo trong những lúc khác, ba sự hòa hợp có năng lực mới
thành xúc đối, sanh xúc Tâm sở, và xúc ấy mới khởi sanh
thọ. Do ở định này, trước khi vào định, vì chán ghét
Tâm sở, nên khi ở trong định, ba sự không có khả năng,
không thành xúc đối, nên không sanh xúc, cũng không có thọ.
Nếu
vậy, nên gọi là Ðịnh diệt Tâm sở chứ tại sao chỉ nói
diệt thọ tưởng?
Nếu
bảo trong khi nhàm chán thọ tưởng, nên khi hai thứ đó diệt,
tâm sở khác cũng diệt luôn, y hệt sự nhàm chán trước đó,
để gọi tên là Ðịnh diệt tận.
Nếu
đã vậy, trong diệt định đó tâm thứ sáu cũng nên diệt,
vì Tâm sở thọ tưởng bị nhàm chán cùng sanh với các Tâm
sở khác. Không vậy thì làm sao gọi là Ðịnh vô tâm (Diệt
tận định cũng gọi là Ðịnh vô tâm).
lại
ở địa vị Diệt tận định này, ý thức thuộc tánh gì?
Không thể là nhiễm hay vô ký tánh; vì trong các thiện định,
không có việc đó; vì những Tâm vương nhiễm và vô ký, thì
tức là có Tâm sở, không nên chán thiện mà trở lại khởi
lên nhiễm; vì không phải cầu tịch tịnh mà lại khởi lên
tán động.
Nếu
bảo ý thức trong Diệt tận định này là thiện, thì có thể
là tương ưng thiện, nên tương ưng với vô tham thiện căn
v.v... Tâm thứ sáu trong định đó không thể là tự tánh thiện,
hoặc thắng nghĩa thiện, vì trái với tôn chỉ mình, tâm đó
không phải là thiện căn như vô tham và Niết bàn.
Nếu
bảo tâm trong định đó là đẳng khởi thiện, do gia hạnh
thiện căn dẫn phát ra, thì lý cũng không đúng, vì trái với
tôn chỉ của mình. Giống như các thiện tâm trong các địa
vị khác, không phải là đẳng khởi thiện. Vì thiện tâm
không gián đoạn khởi lên đủ ba tánh thiện, ác, vô ký,
tại sao thiện tâm lại do trước đẳng khởi ra? Cho nên tâm
nếu là thiện, là do sức Tâm sở tương ưng. Ðã vậy, tất
cùng vô tham thiện căn tương ưng, làm sao nói riêng thiện
tâm thứ sáu trong Diệt định này không có Tâm sở? Ðịnh
này đã không có Tâm sở thì Tâm vương thứ sáu cũng phải
không.
- Cứ
như vậy suy gạn, biết các chuyển thức nhãn, nhĩ ... khi ở
địa vị Diệt định, nó không phải là thứ "Thức không
rời thân". Cho nên Khế kinh nói: "Thức không rời thân" chính
là chỉ cho thức thứ tám này, vì khi nhập Diệt định, không
phải cốt để ngưng nghỉ cái thức chấp trì rất tịch lặng
này vậy.
- Cái
thức ở trong Vô tưởng định, Vô tưởng thiên, cứ loại
theo đây mà biết.
10. Lại Khế kinh nói: "Vì tâm tạp nhiễm nên hữu tình tạp
nhiễm, vì tâm thanh tịnh nên hữu tình thanh tịnh". Nếu không
có thức này thì tâm tạp nhiễm thanh tịnh kia không có. Nghĩa
là pháp tạp nhiễm thanh tịnh lấy tâm làm gốc, nhân tâm
mà sinh, nương tâm mà trụ, tâm nhận sự huân tập pháp nhiễm
tịnh, lại duy trì chủng tử pháp nhiễm tịnh kia.
- Nhưng
pháp tạp nhiễm lược có ba thứ: phiền não, nghiệp quả,
chủng loại khác nhau. Nếu không có thức này duy trì chủng
tử phiền não, khi hữu tình từ thượng giới, thượng địa
sanh trở lại hạ giới, hạ địa, tức sau lúc không có tâm
nhiễm ô ở thượng giới, lại khởi lên các phiền não nhiễm
ô ở hạ giới, phiền não này khởi lên như thế đều không
có nhân, vì các pháp thì không thể duy trì được chủng tử
phiền não hạ địa kia, Còn tâm pháp quá khứ và vị lai lại
không phải thật có. Nếu các phiền não khởi trở lại ấy
không nhân mà vẫn khởi, thời sẽ không có quả vị Học
và Vô học của ba thừa. Vì sao? Vì các phiền não đã dứt
rồi, đều không nhân mà lại có thể khởi lên nữa.
Nếu
không có thức thứ tám này duy trì chủng tử của nghiệp
quả, thì hữu tình sau khi qua lại giới và địa, đây kia,
với nhiều loại tịnh nhiễm, các nghiệp và quả khởi lên
sau đó cũng không có nhân. Hoặc chấp do nhân chủng tử khác
sanh ra quả khác, hoặc chấp sắc tâm làm nhân duyên sanh ra
nhau, hoặc chấp pháp gì khác duy trì chủng tử, thì trước
đây đã ngăn chận rồi.
Nếu
các nghiệp và quả, không nhân mà vẫn sanh, vậy thì sau khi
nhập Vô dư y Niết bàn, nghiệp và quả trong ba cõi vẫn sanh
trở lại, vì phiền não cũng có thể không nhân mà vẫn sanh.
Lại
"hành làm nhân duyên sanh thức" (mà không có thức thứ tám),
không thể thành được, vì các chuyển thức nhận chịu sự
huân tập, là việc trước đây đã ngăn chận. Cũng không
phải "Kiết sanh thức ô nhiễm" vì nó không phải do "hành"
chiêu cảm, mà nói "hành" làm duyên cho "danh sắc" cũng không
được, vì giữa hành và danh sắc thời gian và phận vị cách
xa nhau, không có nghĩa làm duyên được. Ðây nói "hành làm
duyên sanh sắc" đã không thành, thì các chi sau như nói "hành
làm duyên lục nhập", "thủ làm duyên sanh lão tử" cũng không
thành.
- Các
pháp thanh tịnh cũng có ba thứ khác nhau là đạo chủng thế
gian, đạo chủng xuất thế gian và quả đoạn dứt. Nếu không
có thức Dị thục này duy trì đạo chủng thanh tịnh của
thế gian và xuất thế gian, thì sau khi tâm khác loại (tâm
thế gian khởi lên tâm xuất thế gian) khởi lên pháp thanh
tịnh thế, xuất thế đều có thể không nhân mà khởi. Còn
nếu chấp do nhân khác mà khởi, thì trước đã phá rồi.
Nếu
hai đạo chủng thanh tịnh (là thế và xuất thế) không nhân
mà sanh, thời sau khi nhập Vô dư Niết bàn giới rồi, hai đạo
chủng thanh tịnh kia nên sanh trở lại, vì chỗ nương của
hai đạo thanh tịnh là thân trí cũng có thể không nhân mà
sanh lại.
Lại
tịnh tâm đạo xuất thế lúc đầu không thể sanh vì không
có cái gì duy trì tịnh tâm đạo chủng pháp nhĩ vốn có đó,
vì pháp hữu lậu thì khác loại không phải là nhân của đạo
chủng vô lậu. Không nhân mà sanh là không phải do chủng tử
trong thức sanh, không có chủng tử thì xuất thế đạo lúc
đầu không sanh, lúc sau cũng không sanh. Thế thì có thể không
có đạo và quả ba thừa.
Lại
nếu không có thức này duy trì chủng tử phiền não thì quả
chuyển y do đoạn phiền não mà chứng được thì cũng không
thành. Nghĩa là khi Thánh đạo khởi lên thì phiền não hiện
hành và chủng tử của nó đều không có, vì hai tâm nhiễm
và tịnh không thể cùng khởi một lúc. Tâm thứ sáu tương
ưng với Thánh đạo, quyết không duy trì chủng tử phiền
não, vì tự tánh phiền não và Thánh đạo trái ngược nhau,
như tánh Niết bàn với pháp ô nhiễm.
Pháp
quá khứ, vị lai và đắc (Thánh đạo) cùng các pháp khác
đều không phải thật có (nên không duy trì chủng tử và
thành đoạn quả). Nếu nói các pháp khác đó duy trì chủng
tử phiền não thì lý cũng không thành.
Ðã
không có phiền não bị đoạn trừ, thì đạo đoạn trừ phiền
não cũng không, nương đâu do đâu để lập đoạn quả? Nếu
do đạo lực làm cho phiền não lúc sau không sanh, để lập
đoạn quả, thời lúc mới có thành đạo khởi lên là đã
có thể thành bậc Vô học, vì các phiền não lúc sau đều
không có nhân, vĩnh viễn không sanh vậy.
Nếu
chấp nhận có thức Dị thục này, thì mọi sự nhân quả
nhiễm tịnh đều thành, vì chỉ có thức này mới có
khả năng duy trì các chủng tử nhiễm tịnh.
Chứng
minh có thức thứ tám này, lý thú nhiều vô cùng, chỉ sợ
văn dông dài, nên lược thuật cương yếu.
Giáo
và lý đã chứng minh hiển nhiên riêng có thức thứ tám này,
những người có trí nên sanh tâm thâm tín thọ trì. (22).
Trong
kinh thuộc các bộ phái Phật giáo cũng mật ý nói riêng thức
A lại da, như trong kinh A cấp ma (A hàm) của Ðại chúng bộ,
có chỗ mật ý nói thức này gọi là Căn bản thức, là chỗ
nương của nhãn thức v.v... ví như cội cậy là gốc của
nhánh lá, chứ không phải nhãn thức v.v... có được nghĩa
đó.
- Trong
kinh thuộc phái Thượng tọa bộ và Phân biệt luận giả,
đều có mật ý nói thức này gọi là Hữu phần thức. Hữu
là tam hữu (ba cõi), phần là nhân. Chỉ có thức này thường
hằng cùng khắp mới có thể làm nhân của Tam hữu.
- Hóa
địa bộ nói thức này là Cùng sanh tử uẩn. Lìa thức thứ
tám không thể riêng có pháp uẩn nào đi đến tận cùng ngằn
mé sanh tử, không bao giờ gián đoạn. Nghĩa là ở cõi trời
Vô sắc bị gián đoạn, ở cõi trời Vô tưởng thì các tâm
khác bị diệt mất, còn tâm Bất tương ưng hành pháp thì
lìa sắc và tâm không thể tự có. Ðó là điều đã được
công nhận. Cho nên biết chỉ có thức A lại da này mới gọi
là Cùng sanh tử uẩn.
- Trong
kinh Tăng Nhứt thuộc phái Thuyết Nhất thiết Hữu bộ cũng
mật ý nói: Thức này gọi là A lại da như nói ái A lại da,
lạc A lại da, hân A lại da, hỷ A lại da, nghĩa là lòng tham
của Mạt na đối với A lại da (Àlya - rãma, Àlya - rata, Àlya
- sammudita) trong ba đời tổng có và biệt khác nhau, nên lập
ra bốn tên ấy. Loài hữu tình chấp nó làm tự nội ngã thật,
cho đến khi chưa chấm dứt cái chấp đó, thì luôn luôn sanh
tâm ưa đắm nó. Cho nên A lại da thức mới là chỗ thật
đáng ưa đám, chứ không chịu chấp "năm thủ uẩn", vì khi
sanh vào chỗ thuần chịu khổ thì không ưa đắm thân năm
thủ uẩn ở đó, mà thường xuyên chán ghét thân năm thủ
uẩn đó, nghĩ rằng ta lúc nào sẽ xả bỏ được mạng căn
năm thủ uẩn này, chúng đồng phận này, thân tâm đau khổ
này, để cho ta được tự tại hưởng khoái lạc.
Năm
dục cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa là
người lìa dục, tuy họ không còn tham ưa năm dục, nhưng họ
vẫn ưa cái ta của mình.
Lạc
thọ cũng không phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa là
người xa lìa tạp nhiễm đệ Tam Thiền, tuy họ chán lạc
thọ của đệ Tam Thiền, nhưng họ vẫn ưa cái ta của mình.
Thân
kiến cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm, nghĩa
là những người không phải là bậc vô học nhưng tin lý vô
ngã, tuy họ không sanh lòng ưa đắm thân kiến, song đối với
cái ta bên trong họ vẫn ưa đắm.
Các
chuyển thức cũng chẳng phải cũng chẳng phải là chỗ thật
đáng ưa đắm, nghĩa là những người không phải vô học
nhưng cầu diệt Tâm, tuy họ chán ghét các chuyển thức, nhưng
họ vẫn ưa cái ta của mình.
Sắc
thân cũng chẳng phải cũng chẳng phải là chỗ thật đáng
ưa đắm, nghĩa là những người lìa sắc ô nhiễm, tuy họ
chán ghét sắc thân, nhưng họ vẫn ưa cái ta của mình.
Bất
tương ưng hành pháp lìa Sắc và Tâm không thể tự có cho
nên cũng chẳng phải là chỗ thật đáng ưa đắm.
Kẻ
Dị sanh, hàng Hữu học trong khi khởi ngã ái, tuy đối với
các uẩn khác hoặc có ái, không ái, nhưng đối với thức
thứ tám này luôn luôn vẫn ưa chấp đó làm ngã.
Cho
nên chỉ có thức thứ tám này là chỗ thật đáng ưa đắm.
Do đó trong kinh Tăng Nhất nói đến tên A lại da chính để
hiển thị thức A lại da này vậy.
- Trên
đây đã dẫn Thánh giáo làm chứng có thức A lại da. Bây
giờ sẽ hiển bày chánh lý làm chứng.
1.
Khế kinh nói: Chỗ tập hợp và phát khởi chủng tử các pháp
ô nhiễm, thanh tịnh đó gọi là tâm. Nếu không thức này
thì cái Tâm giữ gìn chủng tử kia không có được. Các chuyển
thức khi ở Diệt tận định v.v... bị gián đoạn. Các căn,
các cảnh, tác ý, thiện tâm v.v... chủng loại khác nhau, dễ
sanh, dễ mất như điền chớp, không chắc chắn, không thể
huân tập, không thể giữ gìn chủng tử, nên chẳng phải
là cái tâm tập hợp và phát khởi các chủng tử nhiễm tịnh.
Chỉ có thức thứ tám này, một loại trước sau tương tục
không gián đoạn, có tánh kiên trụ và có thể chịu huân
tập như mè, là tương đương với nghĩa chữ Tâm của kinh
nói. Nếu không chấp nhận có Tâm giữ gìn chủng tử thì
không những trái kinh mà cũng trái với chánh lý. Vì các pháp
nhiễm tịnh được khởi lên không do được huân tập. Không
huân tập thành chủng tử, thì sự khởi lên đó chỉ là uổng
công. Khi pháp nhiễm tịnh khởi lên đã không nhân nơi chủng
tử, thời đồng như ngoại đạo chấp tự nhiên sanh.
- Sắc
và pháp Bất tương ưng hành không phải là Tâm, ví như tiếng
vang, như ánh sáng, không phải là chỗ của pháp nhiễm tịnh
bên trong huân tập, thì nó đâu có thể giữ gìn chủng tử.
Lại những pháp Sắc và Bất tương ưng này lìa thức không
thể tự có, thì làm sao chấp nó làm chỗ nương cho chủng
tử bên trong?
Các
Tâm sở pháp tương ưng với chuyển thức, nó như chuyển thức
có gián đoạn, dễ khởi dễ mất, không tự tại, không phải
Tâm, nên không thể giữ gìn chủng tử, cũng không chịu sự
huân tập. Cho nên đúng lý phải có cái Tâm giữ gìn chủng
tử riêng.
- Có
thuyết cho rằng sáu thức từ vô thỉ, nương nơi căn và cảnh
có phận vị trước sau, thức thể tùy ba tánh chuyển biến,
song đồng một loại, nên có thể chịu sự huân tập và giữ
gìn chủng tử. Do đó thành nhân quả nhiễm tịnh, chứ cần
gì phải chấp có thức thứ tám?
- Lời
nói đó vô nghĩa. Vì sao? Vì nếu chấp thức loại có thật
thì đồng với ngoại đạo Thắng luận. Nếu chấp thức loại
là giả thì không có tác dụng mạnh mẽ, nên không thể giữ
gìn chủng tử thật của nội pháp.
Lại
chấp thức loại đó, nó nhiếp thuộc tánh gì? Nếu là tánh
thiện, ác, thời không thể chịu sự huân tập, vì nó thuộc
hữu ký, giống như Trạch diệt vô vi. Nếu nó là vô ký, thì
khi tâm thiện hoặc ác nổi lên, là không có tâm vô ký, thức
loại ấy tát phải đoạn, không thể nói sự thể của thức
có thiện, có ác mà loại chỉ là vô ký, vì loại khác nhau
thì cũng đồng như tánh thể thức khác nhau.
Loại
ở địa vị vô tâm, thức loại này quyết không có. Ðã có
gián đoạn, tánh không kiên trụ, thì làm sao chấp nó có thể
giữ gìn chủng tử và chịu sự huân tập.
Lại
A la hán hoặc tâm loài Dị sanh, sáu thức loại đồng
là vô ký, thể thời có thể A la hán huân tập các pháp nhiễm,
loài Dị sanh lại huân tập pháp vô lậu. Chấp nhận thế
thì có lỗi.
Lại
các căn nhãn, nhĩ v.v... hoặc các pháp khác cùng với nhãn
thức, mà loại của căn,loại của pháp và loại của thức
đó đồng là vô ký, thì nó nên huân tập lẫn nhau. Nhưng
các ông không chấp nhận như thế. Thế nên, không nên chấp
thức loại chịu sự huân tập.
Lại
sáu thức, hoặc tự thể hoặc chủng loại của nó trước
sau hai niệm đã không cùng khởi một lần, như cách nhiều
niệm trước sau thì không thể huân tập nhau, vì năng huân
và sở huân phải đồng thời.
Ðối
với người chấp "sáu thức cùng lúc sanh khởi có thể huân
nhau", (năm thức trước cùng lúc huân thức thứ sáu) thì do
ý thú đã nói trên mà biết thức thứ sáu đã không phải
sở huân, nên nó cũng không thể giữ gìn chủng tử.
-
Có người chấp Sắc, Tâm, tự loại không gián đoạn, niệm
trước làm chủng tử cho niệm sau, lý nhân quả được thành.
Cho nên lời nói trước đây (nói tập khởi gọi là Tâm để
chỉ thức A lại da) làm chứng không thành.
- Lối
chấp kia phi lý, vì không có sự huân tập. Nghĩa là tự loại
niệm trước sau kia đã không có sự huân tập, thì làm sao
chấp niệm trước làm chủng tử cho niệm sau? Lại nữa, tự
loại có gián đoạn thì không thể sanh trở lại, và hàng
Nhị thừa vô học không có thân ngũ uẫn đời sau, vì ngưòi
kia lấy sắc tâm khi chết làm chủng tử cho thân sau.
Cũng
không nên chấp Sắc, và Tâm lần lượt làm chủng tử sanh
ra nhau, vì chuyển thức và sắc đều không chịu sự huân
tập, như trước đã nói rồi.
- Có
thuyết cho rằng các pháp ba đời đều có nhân chiêu cảm
quả, quả thù đáp nhân, chứ nhọc gì phải chấp có thức
thứ tám giữ gìn chủng tử. Nhưng Khế kinh sở dĩ nói tâm
là chủng tử, vì tâm có công dụng thế mạnh khởi lên pháp
nhiễm tịnh.
- Lời
nói các pháp ba đời đó phi lý. Vì qúa khứ và vị lai chẳng
phải thường, chẳng phải hiện có, giống như hoa đốm giữa
không, không phải thật có. Lại nói không có tác dụng, không
thể chấp nó làm nhân duyên được. Nếu không có thức thứ
tám giữ gìn chủng tử nhiễm tịnh, thì lý nhân quả không
thành.
- Có
người chấp lý "không, vô tướng" của Ðại thừa là rốt
ráo, chỉ nương theo tợ tỷ lượng mà bác sạch hết, chẳng
những không có thức này cũng không có hết thảy pháp. Những
người này chỉ làm trái hại lời kinh đã dẫn ở trước,
đối với việc tri Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Ðạo,
nhân quả nhiễm tịnh, họ đều chấp cho là không thật, thời
thành đại tà kiến. Ngoại đạo hủy báng nhân quả nhiễm
tịnh, cũng không bảo là hoàn toàn không có, mà chỉ chấp
cho là không phải thật. Nếu hết thảy đều không thật có,
thời các Bồ tát không nên vì xả bỏ sanh tử không thật
có mà tinh cần tu tập tư lương Bồ đề không thật có. Ai
là ngưòi có trí lại đi tìm đứa con của người con gái
đá, lập đội quân để đánh địch mộng huyễn?
Cho
nên, nên tin có có tâm giữ gìn chủng tử, mà dựa vào đó
kiến lập nhân quả nhiễm tịnh. Và tâm kia tức là thức
thứ tám này vậy.
2.
Lại Khế kinh nói: Có tâm Dị thục do nghiệp thiện ác chiêu
cảm. Nếu không có thức thứ tám này thì tâm Dị thục kia
không thể có. Vì nhãn thức v.v... có gián đoạn không phải
lúc nào cũng là nghiệp quả (khi nó vô ký là nghiệp quả,
khi nó khởi thiện, ác, thì không phải nghiệp quả), ví như
điền chớp, nên chẳng phải là tâm Dị thục, tâm Dị thục
không thể dứt rồi lại nối, vì mạng căn (Dị thục) không
có việc ấy.
Sáu
thức nhãn, nhĩ, v.v... do nghiệp chiêu cảm, ví như âm thanh
không phải hằng số tiếp nối, nó là Dị thục sanh chứ
không phải chơn Dị thục.
Quyết
định phải chấp nhận có tâm chơn Dị thục thù đáp lại
dẫn nghiệp, biến khắp không gián đoạn, biến hiện căn,
thân, khí giới làm chỗ nương cho hữu tình, vì căn thân khí
giới lìa tâm Dị thục không thể có được. Bất tương ưng
hành pháp thì không có thật thể; các chuyển thức thì không
phải hằng có. Nếu không tâm Dị thục này thì cái gì biến
ra căn thân khí giới; lại nương nơí pháp gì mà luôn có
loài hữu tình.
Lại
khi ở trong định không tư lự gì hết, hoặc khi không ở
trong định thì có tư lự chuyện khác, vẫn thường khởi
lên nhiều sự cảm thọ nơi thân. Nếu không có tâm Dị thục
chấp giữ cảm thọ đó thì không thể lúc sau đó thân có
sự vui thích hoặc lao tổn. Nếu không hằng có tâm Dị thục
thì làm sao khi ra định lại có sự cảm thọ nơi thân này?
Ở
điạ vị những loài hữu tình không phải là Phật, khởi
lên các tâm thiện khác, chắc phải tâm chơn Dị thục đồng
thời hiện khởi.
Hỏi:
Sao riêng Phật không có tâm Dị thục?
Ðáp:
- Như chấp nhận khi khởi lên tâm chơn Dị thục kia, thì đó
là các loài hữu tình chứ chẳng phải Phật.
Do
đó các hữu tình thường có tâm chơn Dị thục và tâm ấy
chính là thức thứ tám này.
3.Lại
Khế kinh nói: Loài hữu tình lưu chuyển trong năm thú bốn
loài sanh. Nếu không có thức này thì cái thể của năm thú
bốn loài sanh (giới thú sanh thể) kia không thể có được.
Nghĩa là phải có đủ bốn nghĩa là thật có, hằng thường,
biến khắp, không lộn xộn mới có thể lập chính cái pháp
đó làm thể của năm thú, bốn loài sanh. Nếu pháp không phải
Dị thục, thì thể thú sanh sẽ rối loạn, trụ ở đây mà
khởi lên pháp nơi thú sanh khác.
Các
sắc Dị thục và một phần do nghiệp cảm ở trong năm thức,
nó không biến khắp thú sanh, vì ở trong cõi vô sắc, hoàn
toàn không có sắc và không có năm thức hiện hành. Các điều
thiện sanh ra đã có (báo đắc) và những điều do nghiệp
cảm ở trong ý thức tuy khắp thú sanh, khởi lên không rối
loạn, nhưng không hằng có.
Bất
tương ưng hành pháp không có thật thể. Tất cả pháp nói
trên đều không thể lập làm thật thể chính thức của ngũ
thú, tứ sanh.
Chỉ
có Dị thục tâm và tâm sở của nó thật có, hằng thường,
biến khắp, không tạp, mới chính thức chơn thật làm thật
thể của thú sanh. Nếu không có tâm Dị thục này thì khi
sanh cõi Vô sắc (không có sắc và năm thức, chỉ có ý thức)
ở vị trí khởi lên thiện tâm, tất không phải thể thú
sanh. Giả sử chấp nhận đó là thể thú sanh thu nhiếp các
pháp hữu lậu, thì các vị A na hàm khi sanh vào cõi Vô sác,
khởi lên tâm vô lậu, thì không phải thể thú sanh. Nói vậy
là trái lý.
Ðể
tránh khỏi lỗi trước và lỗi này, nên biết chỉ có pháp
Dị thục mới chính thức chơn thật là thể của thú sanh.
Do vậy mà đức Như Lai không nhiếp vào thể thú sanh, vì Phật
không còn có pháp Dị thục vô ký, và Phật cũng không nhiếp
thuộc vào cõi nào, vì Phật không còn có ba lậu, và vì Thế
Tôn đã xả bỏ Khổ, Tập đế. Các chủng tử hý luận nơi
Ngài dã vĩnh viễn dứt sạch.
Thể
của thú sanh đích thực là chỉ có tâm Dị thục và tâm sở
của nó, nhưng tâm và tâm sở của nó này lìa ngoài thức
thứ tám là không thể có được. Thế nên biết riêng có
thức thứ tám này.
4.
Lại Khế kinh nói: "Thân có sắc căn là cái có chấp và thọ,
nếu không có thức thứ tám này thì cái khả năng chấp thọ
thân có sắc kia không có". Nghĩa là năm sắc căn và chỗ nương
của nó chỉ trong đời hiện tại là có chấp thọ, tất nó
phải do tâm có khả năng chấp thọ nó, mà tâm ấy chỉ là
tâm Dị thục do nghiệp trước dẫn đến, chứ không phải
pháp thiện và nhiễm, hay một lại vô ký nào có khả
năng biến khắp tiếp nối chấp thọ thân có sắc căn. Các
chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... cũng không có được khả
năng như vậy.
Lời
nói "Chỉ có tâm Dị thục chấp thọ căn thân" này ý muốn
chỉ rõ các chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... dều không có tính
cách nhất loại có khả năng biến khắp tiếp nối chấp thọ
thân có sắc căn bên trong của mình, chứ không phải nói năng
chấp thọ chỉ là tâm Dị thục, (vì vô cấu thức cũng chấp
thọ) đừng cho rắng sắc thân vô lậu của đức Phật không
có chấp thọ (sắc thân của Phật có vô cấu thức chấp
thọ). Nhưng đây nói chấp thọ sắc thân hữu lậu thì chỉ
là tâm Dị thục.
Các
chuyển thức thì theo duyên hiện tại khởi lên, như tiếng,
như gió. Còn tâm thiện, tâm nhiễm không phải do nghiệp dẫn
đến ví như Phi trạch diệt. Dị thục sanh không phải là
chơn Dị thục, không phải là chỗ nương cho khắp các pháp,
không tiếp nối, ví như điển chớp không có khả năng
chấp thọ sắc thân hữu lậu.
- Nói
các Tâm thức là gồm luôn Tâm sở trong đó, vì nó quyết
định tương ưng nhau, ví như nói chữ "Duy thức" (gồm luôn
cả Tâm sở).
Không
phải các "Sắc căn" và "Bất tương ưng hành" có khả
năng chấp thọ thân có sắc căn, vì không có sở duyên, ví
như hư không.
Cho
nên cần có có tâm chấp thọ riêng, và tâm ấy chính là thức
thứ tám này.
5.
Lại Khế kinh nói: Ba pháp Thọ, Noãn, Thức, nương tựa duy
trì lẫn nhau mà được tồn tại liên tiếp. Nếu không có
thức này thì cái thức có khả năng giữ gìn Thọ và Noãn
kia được trụ lâu, không thể có được". Nghĩa là các chuyển
thức có gián đoạn, có biến chuyển như gió và tiếng, không
có tác dụng thường xuyên giữ gìn, không thể lập "chuyển
thức" làm cái thức giữ gìn Thọ, Noãn. Chỉ có thức Dị
thục không gián đoạn, không biến chuyển như Thọ và Noãn,
mới có tác dụng thường xuyên giữ gìn, nên có thể lập
thức Dị thục này làm cái thức giữ gìn Thọ và Noãn. Kinh
nói ba thứ ấy nương tựa gìn giữ lẫn nhau, nếu chỉ Thọ
và Noãn là nhất loại tiếp nối, còn thức thì không, là
không hợp chánh lý.
Hỏi:
- Tuy nói ba pháp Thọ, Noãn, Thức nương tựa giữ gìn lẫn
nhau, nhưng chỉ chấp nhận Noãn là không biến khắp ba cõi
(cõi Vô sắc không có Noãn). Sao không chấp nhận riêng "Thức"
có gián đoạn, chuyển biến?
Ðáp:
- Ðiều này đối với lý lẽ trước kia chẳng phải là điều
sai lầm đáng cật nạn. Nghĩa là nếu ở chỗ đó có đủ
ba pháp không gián đoạn chuyển biến là có thể thường xuyên
giữ gìn lẫn nhau. Nếu không như vậy, thì không có tác dụng
thường xuyên giữ gìn nhau.
Trước
đây dùng lý này để chỉ rõ cái thức được nói trong ba
pháp Thọ, Noãn, Thức , không phải là chuyển thức. Nên nếu
cho Noãn không biến khắp ba cõi, thì đâu có phá hoại lý
lẽ trước kia? Cho nên như trước nói, lý nghĩa là rốt ráo
được thành.
Lại
trong ba pháp, Thọ và Noãn chỉ là hữu lậu, cho nên biết
Thức giữ gìn Thọ, Noãn kia cũng là hữu lậu. Khi sanh cõi
Vô sắc, khởi lên tâm vô lậu, bấy giờ không có tâm Dị
thục thì thức nào duy trì thọ mạng ở cõi Vô sắc kia? Do
đó nên biết có thức Dị thục nhất loại hằng thường
và biến khắp, duy trì Thọ, Noãn và Thức đó là thức thứ
tám vậy.
6.
Lại Khế kinh nói: "Các loại hữu tình, trong khi thọ sanh và
khi mạng chung, chắc chắn ở trong hữu tâm tán loạn, chứ
không ở trong định vô tâm. Nếu không có thức Dị thục
này thời cái tâm trong khi sanh và khi chết đó không thể có".
Nghĩa là khi sanh và khi chết, thân tâm hôn muội, như ngủ
mê không chiêm bao, mê man, khi đó các chuyển thức minh mẫn
chắc chắn không hiện khởi. Lại ở trong vị trí sanh và
chết đó, hành tướng và sở duyên của sáu chuyển thức
đều không thể biết, giống như ở vị trí vô tâm, chuyển
thức chắc chắn không hiện hành. Hành tướng và sở duyên
của sáu chuyển thức nếu có hiện hành thì chắc sẽ được
biết rõ như những lúc khác, không phải như lúc mới sanh
hay lúc sắp chết. Hành tướng và sở duyên của chơn Dị
thục thức quá vi tế không thể rõ được. Nó là quả báo
do nghiệp dẫn, tiếp nối trong một thời gian, hằng không
chuyển biến. Chính cái hữu tâm tán loạn đó, gọi là tâm
khi sanh tử. Không trái với chánh lý.
- Có
thuyết cho rằng: "Ngũ thức ở vị trí thọ sanh đó quyết
không có, thì ý thức thủ cảnh hoặc nhân ngũ thức, hoặc
nhân tha giáo và nhân định lực mà khởi lên, các nhân đó
khi thọ sanh đã không có được, nên ở vị trí thọ sanh,
ý thức cũng không có (thuyết này chỉ năm thức làm nhân
sanh ý thức, nên nói như vậy)".
- Nếu
vậy, hữu tình sanh cõi Vô sắc, sau đó lẽ ra ý thức vĩnh
viễn không sanh ra được (vì ở Vô sắc không có năm thức);
vì định tâm chắc phải do từ ý thức tán loạn dắt dẫn,
mà ngũ thức và tha giáo ở cõi Vô sắc không có, thì tâm
tán loạn dẫn khởi lên định tâm không do đâu có được.
Nếu
bảo định kia do sức tập quán từ trước; sau đó bỗng nhiên
hiện ra. Nếu vậy, sao trong khi mới sanh cõi kia không hiện
khởi?
Lại
ở cõi Dục, cõi Sắc khi mới thọ sanh, ý thức tập quán
cũng nên hiện khởi. Nếu do vì hôn muội nên lúc ban sơ chưa
hiện tiền được, thì đấy chính là nguyên nhân vì hôn muội
không hiện khởi, phải do chủng tử trong bổn thức mới hiện
khởi. Ðã được công nhân trước kia, cần gì lại phải
nhọc công nói do ba nhân khác (là nhân năm thức, nhân tha giáo,
nhân định lực).
- Có
các bộ phái khác chấp: "Ở vị trí khi sanh và khi chết, có
một loại ý thức vi tế, mà hành tướng và sở duyên của
nó đều không thể biết rõ". nên biết loại ý thức vi tế
ấy chính là thức thứ tám đây; vì đã công nhận ý thức
thô hiển không phải là một loại vi tế khó biết như vậy.
Lại
khi sắp chết, do nghiệp thiện ác mà có cảm xúc lạnh lần
lượt khởi lên trên dưới ở nơi thân. Nếu không thức Dị
thục này, thì việc đó không thành được. Vì chuyển thức
thì không thể chấp thọ thân được. Còn năm thức nhãn,
nhĩ v.v... đều có chỗ nương riêng nên hoặc không hiện hành.
Còn đệ lục ý thức bấy giờ không trụ nơi thân, và đệ
lục ý thức duyên cảnh không nhất định, lại khi sắp gá
trong thân hằng thời tương tục, thì cảm xúc lạnh không
thể do đệ lục ý thức tạm phát ra được. Vậy nên biết
chỉ có tâm Dị thục do nghiệp lực đời trước, hằng thời
biến khắp tương tục chấp thọ thân phần, nên khi sắp chết
tâm Dị thục xả bỏ chỗ chấp thọ nào nơi thân, thì cảm
xúc lạnh sanh ra ở đó. Vì Thọ, Noãn và Thức không lìa nhau,
hễ chỗ nào có cảm xúc lạnh khởi lên thì chỗ đó là phi
hữu tình, chỗ thân chết phi tình này tuy cũng do Dị thục
tâm biến ra và duyên, nhưng không chấp Thọ. Cho nên quyết
định có thức thứ tám này.
7.
Lại Khế kinh nói: "Thức duyên danh sắc, danh sắc duyên thức",
hai pháp đó lần lượt nương nhau, ví như bó câu lau, cùng
lúc đứng vững. Nếu không có thức thứ tám này thì tự
thể của "thức" trong thức duyên danh sắc không có được.
Và trong kinh kia tự giải thích rằng, danh là bốn uẩn không
phải sắc, sắc là cái hình trạng trong bào thai như Kiết
la lam v.v... Hai thứ này cùng với thức nương nhau mà trụ,
như hai bó câu lau thường cùng duyên nhau trong một lúc mà
trụ, không hề lìa nhau. Các chuyển thức nhãn, nhĩ v.v... nhiếp
vào trong danh. Nếu thức thứ tám không có, thì nói cái gì
là thức duyên danh sắc đây? Cũng không thể nói thức uẩn
thuộc về danh trong danh sắc đó chỉ là cho năm thức thân,
còn thức trong câu "Thức duyên danh sắc" là chỉ cho thức
thứ sáu, vì khi ở giai đoạn hình trạng Kiết la lam chưa
có năm thức.
Lại
các chuyển thức có gián đoạn chuyển biến, không có sức
hằng thời chấp trì danh sắc, làm sao nói nó thường cùng
danh sắc duyên nhau.
Vậy
nên biết "Thức duyên danh sắc" là rõ ràng chỉ cho thức thứ
tám.
(Hết quyển ba của bản Hán)
8.
Lại Khế kinh nói: "Tất cả hữu tình đều nuơng ăn mà tồn
tại. Nếu không có thức này thì cái thể của thức thực
(sống bằng các ăn của thức) kia không thể có". Nghĩa là
Khế kinh nói: Ăn có bốn cách:
1.
Ðoàn thực – Làm biến hoại đồ ăn là tướng trạng của
cách ăn này. Nghĩa là ở cõi Dục, những đồ vật có hương,
có vị, có xúc, trong khi nó biến hoại thì lấy đó làm ăn.
Do dó Sắc không thuộc về đoàn thực, vi khi biến hoại màu
sắc không có tác dụng gi nuôi thân.
2.
Xúc thực- Tức xúc chạm cảnh là tướng trạng của nó. Nghĩa
là khi Xúc tâm sở hữu lậu của hữu tình xúc chạm cảnh
mà có sự cảm thọ hỷ lạc, thì có thể lấy đó làm ăn.
Xúc tâm sở tuy tương ưng với tất cả các thức, song Xúc
tâm sở ở nơi sáu thức trước, có nghĩa "Ăn" mạnh hơn,
cảnh xúc chạm ở đây thô phù rõ rệt, nhiếp nhận hỷ,
lạc, và xả thọ, thuận ý, ích thân, mà có sự tư dưỡng
mạnh hơn.
3.
Ý tư thực - Tức hy vọng là tướng trạng của nó. Nghĩa
là Tư tâm sở hữu lậu cùng sinh khởi với Dục tâm sở,
hy vọng cảnh đáng ưa, có thể lấy đó làm ăn. Tư tâm sở
này tuy tương ưng với tất cả các thức, nhưng "Tư" tương
ưng với ý thức có nghĩa ăn mạnh hơn, vì ý thức đối với
cảnh có sự hy vọng mạnh.
4.
Thức thực - Tức sự chấp trì là tướng trạng của nó.
Nghĩa là thức hữu lậu, do thế lực của Ðoàn, Xúc, Tư thực
tăng trưởng mà có thể thành nghĩa ăn. "Thức" nói đây tuy
chung cả tự thể các thức, nhưng thức thứ tám có nghĩa
ăn mạnh hơn, vì thức thứ tám là một loại tương tục chấp
trì mạng căn mạnh hơn.
Do
đó Tập Luận bốn cách ăn này nhiếp vào ba uẩn (sắc, hành,
thức uẩn), năm xứ (hương, vị, xúc, pháp và ý xứ), mưòi
một giới (hương, vị, xúc, pháp, ý và sáu thức giới). Bốn
sách ăn này có khả năng duy trì thân mạng hữu tình,
không để bị hư mất, nên gọi là ăn.
Ðoàn
thực chỉ có tác dụng ỏ cõi Dục, Xúc và Ý tư thực tuy
có ở cả ba cõi, nhưng nương nơi sáu thức mà chuyển, nên
tùy theo thức mà hoặc có hoặc không. Các chuyển thức nhãn,
nhĩ v.v... có gián đoạn, có biến chuyển, không phải cùng
khắp hằng thời duy trì thân mạng. Nghĩa là khi ở định
vô tâm (Vô tưởng định, Diệt tận định), khi ngủ mê, khi
chết ngất, khi ở cõi trời Vô tưởng, các chuyển thức bị
gián đoạn. Giả sử ở địa vị hữu tâm, tùy căn sở y,
cảnh sở duyên mà chuyển dịch theo ba tánh, ba cõi, chín địa,
nên đối với việc duy trì thân mạng, các chuyển thức không
biến khắp, không hằng thời làm sao duy trì được.
Những
người chấp không có thức thứ tám, vậy nương vào đâu
để có Thức thực? Và do đâu mà kinh nói: "Tất cả hữu
tình đều nương nơi ăn mà tồn tại?" Cũng không thể bảo
ở địa vị vô tâm, tuy không có thức hiện hành nhưng dùng
thức quá khứ, vị lai không hiện tại, không thường hằng,
như hoa đốm giữa không, không có thật thể thật dụng, hay
dù cho có thật thể thật dụng mà không phải ở hiện tại,
thì nó như hư không, không thành ăn được.
Cũng
không thể nói tâm nhập định là món ăn của hữu tình ở
địa vị vô tâm, vì khi ở vô tâm thì tâm gia hạnh nhập
định đã không còn nữa. Nó thuộc về quá khứ, không phải
là ăn, việc ấy đã thành tựu rốt ráo rồi.
Lại
không thể nói: "Pháp Bất tương ưng hành" ở Vô tưởng định
là món ăn cho hữu tình nhập Vô tưởng định; vì pháp Bất
tương ưng hành không nhiếp thuộc bốn cách ăn, vì lìa sắc
tâm, nó không thật có.
Có
người chấp ở Diệt tận định còn thức thứ sáu, nó đối
với hữu tình ở Diệt tận định có thể là món ăn. Lối
chấp đó cũng phi lý, đến đoạn sau sẽ phá rộng. Lại kia
thử nói hữu tình sanh vào hai cõi Sắc và Vô sắc, khi khởi
tâm vô lậu thì lấy gì làm ăn? Vì thức vô lậu là phá hoại
các hữu (cõi), nên thức vô lậu không thể là món ăn đối
với thân mạng hữu tình ở hai cõi đó.
Cũng
không thể chấp trong thức vô lậu có chủng tử hữu lậu,
có thể làm thức ăn cho hữu tình kia, vi thức vô lậu giống
như Niết bàn không thể chấp trì chủng tử hữu lậu.
Lại
không thể nói, thân và mạng của hữu tình ở thượng giới
duy trì lẫn nhau tức là làm món ăn cho nhau, vì trong bốn cách
ăn không nhiếp thuộc vào mạng thân kia (trong bốn cách ăn,
không có thân mạng thực). Lại ở cõi Vô sắc không thân,
thì mạng không thể duy trì, vì là chúng đồng phận giữa
các hữu tình không có thật thể.
Do
đó biết chắc khác với chuyển thức, có thức Dị thục
một loại thường hằng và biến khắp, chấp trì thân mạng
không để cho hoại mất. Nương theo lẽ đó, đức Thế Tôn
nói: "Tất cả hữu tình đều nương nơi ăn mà tồn tại".
Và chỉ nương nơi năm thủ uẩn mà kiến lập hữu tình. Phật
không có ngũ uẩn hữu lậu, nên không nhiếp vào hữu tình.
Nói "Hữu tình nương ăn mà tồn tại" nên biết đó là nói
theo cách thị hiện quyền xảo (tức nói nghĩa bóng).