XI.
THỨC BIẾN HIỆN THỨ BA
Ðã
nói hai tâm sở Biến hành và Biệt cảnh, còn tâm sở Thiện
tướng nó như thế nào?
tụng
rằng:
Thiện
là tín, tàm, quý,
Ba
thiện căn: không tham v.v...
Cần,
an, bất phóng dật,
Hành
xả và bất hại.
Luận
rằng: Thức Liễu biệt cảnh chỉ cùng khởi với tâm sở
Thiện, nên gọi là Thiện tâm sở. Ðó là tín, tàm v.v... mười
một thứ.
Tín
là thế nào? Tánh của lòng tin là tâm thanh tịnh, nhẫn chịu
sâu sắc đối với Thật, vui thích sâu sắc đối với Ðức,
ưa muốn (hy vọng) sau sắc đối với Năng Nghiệp của tín
là đối trị tâm không tin, vui thích cầu các việc lành.
Nhưng
Tín sai khác nhau lược có ba thứ:
1.
Tin Thật có – Là đối với thật sự (tục đế) thật lý
(chơn đế) của các các pháp, tin sâu sắc là thật có mà
tùy thuận nhẫn chịu theo.
2.
Tin có Ðức – Là đối với Tam Bảo đầy đủ chơn tịnh
đức, tin sâu sắc mà vui thích theo.
3.
Tin có Năng – Là đối với tất cả điều thiện của thế
và xuất thế gian, tin sâu sắc nó có năng lực, và mình có
năng lực thực hành theo là có thể được quả báo vui và
sẽ chứng thành Thánh đạo, mà khởi tâm hy vọng, mong muốn.
Do
đó Tín nhằm đối trị không tin nơi Thật, Ðức, Năng kia,
đồng thời ưa thích chứng tu điều thiện của thế và xuất
thế gian.
Hỏi:
- "Nhẫn chịu" tức là "Thắng giải" (trong Biệt cảnh ), đó
chính là nhân của Tín. "Vui thích, ưa muốn" tức là "Dục"
(trong Biệt cảnh), đó chính là quả của Tín. Vậy chưa xác
định tự tướng của Tín là thế nào!
Ðáp:
- Há không vừa nói Tín lấy tâm thanh tịnh làm tự tánh đó
sao?
Hỏi:
- Ðây còn chưa rõ nghĩa chữ "tâm thanh tịnh" kia.
Nếu
tịnh tức là Tâm (Tâm vương) thì tín không phải là Tâm sở
(làm sao gọi là tâm sở Tín?). Còn nếu nói làm cho Tâm vương
được tịnh mà gọi là Tín tâm sở, thì Tín đó có khác
gì tâm sở Tàm, Quý (cũng làm cho tâm thanh tịnh )? Nếu nói
có pháp tịnh cùng khởi với tâm, mà gọi là tâm tịnh, thì
cũng nạn vấn như thế.
Ðáp:
- Tánh của Tín là lặng trong, có khả năng làm tịnh
được Tâm, Tâm sở. Nhưng vì Tâm vương thắng hơn Tâm sở
nên chỉ nói "tâm tịnh". (chứ không nói Tâm sở tịnh). Ví
như hạt ngọc thanh thủy tánh nó vốn trong lại có khả
năng làm trong nước đục. Tàm, Quý v.v... tuy thiện nhưng không
phải tánh vốn thanh tịnh; còn tâm sở Tín thì tánh vốn thanh
tịnh, nên không có lỗi xen lạm với Tàm, Quý v.v...
Lại
các pháp ô nhiễm đều có tướng riêng, nhưng chỉ có tâm
bất tín là có tự tướng hỗn trược, lại làm hỗn trược
các Tâm, Tâm sở khác. Như vậy rất nhớp, tự nhớp lại
làm nhớp cái khác. Tín ngược với Bất tín, Tín lấy tịnh
làm tướng.
- Có
ý kiến cho rằng Tín lấy ưa vui làm tướng. Nói vậy thì
có thể thông cả ba tánh, tức Tín thông tánh thiện, ưa thông
tánh nhiễm, vui thông vô ký. Và đã thông ba tánh thì thể
nó chính là dục trong Biệt cảnh (còn Tín chỉ thông tánh
thiện). Lại có thể Khổ Tập đế, không phải là sở duyên
của Tín.
- Có
người cho Tín lấy sự tùy thuận làm tướng. – Nói vậy
thì Tín nên thông ba tánh, mà thông ba tánh thì chính là thắng
giải và dục (chứ không phải Tín). Vì nếu ấn thuận tức
là thắng giải trong Biệt cảnh. Nếu thuận vui tức là dục
trong Biệt cảnh, lìa hai thể này thì không có tướng tùy
thuận.
- Do
đó nên biết, tâm tịnh là Tín.
Tàm
là thế nào? Là tính biết hỗ với mình, do dựa vào sức
mình và giáo pháp đã học mà sùng trọng hiền thiện, nó
có nghiệp dụng đối trị tâm không biết hỗ, và ngưng dứt
ác hành. Nghĩa là dựa nơi chính bản thân và giáo pháp mình
mà biết tôn quý, tăng thượng (mạnh mẽ) đối với bản
thân và giáo pháp, do đó sùng trọng người hiền việc thiện,
xấu hỗ tội ác không dám làm nữa, đối trị tâm không biết
hỗ, dứt các ác hành.
Qúy
là thế nào? Là tính biết thẹn với người, dựa vào sức
thế gian mà khinh khi chống cự điều bạo ác, nó có nghiệp
dụng đối trị tâm không biết thẹn, ngưng dứt ác hành.
Nghĩa là dựa nơi sự sự chê bai, khinh khi chống cự bạo
ác của thế gian mà biết thẹn, nó có công dụng đối trị
tâm không biết thẹn, ngưng dứt nghiệp ác.
Hỗ
và thẹn tội lỗi, hai tướng thông nhau của hai pháp Tàm và
Qúy. Cho nên Thánh giáo giả nói là tự thể. Nếu chấp hỗ
và thẹn hai tướng khác nhau thì Tàm và Qúy chỉ có một thể,
hai pháp một thể thì quyết không tương ưng nhau, vì không
có hai thể thọ và hai thể tưởng mà có nghĩa cùng tương
ưng nhau được. Nếu đợi có tướng tự lực mình và tha
lực thế gian mới có hai Tàm và Quý riêng, thì Tàm và Quý
không phải thật có, bèn trái với Thánh giáo. Nếu chấp nhận
Tàm và Qúy có thật nhưng khởi riêng thì trái với luận nói
mười thứ biến khắp thiện tâm (Luận nói mười một Thiện
tâm sở, trong đó khinh an không biến khắp các thiện tâm,
còn mười thứ kia trong đó gồm Tàm và Quý, biến khắp các
thiện tâm. Nếu cho Tàm và Quý là một, thì còn lại chín
thứ biến khắp sao?). Sùng trọng và khinh khi chống cự, nếu
hai tướng ấy khác nhau thời sở duyên của nó phải khác,
có thể không cùng sanh. Nói hỗ và thẹn cùng sanh hay khác
sanh đều có lỗi giống nhau, tại sao lại quở trách thiên
lệch về lỗi khác sanh?
- Luận
chủ: - Ai nói hai pháp có cảnh sở duyên khác nhau?
- Người
khác nói: - Không vậy, thì như thế nào?
- Khi
Thiện tâm khởi lên, tùy duyên cảnh thiện hoặc ác đều
có sự sùng trọng người thiện việc thiện và khinh cự người
ác việc ác. Cho nên biết Tàm và Quý đều biến khắp thiện
tâm, sở duyên đồng nhau.
- Ðâu
phải tôi đã không nói đến nghĩa Tàm và Quý hai tướng thông
nhau?
- Chấp
Tàm và Quý tự tướng đã đồng như ông, lẽ gì có thể
ngăn sự thiết nạn trước đó cho có mười thứ biến khắp
thiện tâm.
Nhưng
Thánh giáo nói: "Nhìn vào tự, tha đối đãi". Việc nơi mình
gọi là tự, thế gian gọi là tha. Hoặc trong đó sùng thiện
đối với mình có ích gọi là tự, chống ác đối với mình
không tổn gọi là tha.
Vô
tham thảy là chỉ cho vô sân, vô si, ba thứ này gọi là gốc
thiện (thiện căn) vì nó có khả năng sanh thiện mạnh
hơn cả và vì gần nhất thì nó đối trị ba căn bất thiện.
Vô
tham là thế nào? Là tính không tham đắm vào ba cõi (Hữu)
và các hữu cụ của ba cõi, công dụng của nó là đối trị
tâm tham đắm, ưa làm điều thiện.
Vô
sân là thế nào? Là tánh không sân hận đối với khổ và
nghiệp nhân của khổ (khổ, khổ cụ), công dụng của nó
là đối trị sân hận, ưa làm thiện.
Khi
thiện tâm khởi lên hễ duyên theo cảnh gì đều không tham
đắm, không sân hận đối với hữu hữu cụ, khổ khổ cụ.
Hai thiện căn vô tham vô sân này chỉ quán sát nơi hữu và
khổ để lập, chứ không phải đợi khi duyên đến hữu và
khổ mới lập; cũng như Tàm và Quý trước đây, là do quán
sát theo cảnh thiện ác mà lập (tức quán sát sự sùng thiện
mà lập Tàm, quán nơi sự khinh ác mà lập Quý). Cho nên hai
thứ Tâm sở này đều biến khắp thiện tâm.
Vô
si là thế nào? – Là tánh minh giải đối với các sự lý.
Nó có công dụng đối trị ngu si, ưa làm lành.
- Có
ý kiến cho rằng "tuệ" là tánh của Vô si (dựa tuệ mà giả
lập ra Vô si). Tập Luận nói Vô si lấy sự quyết trạch của
báo, giáo, chứng, trí, làm thể, vì các tuệ do sanh đắc (báo)
do nghe (giáo), do suy nghĩ (chứng) và do tu (trí), thứ lớp như
thế đều có tánh quyết trạch (tuệ). Vô si tuy là tuệ nhưng
để hiển thị nó có công năng thù thắng hơn tuệ, (Vô si
là thuần thiện, chứ tuệ thông cả thiện và nhiễm) cũng
như ác kiến trong năm căn bản phiền não (ác kiến thuần
ác, chứ tuệ thì thông cả ác, thiện), cho nên nói riêng ra.
- Có
ý kiến cho rằng Vô si không phải chính là tuệ, mà nó có
tự tánh riêng, vì nó chính thức đối trị vô minh, cũng như
vô tham, vô sân, nhiếp về ba thiện căn. Vì luận Du già nói:
"Tâm đại bi nhiếp về vô sân, Vô si chứ không phải nhiếp
về tuệ căn (trong hai mươi hai căn)". Nếu Vô si lấy tuệ
làm tánh, thì tâm đại bi cũng như mười lực, bốn vô úy,
nên nhiếp về tuệ căn (trong hai mươi hai căn).
Lại
nếu Vô si không có tánh riêng thì như tâm bất hại,
(lấy Vô sân làm thể) không có thật vậy, bèn trái với Luận
nói: "Trong mười một thiện, ba thứ không phóng dật, xả,
bất hại chỉ có trong thế tục, các thứ còn lại (trong đó
có Vô si) đều là thật có".
Nhưng
Tập Luận nói Vô si lấy tuệ làm thể, là nêu tính nhân quả
của ba tuệ để hiển thị tánh minh giải của nó. Cũng như
lấy nhẫn và lạc để biểu thị tự thể của Tín. Lý phải
như vậy.
Vì
tham, sân, si là chính phiền não tương ưng sáu thức, nó khởi
ác mạnh hơn cả, nên lập tên nó là ba thứ bất thiện căn.
Dứt nó phải do sự đối trị chung và riêng, chung đối trị
chỉ là do thiện tuệ, riêng đối trị chính là do ba thiện
căn. Do đó nên phải có riêng Vô si.
Cần
tức là tinh tấn, có tánh Dõng Hãn trong việc tu thiện đoạn
ác, và có nghiệp dụng đối trị giải đãi, dầy đủ việc
thiện. Dõng là biểu thị thắng tấn, không phải như các
pháp nhiễm; Hãn là biểu thị tinh thuần, không phải như tịnh
vô ký (vô phú vô ký). Tức khi hiển thị tinh tấn nó chỉ
nhiếp vào tánh thiện.
Tướng
sai biệt của tinh tấn có năm, là : Bị giáp, gia hành, vô
hạ, vô thối, vô túc. Chính khi nói có thể có dõng, có cần,
kiên mãnh, và không bỏ cái ách thiện, theo thứ lớp nên biết.
Năm
tướng này sai khác nhau, tướng sơ phát tâm (bị giáp, có
thế) tự phần tu hành thắng tấn (gia hạnh, có dõng). Trong
tự phần tu hành có ba bậc thượng, trung, hạ (vô hạ, vô
thối, vô túc), đó là năm. Hoặc tướng sơ phát tâm và bốn
tướng tu sai khác là trường thời tu, vô gián tu, ân trọng
tu, vô dư tu là năm. Hoặc có năm đạo sai khác là tư lương,
gia hạnh, kiến đạo, tu đạo, vô học đạo.
Hoặc
Nhị thừa cứu kính vô học đạo có tâm ham thích đại Bồ
đề, hoặc chư Phật ở cứu kính đạo mà ưa làm lợi ích
hóa tha, hoặc hai địa vị gia hạnh là vô gián và giải thoát
có sự thắng tấn khác nhau, đều gọi là Cần.
An
là khinh an, có tánh kham nhậm, xa lìa thô trọng là khinh, điều
sướng thân tâm là an; và có công dụng đối trị hôn trầm,
khiến thân tâm được chuyển thành an vui. Nghĩa là nó dẹp
trừ pháp thường làm chướng ngại Thiền định, khiến cho
thân tâm y chỉ được an thích.
Bất
phóng dật, là không buông lung, gồm Tinh tấn và ba Thiện căn,
có tánh phòng ngừa điều ác phải đoạn, không cho khởi lên,
và siêng tu điều thiện phải tu, làm cho tăng trưởng; và
có công dụng làm thành tựu trọn vẹn mọi thiện sự của
thế, xuất thế gian. Nghĩa là chính nhờ bốn pháp là Tinh
tấn và ba thiện căn mà có thể phòng điều ác phải đoạn,
tu điều Thiện phải tu, nên gọi là không buông lung, chứ
không ngoài bốn pháp kia mà có tự thể riêng, vì không có
tướng khác; vì đối với việc phòng ác và tu thiện, nếu
lìa bốn công năng trên thì không có công dụng riêng. Tuy Tín,
Tàm, Quý v.v... cũng có khả năng phòng ác tu thiện nhưng
so với bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn thì thế lực
và công dụng nó vi tế yếu ớt, nó không phải ba căn và
tinh tấn sách lệ mọi sự, cho nên Tín, Tàm, Quý không phải
chỗ nương của bất phóng dật.
Nạn:
- Há không phải chính phòng ác tu thiện là tướng và dụng
của bất phóng dật?
Ðáp:
- Nếu vậy, phòng ác tu thiện khác gì với Tinh tấn và ba
Thiện căn?
Nạn:
- Bốn pháp kia phải chờ có bất phóng dật mới có phòng
ác tu thiện?
Ðáp:
- Nếu vậy, bất phóng dật cũng phải chờ cái khác nữa,
thì thành lỗi vô cùng.
Nạn:
- "Cần" chỉ là cùng khắp sách tấn thiện pháp, "thiện căn"
chỉ là khắp làm chỗ nương cho thiện pháp, tại sao nói nó
công dụng phòng ác tu thiện?
Ðáp:
- Ông nói công dụng phòng ác tu thiện tướng nó như thế
nào? Nếu khắp dựa vào tất cả thiện tâm gọi là phòng
ác tu thiện thì chính đó là ba Thiện căn vô tham, vô sân,
vô si. Nếu cùng khắp sách lệ thiện pháp thì có khác gì
tinh tấn. Nếu ngừng ác tấn thiện thì chính đó là chung
cả bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn. Nếu khiến tâm
không tán loạn, thì đó là đẳng trì (định). Nếu khiến
Tâm, Tâm sở đồng thủ cảnh, thì đó có khác gì xúc. Nếu
khiến Tâm không quên mất, thì đó chính là Niệm. Suy tầm
như vậy, thấy cái công dụng của bất phóng dật. Nếu lìa
bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn, thì hoàn toàn không
thể có được. Cho nên biết bất phóng dật không có tự
thể riêng.
Hành
xả là thế nào? Là Tinh tấn và ba Thiện căn, có tánh khiến
tâm được bình đẳng chánh trực vô công dụng mà an trú,
và có nghiệp dụng đối trị trạo cử, được trú yên tịnh.
Nghĩa là chính nhờ bốn pháp là Tinh tấn và ba Thiện căn
khiến tâm xa lìa các chướng trạo cử v.v... được trú yên
tịnh gọi là Xả. Nói bình đẳng, chánh trực, vô công dụng
mà an trú đó là biện biệt ba cấp sơ, trung, và hậu sai khác
của Xả.
Do
Bất phóng dật, trước trừ tạp nhiễm, Hành xả lại khiến
tâm tịch tịnh mà an trụ. Hành xả không có tự thể riêng,
cũng như bất phóng dật lìa bốn pháp kia thì không có tướng
và dụng riêng. Khả năng làm cho được tịch tịnh chính là
bốn pháp. Ðược làm cho tịch tịnh đó chính là tâm.
Bất
hại là thế nào? Là tánh không sân hận, không làm tổn não
các hữu tình; và có nghiệp dụng đối trị hại, có lòng
thương xót. Nghĩa là chính từ sự không giận, không làm tổn
não các hữu tình mà giả gọi là không hại. Vô sân ngược
lại với Sân là dứt mạng sống chúng sanh, Bất hại ngược
lại với Hại là hay làm tổn não chúng sanh. Vô sân thì cho
vui, Bất hại thì cứu khổ. Ðó là hai thô tướng sai khác
của Bất hại. Ðúng thật, Vô sân thật có tự thể, còn
Bất hại là nương một phần của Vô sân mà giả lập. Vì
để hiển thị hai tướng Từ và Bi khác nhau, trong việc lợi
lạc hữu tình thì hai thứ Vô sân và Bất hại, Từ và Bi
này hơn cả.
- Có
ý kiến cho rằng không Hại không phải chính là không sân,
mà nó có tự thể riêng, đó là tánh hiền thiện. Tướng
đó thế nào? Ðó là không làm tổn não, không sân cũng thế,
không có tánh riêng. Nghĩa là không làm tổn não loài hữu
tình, từ biến hiền thiện là không sân vậy.
- Bài
Tụng nói chữ "cập, (và) để hiển rõ ngoài mười một tâm
sở Thiện vừa nói, còn có những Tâm sở khác. Ðó là Thiện
tâm sở "Hân" và "Chán" v.v... Những Tâm sở này tùy nghĩa
có khác nhau nên nói ra nhiều tên, nhưng thể nó vẫn là một,
cho nên không lập riêng. "Hân là hân thích, cùng đi với "Dục",
là một phần của không giận, vì không giận ghét đối với
cảnh vui thích. Không phẫn, hận, não, tật v.v... cũng thế.
Tùy theo đó, thứ này đảo ngược lại thành thứ kia. Như
đảo ngược lại với bất phẫn và phẫn (giận), là một
phần của sân, "Chán" cùng đi với Tuệ, là một phần của
vô tham, vì không nhiễm trước đối với cảnh đáng chán.
Không xan lẫn, không kiêu mạn v.v... nên biết cũng giống như
thế. Tùy theo đó mà đảo ngược lại thành xan lẫn, kiêu
mạn, đều là một phần của Tham. Không che dấu, không gian
trá, không dua nịnh là một phần của không tham, không si,
tùy theo đó mà đảo ngược lại thành che dấu, gian trá, dua
nịnh, đều là một phần của Tham, Si.
- Có
ý kiến cho rằng không che dấu chỉ là một phần không si.
Không có chỗ nào nói che dấu là một phần của Tham.
- Có
ý kiến cho rằng không kiêu mạn là một phần của Tín. Nghĩa
là tin ai thì không kiêu mạn với họ.
- Có
ý kiến cho rằng không kiêu mạn là một phần của Hành xả,
vì tâm bình đẳng thì không kiêu mạn.
- Có
ý kiến cho rằng không kiêu mạn, một phần nhiếp vào vào
Tàm (hổ) vì sùng trọng ai đó thì không kiêu mạn với họ.
- Có
ý kiến cho rằng không nghi chính là nhiếp về Tín, vì tin
điều gì thì không còn do dự nghi ngờ.
- Có
ý kiến cho rằng không nghi chính là Thắng giải, vì khi đã
quyết định thì không do dự nghi ngờ.
- Có
ý kiến cho rằng không nghi chính là Chánh tuệ, vì khi có chánh
kiến thì không do dự. Thể không tán loạn tức nhiếp tuệ.
"Bất vong niệm", chính là Chánh niệm. Hối, Miên, Tầm, Tứ
thông cả và bất nhiễm như xúc, dục v.v... Nên không có nghĩa
đảo ngược lại.
- Vì
sao những tâm nhiễm đảo ngược lại thành tâm thiện mà
có cái lập riêng, có cái không lập riêng?
- Tâm
nào có tướng và dụng khác nhau thì lập riêng; còn các tâm
thiện thì không có tâm nào đảo ngược lại nên không lập
riêng, không nên gạn trách.
Lại
vì các nhiễm pháp bất thiện là tham, sân, si, vô tàm, vô
quý, bất tín, giải đãi, hôn trầm, trạo cử, phóng dật
biến khắp cả sáu thức mạnh hơn, cho nên đảo ngược lại
lập thành mười pháp thiện là vô tham, vô sân, vô si, tàm,
quý, tín, cần, khinh an, hành xả.
Mạn,
phẫn v.v... chỉ tương ưng với ý thức, nên đảo ngược
lập riêng. "Hại" tuy cũng thế, nhưng vì nó thường hiện
khởi làm tổn não người khác và làm chướng ngại tâm bi
là thắng nhân của vô thượng thừa, vì để nói rõ tội
lỗi lớn lao đó của hại, nên đảo ngược với hại mà
lập riêng ra bất hại.
Thất
niệm, tán loạn, bất chánh tri, đảo ngược lại thì thành
niệm, định, tuệ trong Biệt cảnh thiện, nên không nói riêng.
Hỏi:
- Tâm sở nhiễm và Tâm sở tịnh đảo ngược nhau, mà sao
số Tâm sở tịnh lại ít hơn số Tâm sở nhiễm?
Ðáp:
- Tâm sở tịnh thù thắng,Tâm sở nhiễm yếu kém, đó là
tịnh ít định nhiễm nhiều.
Lại
vì thiện thì ngộ giải thông lý, nên tuy Tâm sở thiện nhiều
mà đồng thể, còn Tâm sở nhiễm vì mê tình cuộc theo sự
tướng nhiều mới chia ra nhiều thứ. Cho nên không nên trách
về số lượng nhiều ít của Tâm sở nhiễm và Tâm sở tịnh.
- Trong
mười một thiện tâm ấy, ba thứ là không phóng dật, hành
xả, không hại là giả có, như trước đã nói, còn tâm thứ
kia thật có tướng và dụng khác nhau.
- Có
ý kiến cho rằng trong mười một thiện, có bốn thứ biến
khắp thiện tâm, đó là Tinh tấn và ba Thiện căn, còn bảy
thứ kia thì bất định, vì khi suy tầm sự lý chưa quyết
định thì không sanh tín tâm. Tàm và Qúy thì đồng loại nhưng
chỗ nương khác nhau, tùy khi khởi lên tâm này thì tâm kia
không khởi. Khinh an thì đợi khi có đạo thế gian đoạn phiền
não khởi lên thì mới có được. Tâm Bất phóng dật và Hành
xả, thì khi có đạo vô lậu mới khởi lên được. Khi có
tâm bi mẫn loài hữu tình mới có tâm Bất hại.
- Luận
nói 11 thiện được khởi lên trong sáu địa vị. Ðó là khi
ở địa vị quyết định mới có Tín tương ưng. Khi ngưng
dứt nhiễm mới có tâm Tàm Qúy khởi lên nhìn lại mình và
người. Ở địa vị thiện có tâm Tinh tấn và ba Thiện căn.
Khi có thế gian đạo (bốn Thiền tám Ðịnh) thì có tâm Kinh
an khởi. Khi có đạo xuất thế (vô lậu đạo quán vô ngã)
thì có tâm Hành xả và Bất phóng dật khởi. Khi nhiếp hoá
chúng sanh thì có tâm Bất hại khởi lên.
- Có
ý kiến cho rằng kia nói thế chưa đúng lý. Khi suy tầm sự
lý, tâm chưa quyết định, tín nếu không sanh thì không phải
là thiện, như khi nhiễm tâm là vì không có tịnh tín. Tàm
và Quý khác loại, nương tha thì khác mà cảnh duyên thì đồng,
nó điều biến khắp thiện tâm, như trước đã nói.
Nếu
có xuất thế đạo mà tâm Khinh an không sanh thì Khinh an giác
chi ấy chẳng phải vô lậu. Nếu có thế gian đạo mà không
có Hành xả và Bất phóng dật thì không phải tịch tịnh
phòng ác tu thiện, lại không thể dẹp trạo cử, phóng dật.
Thiện tâm hữu lậu đã có đủ bốn pháp là Tinh tấn và
ba Thiện căn thì nó như xuất thế đạo,nên có hai tâm là
Hành xả và Bất phóng dật. Lại khi thiện tâm khởi lên đều
không tổn hại vật, chính do pháp trái với sự tổn hại
đó mà có tên Bất hại.
Nhưng
Luận nói: "Trong sáu trường hợp có mười một thiện tâm
khởi lên là nương nơi sự tăng mạnh của mỗi thứ mà nói
tên mỗi thứ đó"; cho nên ý kiến đầu tiên kia nói, nhất
định không đúng lý.
Nên
nói rằng trong mười một Thiện, Tín, Tàm, Quý v.v... mười
thứ biến khắp các thiện tâm, trừ "Khinh an" thì không biến
khắp. Phải khi ở địa vị Thiền định mới có Khinh an.
Vì sự điều sướng thân tâm ở địa vị khác (không phải
Thiền định) không có được.
Trong
Quyết trạch phần của luận Du già nói: "Mười Thiện tâm
sở dù ở địa vị Thiền định hay không Thiền định nó
đều biến khắp thiện tâm, chỉ trong định địa thì "Khinh
an" tăng hơn".
Có
ý kiến cho rằng ở địa vị định gia hạnh cũng được
gọi là định địa, vì ở đó cũng có sự điều sướng
thân tâm vi tế. Do đó ở cõi Dục cũng có Khinh an. Không như
vậy thì trái với Bản địa phần trong luận Du già nói: "Mười
một thiện như Tín, Tàm, Quý v.v... thông hết thảy địa.
- Có
ý kiến cho rằng Khinh an chỉ khi có định mới có, vi do định
tư dưỡng, mới có sự điều sướng. Luận nói: "Các Tâm,
Tâm sở ở cõi Dục vì thiếu Khinh an nên gọi là bất định
địa". Nói hết thảy địa đều có mười một thiện, vì
nó thông cả ba địa là địa có tầm có tứ, địa không
tầm chỉ có tứ, địa không tầm không tứ (căn bổn Sơ Thiền
gọi là hữu tầm hữu tứ Tam ma địa; Nhị Thiền, gia hạnh
gọi là vô tầm duy tứ Tam ma địa).
- Mười
một thiện này trước đã nói đủ, đệ thất, đệ bát thức
tùy theo địa vị hoặc có hoặc không (khi địa vị mê thì
không có, khi ở địa vị ngộ thì hai thức đều có đủ
mười một thiện); còn đệ lục thức ở các địa vị thì
đều có đủ. Nêú không phải định vị là chỉ thiếu Khinh
an.
Có
ý kiến cho năm thức chỉ có mười thứ, vì tự tánh năm
thức tán động nên không có Khinh an.
Có
ý kiến cho rằng năm thức cũng có Khinh an. Vì thiện do định
dẫn phát cũng có sự điều sướng Khinh an. Vì thiện cùng
đi với Thành sở tác trí, chắc chắn có Khinh an.
- Mười
một Thiện tâm sở này tương ưng với thọ nào? Mười Thiện
tâm sở tương ưng với đủ năm thọ, chỉ Khinh an tâm sở,
không tương ưng ưu thọ, khổ thọ, vì có ưu khổ thì không
có điều sướng Khinh an.
- Mười
một Thiện tâm sở này đều cùng tương ưng với năm Biệt
cảnh. Vì Tín, Tàm, Quý v.v... với Dục, Thắng giải v.v...
không trái nhau vậy.
- Mười
một thứ Tâm sở này chỉ là thiện.
- Trừ
Khinh an không có ở cõi Dục, còn mười thứ kia thông ở cả
ba cõi.
- Mười
một thứ tâm sở Thiện, không chướng kiến đạo, nên không
phải loại bị kiến đạo diệt trừ. Luận Du già nói: "Sáu
căn là Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Tuệ và Vị tri đương tri
căn (nếu thuộc hữu lậu, chỉ do tu mới đoạn, chứ không
phải do kiến đoạn được".
Còn
phân biệt mười một thiện này theo các phương diện (môn)
khác nữa, như lý nên biết.
- Như
vậy đã nói tâm sở thiện, còn tâm sở Phiền não tương
ưng với sáu thức, tướng nó như thế nào?
Tụng
nói:
Phiền
não là tham, sân,
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Luận
rằng: "Sáu thứ tham, sân v.v... tánh nó thuộc về căn bản
phiền não nên được gọi là phiền não".
Tham
là thế nào? Là tánh nhiễm đắm đối với hữu và hữu cụ.
Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại vô tham, phát sanh
khổ não. Nghĩa là vì do năng lực của tham ái mà có thủ
uẩn sanh thành.
Sân
là thế nào? là tánh ghét giận đối với khổ và khổ cụ.
Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại vô sân và làm chỗ nương
cho tánh bất an ổn và ác hành. Nghĩa là vì sân nên chắc
chắn khiến thân tâm nóng bức, khởi lên các ác nghiệp bất
thiện.
Si
là thế nào? Là tánh mê muội đối với các sự lý, nó có
nghiệp dụng chướng ngại vô si, và làm chỗ nương cho tất
cả tạp nhiễm. Nghĩa là do vô minh (si) khởi lên các căn bản
phiền não nghi, tà kiến, tham, v.v... và các tùy phiền não
mà tạo tác nghiệp ác có thể chiêu cảm pháp tạp nhiễm
ở đời sau.
Mạn
là thế nào? Là tánh ỷ mình mà cao ngạo đối với người,
và có nghiệp dụng là chướng ngại tánh không kiêu mạn,
và phát sanh khổ não. Nghĩa là nếu có mạn thì tâm không
khiêm hạ đối với Tam bảo chơn tịnh đức và người có
đức; do đó mà bị sanh tử luân chuyển vô cùng, chịu các
khổ não. Mạn này sai biệt có bảy (mạn, quá mạn, mạn quá
mạn, ngã mạn, tăng thượng mạn, ty liệt mạn, tà mạn),
hoặc chín thứ là đối nơi ba bậc thượng, trung, hạ về
ngã, đức và xứ sở (ta hơn, ta bằng, ta thua) mà thành
ra chín mạn.
Tấc
cả mạn đều thông cả kiến sở đọan. Ở nơi Thánh vị,
câu sanh ngã mạn đã không còn hiện hành, thời các loại
mạn từ nó khởi lên cũng không có lỗi.
Nghi
là thế nào? là tánh do dự chẳng quyết đối với các đế
lý, và nó có nghiệp dụng làm chướng ngại tâm không nghi,
chướng ngại thiện pháp. Nghĩa là do dự thì điều thiện
không sanh.
Có
ý kiến cho rằng nghi này lấy thiện làm thể. Do dự trong
sự lựa chọn nên nói là nghi. Vì chữ "Tỳ" (trợ giúp) mạt
để (tuệ) là nghĩa của nghi. Vì nghĩa chữ "mạt để" và
chữ Bát nhã là một (Tỳ mạt để hay Tỳ Bát nhã là giúp
cho Bát nhã, giúp cho giác ngộ. Có nghi mới có ngộ, không
nghi ắt không ngộ, cho nên giúp cho ngộ đó là nghi).
Có
ý kiến cho rằng nghi này có tự thể riêng, nó làm cho tuệ
không quả quyết, chứ nó không phải tuệ.
Luận
Du già nói: "Trong sáu phiền não, chỉ ác kiến là thế tục
có, vì nó là một phần của tuệ, còn các thứ phiền não
kia đều thật có tánh riêng. Do chữ "Tỳ" trợ giúp chữ Mạt
để " thành "Tỳ mạt để" mà chấp tuệ là nghi, thế thì
có thể do chữ "Tỳ" trợ giúp "Nhã nam" (trí) thành "Tỳ nhã
nam", mà trí biến thành thức được sao? Chẳng phải do trợ
giúp mà nghĩa của nó biến chuyển khác đi được, thế nên
nghi này không phải lấy tuệ làm thể.
Ác
kiến là thế nào? Là tánh của tuệ ô nhiễm suy đạt điên
đảo đối với các đế lý, nó có nghiệp dụng làm chướng
ngại thiện kiến, chiêu cảm sự khổ. Nghĩa là người ác
kiến phải chịu nhiều khổ não. Hành tướng của ác kiến
sai biệt có năm (tức năm lợi sử).
1.
Tát ca gia kiến (thân kiến) - Tức là đối với năm thủ uẩn
chấp cho là ngã và ngã sở; nghiệp của nó là làm chỗ nương
cho hết thảy kiến thủ (thân kiến thông cả phân biệt và
câu sanh). Kiến này sai biệt có 20 câu, 65 câu, chúng đều
là phân biệt khởi chứ không phải câu sanh sanh (năm thứ
ác kiến này, hãy xem rõ kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh,
hoặc kinh Phạm Ðộng trong Trường A hàm).
2.
Biên chấp kiến - Tức là chấp Tát ca gia kiến kia là đoạn
là thường, nó chướng ngại sự tu hành hạnh xuất ly theo
trung đạo phi đoạn phi thường. Sự sai biệt của kiến này
là trong các kiến thú. Như đối với đời quá khứ chấp
bốn Biến thường luận. Nhất phần thường luận, đối với
đời vị lai chấp có mười sáu Hữu tưởng, tám Vô tưởng
và tám Câu phi. Và bảy Ðoạn diệt luận v.v... đều thuộc
về phân biệt khởi.
3.
Tà kiến - Tức là phỉ báng nhân quả, phỉ báng tác dụng,
phỉ báng sự thật. Và gồm những tà chấp khác ngoài bốn
ác kiến kia là thân kiến, Biên kiến, kiến thủ, giới cấm
thủ. Cũng như tăng thượng duyên là gồm tất cả những duyên
còn lại ngoài ba duyên là Nhân duyên, Ðẳng vô gián duyên,
Sở duyên duyên; vì nó có danh và nghĩa rất bao quát. Sự sai
biệt của kiến này là ở trong các kiến thủ, chấp hai Vô
nhân luận về quá khứ, chấp bốn Hữu biên luận, Bất tử
kiểu loạn luận, và chấp vị lai năm hiện Niết bàn; hoặc
chấp trời Tự Tại, Thế chủ, Thích, Phạm và các vật loại
khác là thường hằng biến đổi; hoặc chấp trời Tự Tại
là nguyên nhân của mọi vật; hoặc chấp bướng các lối
giải thoát tà vạy; hoặc vọng chấp phi đạo là đạo. Những
lối chấp như thế đều nhiếp vào tà kiến này.
4.
Kiến thủ - Tức là chấp các tà kiến trên và các thủ uẩn
mà các tà kiến dựa vào để chấp, cho là tối thắng, có
thể làm chúng sanh thanh tịnh; nghiệp dụng của nó là làm
chỗ nương cho mọi sự đấu tranh.
5.
Giới cấm thủ là thuận theo giới cấm của tà kiến đó
và các uẩn mà tà kiến dựa vào để chấp, cho là tối thắng,
có thể làm cho chúng sanh thanh tịnh; nghiệp dụng của nó
là làm chỗ nương cho sự khổ hạnh vô ích.
Nhưng
có chỗ nói chấp nó là tối thắng (không phải quả chấp
là quả) thì gọi là kiến thủ, chấp nó có thể làm cho được
thanh tịnh (không phải nhân tốt mà chấp là nhân tốt), thì
gọi là giới thủ. Ðây là lối nói ưóc lược phản ảnh.
Hoặ là nói theo phương diện tùy chuyển (tùy chuyển nghĩa
là nói tối thắng tức trong đã có thanh tịnh, nói thanh tịnh
là trong đã có tối thắng). Không như vậy thì tại sao phi
tịch diệt chấp tịch diệt, phi đạo chấp là đạo thì gọi
là tà kiến, mà chẳng phải hai thủ là kiến thủ và giới
thủ?
- Trong
mười thứ phiền não tổng và biệt như trên, có sáu thứ
là tham, sân, si, mạn, thân kiến, biên kiến thông cả câu
sanh và phân biệt khởi. Hoặc nhậm vận hoặc tư sát đều
khởi lên ác kiến được cả. Còn nghi và ba kiến là tà kiến,
kiến thủ, giới cấm thủ thì chỉ là phân biệt khởi; vì
cần phải do bạn ác và năng lực tà giáo, tự thẩm xét,
tư sát mới được sanh khởi.
- Có
thuyết cho rằng trong biên chấp kiến, thứ nào thông câu sanh
thì nó thuộc loại đoạn kiến, còn tướng của thường kiến
thô phù, phải có năng lực của bạn ác và tà giáo mới dẫn
sanh ra được. Như luận Du già nói: "Biên chấp kiến nào là
thứ câu sanh? Ðó là thứ biên chấp kiến thuôc loại đoạn
kiến. Người học hiện quán sanh tâm sợ như vầy: "Cái ta
của ta nay ở tại chỗ nào? "Cho nên như loài cầm thú nếu
gặp nghịch duyên, đều sợ cái ta đoạn mất, mà sanh tâm
sợ hãi".
- Có
ý kiến cho rằng Luận kia nói đó là y theo thô tướng mà
nói. Lý thật, câu sanh cũng thông cả thường kiến. Nghĩa
là như cầm thú vì chấp cái ta thường còn nên hăng hái tạo
tác chứa nhóm các đồ dùng để lâu dài. Các luận như Hiển
Dương v.v... đều nói: "Ðối với năm thủ uẩn chấp đoạn
chấp thường, hoặc là câu sanh, hoặc là phân biệt".
- Mười
thứ phiền não ấy thứ nào tương ưng với thứ nào?
- Tham
nhất định không cùng sanh với sân và nghi, vì hai cảnh yêu
và ghét không đồng nhau. Ðối với cảnh còn nghi ngờ không
quyết chấp thì không có tham đắm. Tham có thể tương ưng
với mạn và kiến, nhưng vì cảnh tham ái và kiêu mạn chẳng
phải một, nên không cùng sanh một lần. Còn cảnh ô nhiễm
của ái và cảnh ỷ thị của mạn có thể đồng nhau, nên
được tương ưng. Vì đối với cảnh của năm ác kiến đều
có thể tham ái, nên tham và năm kiến tương ưng nhau, không
lỗi gì.
- Sân
với mạn, nghi, hoặc có thể cùng khởi một lần, vì cảnh
sân và cảnh ỷ thị chẳng phải một, nên nói sân với mạn
không tương ưng nhau. Cảnh miệt thị và cảnh ghen ghét có
thể là một cho nên nó có thể cùng sanh. Vì lúc đầu còn
do dự (nghi) thì chưa ghét, nên nói sân và nghi không cùng sanh.
Suy nghĩ lâu mà vẫn không quyết được, mới phát giận, nên
sân và nghi có thể được tương ưng. Nghi cảnh thuận hay
nghịch tùy theo đó cũng vậy. Sân và hai thủ là giới cấm
thủ và kiến thủ chắc không tương ưng, vì khi đã chấp
cho đó là đạo thù thắng, thì không ghét nó. Sân với ba
kiến là thân, biên, tà kiến hoặc được tương ưng mà không
nhất định. Vì đối với thân năm uẩn đáng ưa mới khởi
lên chấp cho thân là thường, mà không ghét nó, đó là sân
không tương ưng. Nếu đối với thân năm uẩn khổ đau đáng
ghét mà khởi lên chấp thân thường thì sanh tâm ghét giận
nó, nên nói sân được cùng khởi. Ðối với đoạn kiến,
thì ngược lại với đây mà xét sân có tương ưng hay không.
Tà kiến thì bài bác luôn cả việc xấu, việc tốt, theo thứ
tự đó mà xét sân có hay không có tương ưng với tà kiến.
Mạn
tâm sở là đối với cảnh đã quyết, còn Nghi tâm sở thì
không thể. Cho nên mạn và nghi không tương ưng nhau. Mạn và
năm kiến thì câu khởi, vì hành tướng hai thứ không chống
trái nhau. Nhưng mạn thì không câu sanh với "đoạn kiến",
vì khi chấp ngã bị đoạn thì không thể ỷ thị kiêu mạn
với ai được. Mạn có một phần không câu sanh với thân
kiến, và tà kiến cũng vậy.
Nghi
là không thẩm quyết, nên trái với năm kiến, cho nên nghi
và năm kiến không thể câu sanh. Năm kiến cũng không tương
ưng câu khởi với nghi, vì không thể trong một tâm có nhiều
tuệ (kiến).
Si
và chín phiền não kia đều được tương ưng, vì các phiền
não sanh ra được, phải do si mới có.
- Mười
phiền não này tương ưng với thức nào?
- Tạng
thức hoàn toàn không có. Mạt na thức có bốn, Ý thức có
đủ mười. Năm thức trước chỉ có ba đó là tham, sân, si.
Vì năm thức trước không có tánh phân biệt nên không có
mạn v.v... vì do có phân biệt so sánh mới khởi kiêu mạn
v.v...
- Mười
phiền não nàu tương ưng với thọ nào?
- Câu
sanh tham, sân, si và phân biệt tham, sân, si, tất cả đều
tương ưng với năm thọ; vì khi tham mà gặp cảnh duyên trái
nghịch thì cả ưu và khổ thọ cùng sanh, gặp cảnh duyên
thuận thì cả hỷ thọ và lạc thọ cùng sanh.
Có
ý kiến cho rằng mạn câu sanh và phân biệt khởi tương ưng
với bốn thọ, trừ khổ thọ. Vì chúng sanh ỷ thị thân ngũ
uẩn xấu khổ của mình, mà sanh ưu thọ, nên mạn tương ưng
với ưu thọ.
Có
ý kiến cho rằng nếu là câu sanh thì mạn cũng tương ưng
với khổ thọ; vì nơi ý thức có khổ thọ, như trước đã
nói. Nếu là phân biệt mạn v.v... thì nó không có ở những
nơi thuần chịu khổ, vì ở nơi ấy không có tà sư tà giáo.
Nhưng chúng sanh ở chỗ chỗ thuần khổ đó không tạo nghiệp
dẫn đến đường ác, vì phải cần có phiền não phân biệt
từ ý thức khởi mới tạo nghiệp dẫn đến chỗ ác đó.
Nghi
và ba kiến là tà kiến, kiến thủ kiến và giói cấm thủ
chỉ tương ưng với bốn thọ, trừ khổ thọ. Ở cõi Dục,
nghi không tương ưng với khổ nhưng tương ưng với hỷ và
ưu. Kiến thủ và giới thủ nếu duyên theo cảnh của ưu tương
ưng với kiến thì bấy giờ nó tương ưng với ưu thọ.
Có
ý kiến cho rằng câu sanh thân kiến, biên kiến chỉ tương
ưng với hỷ, lạc, xả thọ. Hai kiến này không tương ưng
năm thức nên không có khổ thọ, vì năm thức là vô ký, nên
không có ưu thọ. Còn phân biệt thân kiến, biên kiến chỉ
tương ưng với bốn thọ, trừ khổ thọ. Chấp thân ngũ uẩn
cùng sanh với khổ là ngã, ngã sở, mà thường, thì thân,
biên kiến đó có ưu thọ. Nếu chấp thân ngũ uẩn cùng sanh
với lạc là ngã, ngã sở mà đoạn, thì thân biên kiến đó
cũng tương ưng với ưu thọ.
Có
ý kiến cho rằng thân kiến, biên kiến nếu là câu sanh thì
tương ưng với khổ thọ; vì ở chỗ thuần khổ chỉ duyên
với thân ngũ uẩn cực khổ, nên tương ưng với khổ thọ.
Luận
nói: "Tất cả phiền não não câu sanh đều cùng hiện hành
với ba thọ". Nói rộng như trước. Còn các nghĩa khác như
trước đã nói.
- Dưới
đây theo nghĩa thật nói, nói theo tướng thô, thì tham, mạn
và bốn kiến đều tương ưng với lạc, hỷ, xả thọ. Sân
chỉ tương ưng với khổ, ưu, xả thọ. Nghi thì tương ưng
đủ năm thọ. Nghi và tà kiến tương ưng bốn thọ, trừ khổ
thọ. Tham, si tương ưng với lạc thông ở bốn địa dưới
là Ngũ thú tạp cư địa đến Tam Thiền địa; còn bảy thứ
là năm ác kiến, mạn và nghi kia tương ưng với lạc, thì
trừ Dục giới địa, nó thông ba địa là Sơ Thiền, Nhị
Thiền, Tam Thiền. Nghi và độc hành si, nếu ở cõi Dục thì
chỉ tương ưng với ưu và xả thọ. Các thọ khác câu khởi
như thế nào, cứ theo lý suy biết.
- Mười
phiền não này mấy thứ tương ưng với Biệt cảnh tâm sở?
- Tham,
sân, si, mạn cùng khởi với năm Biệt cảnh. Vì chuyên chú
một cảnh là có Ðịnh tâm sở. Nghi và năm Kiến mỗi mỗi
tương ưng với bốn Biệt cảnh, vì nghi không tương ưng với
thắng giải, vì nghi thì không quyết định. Kiến không phải
tương ưng với tuệ, vì nó không khác tuệ.
- Mười
thứ phiền não này nhiếp thuộc về tánh gì?
- Sân
chỉ có tánh bất thiện, vì nó làm tổn hại mình, người.
Chín thứ còn lại tương ưng cả thiện và bất thiện. Nếu
ở hai cõi trên là Sắc, Vô sắc giới thì nhiếp về vô ký,
vì ở đó nó bị đè bẹp. Nếu hệ thuộc cõi Dục mà sân
phân biệt khởi thì chỉ nhiếp về bất thiện, vì nó phát
sanh ác hành. Nếu sân câu sanh ác hành thì cũng nhiếp về
bất thiện, vì nó làm tổn hại mình, người. Các phiền não
còn lại nhiếp về vô ký, vì vi tế không làm chướng ngại
thiện mà không có làm tổn hại mình, người quá lắm. Nên
biết câu sanh thân kiến và biên kiến chỉ nhiếp về tánh
vô ký. Vì không phát sanh nghiệp ác, tuy thường hiện khởi,
song không làm chướng ngại thiện pháp.
- Mười
thứ phiền não này hệ thuộc vào cõi nào?
- Sân
chỉ hệ thuộc cõi Dục, chín thứ còn lại thông cả ba cõi.
Khi sanh ở địa dưới, chưa lìa sự ô nhiễm của địa dưới,
thì phiền não địa trên không hiện tiền. Phải được căn
bản định ở địa trên kia, khi đó phiền não ở địa trên
kia mới hiện tiền.
Các
hữu lậu đạo (chỉ bốn Thiền tám Ðịnh, không có quán
hai không, nên gọi là hữu lậu đạo) tuy không dẹp được
phiền não phân biệt và phiền não câu sanh vi tế trong thức
thứ bảy, nhưng có thể dẹp trừ được phiền não câu sanh
thô phù ở thức thứ sáu, để dần dần chứng được căn
bản định của địa trên. Vì phiền não câu sanh đó chỉ
là mê sự, hướng ra bên ngoài sanh khởi, tán loạn thô động,
chính thức làm chướng ngại Thiền định, nên khi được
định địa trên rồi, vậy sau các phiền não câu sanh và phân
biệt ở địa trên này đều hiện tiền. Nếu người khi sanh
địa trên, các phiền não phân biệt câu sanh địa dưới đều
được hiện khởi. Như người sanh ở Vô tưởng thiên trong
đệ Tứ Thiền, trung hữu của họ do phỉ báng đạo giải
thoát mà phải sanh vào địa ngục.
Lại
khi thân đang ở địa trên mà sắp sanh xuống địa dưới,
khởi lên câu sanh ái để nhuận sanh xuống địa dưới. Như
có chỗ nói người sanh địa trên không khởi phiền não địa
dưới, đó là dựa theo đa phần mà nói, hoặc nói theo môn
tùy chuyển.
Phiền
não ở địa dưới cũng duyên địa trên mà khởi. Luận Du
già nói: "Tham" hệ thuộc cõi Dục mà vẫn câu sanh địa trên
là vì thích định địa trên, cũng như đã bao sân nhuế, cũng
ghen ghét, tật đố khi duyên Diệt đế và Ðạo đế mà khởi,
thì cũng nên nói ghen ghét và tật đố duyên Ly dục địa
mà khởi. Vì tổng duyên các hành sắc tâm ba cõi mà chấp
ngã ngã sở (thân kiến) là đoạn hoặc là thường (biên kiến)
mà khởi mạn, thì đó là đều được duyên cõi trên mà khởi
lên. Còn lại năm kiến duyên cõi trên mà khởi, lẽ đó chắc
chắn.
Nhưng
có chỗ nói tham, sân, mạn v.v... không duyên cõi trên, đó
là nói theo tướng thô; hoặc dựa theo duyên khác mà nói. Không
thấy người thế gian nào chấp các pháp của tha địa là
ngã v.v... và biên kiến thì phải dựa thân kiến mới có được.
Phiền não ở địa trên cũng duyên pháp ở địa dưới là
nói kẻ sanh lên cõi trên, đối với hữu tình hạ giới, ỷ
thị đức mình cao hơn mà sanh tâm lấn lướt.
Duyên
chung các hành mà chấp làm ngã, ngã sở là đoạn hoặc thường
mà ưa thích nó thì được duyên hạ địa.
Nghi
và ba kiến sau, như lý nên xét biết. Nhưng mà nói phiền não
cõi trên không duyên cõi dưới, đó là dựa theo đa phần mà
nói, hoặc theo duyên khác mà nói.
- Mười
phiền não này nhiếp thuộc học vị nào?
- Chỉ
nhiếp thuộc học vị phi học, phi vô học, chứ không nhiếp
thuộc vào học và vô học vị, vì học và vô học vị chỉ
là thiện mà nó là ô nhiễm.
- Mười
phiền não này do kiến sở đọan, tu sở đoạn hay phi sở
đoạn?
- Nó
không phải phi sở đoạn. Vì phi sở đoạn là thứ không ô
nhiễm. Mười phiền não này nếu là phân biệt khởi thì chỉ
do kiến đạo là đoạn, vì thô dễ đoạn. Nếu là câu sanh
thì chỉ do tu đạo đoạn được, vì vi tế nên khó đoạn.
Mười thứ phiền não phân biệt khởi thuộc kiến đạo đoạn,
thật sự là kíp đoạn một lần, vì chơn kiến đạo một
lần tổng duyên đủ Tứ đế. (Do mê lý Tứ đế mà có mười
thứ phiền não phân biệt khởi lên, nên khi thấy rõ lý Tứ
đế thì mười phiền não phân biệt khởi này kíp được
dứt sạch).
Nhưng
mê tướng Tứ đế có tổng có biệt. Tổng nghĩa là mười
thứ phiền não đều do mê lý Tứ đế mà có. Khổ, Tập đế
là nhân, là chỗ nương của mười phiền não; Diệt, Ðạo
đế là chỗ mười phiền não sợ hãi. Biệt nghĩa là riêng
mê tướng Tứ đế mà khởi các phiền não, như trong đó hai
thứ thân kiến và biên kiến chỉ do mê Khổ đế mà khởi,
còn tám thứ kia do mê chung cả Bốn đế mà khởi. Vì thân
và biên kiến chỉ đối với thân khổ quả mà khởi. Vì riêng
tướng không và tướng vô ngã là thuộc Khổ đế (Khổ đế
có bốn tướng là vô thường, khổ, không, vô ngã). Nghĩa
là nghi và ba kiến trực tiếp mê lý khổ, còn hai thứ là
chấp vàp ba kiến đó, và chấp giới cấm thủ cùng thân ngũ
uẩn cho là thù thắng có thể đạt thanh tịnh. Ðối với
tự kiến và tha kiến và quyến thuộc của nó mà thứ tự
tùy lúc khởi lên tham, sân, mạn (tức đối mình khởi tham,
đối người khởi sân, đối quyến thuộc khởi mạn), tương
ưng với vô minh (tức là thứ vô minh đi chung với tham, sân
...) cùng với chín thứ kia đồng mê lý Khổ đế mà khởi.
"Bất cộng vô minh" (hay Ðộc hành vô minh, nó không đi chung
với tham, sân v.v... nên chỉ cho kiến đạo đoạn) thì trực
tiếp mê lý Khổ đế mà khởi. Nghi và tà kiến thì trực
tiếp mê lý Tập đế ... mà khởi. Hai thủ và tham v.v... chuẩn
theo Khổ đế nên biết. Nhưng sân cũng có thể trực tiếp
mê Diệt và Ðạo đế, vì sợ hãi Diệt và Ðạo đế mà
sinh ra ghen ghét, sân giận.
Trực
tiếp mê lý Tứ đế và gián tiếp mê lý Tứ đế về thô
tướng là như thế. Nếu nói tướng vi tế của nó là tham,
sân, mạn, ba kiến và nghi câu sanh, thì tùy khi thích ứng mà
nó cũng mê lý Tứ đế như trên. Còn hai kiến câu sanh và
ái, mạn, vô minh tương ưng với nó, tuy là do mê Khổ đế
mà có, nhưng vi tế khó đoạn, phải tu đạo mới đoạn được.
Sân và độc đầu ái, mạn cùng vô minh tương ưng với nó
là do mê riêng hữu tình hoặc cảnh sự tướng mà có, không
trái với trí quán đế lý (vì mấy thứ này không phải do
lý Tứ đế mà khởi, nên nó không làm chướng ngại trí quán
lý Tứ đế), nên cần phải khi tu đạo mới đoạn được.
Tuy
các phiền não này đều có tướng phần, nhưng bản chất
để cho nó nương cậy mà biến ra tướng phần thì hoặc có
hoặc không, và được gọi là phiền não duyên hữu sự hay
là phiền não duyên vô sự (như duyên cảnh hiện tại có thật
mà sanh phiền não, gọi là phiền não duyên hữu sự có bản
chất, còn duyên cảnh quá khứ, vị lại v.v... mà sanh phiền
não, thì gọi là phiền não duyên vô sự, không có bản chất).
Tướng phần thân sở duyên của nó tuy đều là pháp hữu
lậu, nhưng bản chất của nó nương cậy để biến ra tướng
phần thì cũng thông cả pháp vô lậu và được gọi là phiền
não duyên hữu lậu hay phiền não duyên vô lậu mà khởi (như
duyên pháp hữu lậu Khổ, Tập đế mà sanh phiền não, thì
gọi là phiền não duyên hữu lậu, còn duyên pháp vô lậu
Diệt, Ðạo đế mà sanh phiền não thì gọi là phiền não
duyên vô lậu, hay gọi hữu lậu, vô lậu duyên hoặc).
Phiền
não duyên tự địa (nơi mình đang ở), thì tướng phần của
nó tương tợ bản chất và được gọi là duyên cảnh cụ
thể do phân biệt khởi. Còn phiền não duyên Diệt, Ðạo đế
và tha địa (nơi khác, cõi khác) thì tướng phần của nó
không tương tợ bản chất, và được gọi là duyên cảnh
trừu tượng danh ngôn do phân biệt khởi.
Còn
các mặt phân biệt khác về mười phiền não, cứ như lý
nên suy nghĩ.
- Ðã
nói tướng sáu Phiền não căn bản, các Tùy phiền não tướng
nó thế nào?
Tụng
rằng:
Tùy
phiền não là phẫn,
Hận,
phú, não, tật, xan,
Dối,
nịnh và hại, kiêu,
Vô
tàm và vô quý,
Trạo
cử với hôn trầm,
Không
tín cùng giải đãi,
Phóng
dật và không nhớ,
Tán
loạn, không chánh tri.
Luận
rằng: "Chỉ là tánh đẳng lưu và phận vị sai biệt của
căn bản phiền não gọi là Tùy phiền não (tức những phiền
não tùy thuộc nơi căn bản phiền não mà có)".
Tùy
phiền não này gồm có hai mươi thứ chia làm ba loại. Mười
thứ từ "phẫn, hận" đến "hại, kiêu", mỗi mỗi thứ khởi
riêng, nên gọi là Tiểu tùy phiền não. Vô tàm, vô quý biến
khắp các tâm bất thiện, nên gọi là Trung tùy phiền não.
Tám thứ từ "trạo cử" đến "bất chánh tri", biến khắp
tâm ô nhiễm, nên gọi là Ðại tùy phiền não.
Phẫn
là thế nào? Là tánh tức giận đối với cảnh không nhiêu
ích trước mắt, nó có nghiệp dụng là chướng ngại tánh
không tức giận. Nghĩa là người ôm lòng tức giận thì thường
phát hiện ra thân biểu nghiệp hung ác (như cầm gậy). Phẫn
lấy một phần sân nhuế làm tự thể. Lìa sân thì không có
tướng và dụng của phẫn.
Hận
là thế nào? Là tánh ôm lòng hung ác oán kết không bỏ về
những điều đã tức giận trước đó. Nó có nghiệp dụng
là chướng ngại tâm không hận, dễ nóng nảy. Nghĩa là người
kết hận thì không thể ẫn nhẫn mà thường nóng nảy. Nó
cũng lấy một phần sân nhuế làm tự thể. Lìa sân nhuế
thì không riêng có tướng và dụng của hận.
Phú
là thế nào? Là tánh che dấu tội lỗi mình đã làm, vì sợ
mất lợi dưỡng danh dự. Nó có nghiệp dụng làm chướng
ngại tâm không che dấu, dễ hối hận, bức não. Nghĩa là
người che dấu tội, về sau chắc chắn hối hận bức não
không an.
Có
ý kiến cho rằng "Phú" lấy một phần si làm tự thể, vì
luận nói phú là một phần của si, vì không biết sợ sự
khổ tương lai (si) nên che dấu tội lỗi mình.
Có
ý kiến cho rằng phú nhiếp thuộc một phần tham và si, vì
cũng sợ mất lợi dưỡng danh dự mà che dấu tội mình. Luận
cứ theo mặt thô hiển mà nói nó là một phần của si. Như
nói "Trạo cử" là một phần của tham, nhưng nói trạo cử
biến khắp các nhiễm tâm, thì không thể chấp nó chỉ là
một phần của tham.
Não
là thế nào? Là tánh tàn ác hung bạo truy xúc do phẫn, hận
phát sanh. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại tâm không não,
dễ hiểm độc ... Nghĩa là truy nhớ điều oán ghét đã qua,
lại gặp duyên ngang trái hiện ra trước mắt làm cho tâm nổi
tàn ác, phát sanh hung bạo, nói năng thô bỉ, hiểm độc với
người. Nó cũng lấy một phần sân nhuế làm tự thể. Lìa
sân nhuế không riêng có tướng dụng của não.
Tật
là thế nào? Là tánh quay cuồng theo danh lợi, đố kỵ không
chịu nổi trước sự hiển vinh của người khác. Nó có nghiệp
dụng làm chướng ngại tâm không tật đố, dễ lo buồn. Nghĩa
là người có tâm đố kỵ khi thấy nghe người khác có sự
vinh hiển thì rất lo buồn không yên ổn. Nó cũng lấy một
phần sân làm tự thể. Lìa sân thì không có riêng tướng
và dụng của tật.
Xan
là thế nào? Là tánh xan lẫn, đắm trước trước tài và
pháp không chịu huệ thí cho ai. Nó có nghiệp dụng làm chướng
ngại tâm không xan tham, ưa cất chứa thấp hèn. Nghĩa là người
có tâm xan lẫn thì hay keo rít, cất chứa tài và pháp không
chịu thí xả. Nó cũng lấy một phần tham ái làm tự thể.
Lìa tham thì không có tướng và dụng của xan.
Cuống
là thế nào? Là tánh vì muốn được lợi dưỡng danh dự
mà trá ngụy dối hiện mình có đức. Nó có nghiệp dụng
làm chướng ngại tánh không trá ngụy, ưa tà mạn. Nghĩa là
người kiêu cuống, tâm thường mưu kế kỳ lạ, dối hiện
những điều bất thật, tà mạn. Nó cũng lấy một phần tham,
si làm tự thể. Lìa tham, si thì không riêng có tướng và dụng
của cuống.
Siễm
là thế nào? Là tánh quanh co hiểm hóc, vì muốn gạt người
mà dối bày các hình nghi kỳ lạ. Nó có nghiệp dụng làm
chướng ngại tánh không dua nịnh và tánh dễ dạy bảo. Nghĩa
là người có tánh nịnh hót quanh co vì giăng lưới gạt người
mà chiều thuận theo thời nghi, dối bày phương tiện để
được lòng người, hoặc che dấu lỗi mình không chịu nghe
lời dạy bảo của thầy bạn. Nó cũng lấy một phần tham
và si làm tự thể. Lìa tham và si thì không riêng có tướng
và dụng của siễm.
Hại
là thế nào? Là tánh ưa làm tổn hại khổ não các hữu tình,
không có chút thương xót. Nó có nghiệp dụng làm chướng
ngại tánh không hại, ưa bức não. Nghĩa là người có tâm
hại thì ưa bức não người khác. Nó cũng lấy một phần
sân nhuế làm tự thể. Lìa sân nhuế thì không riêng cớ tướng
và dụng của hại. Nên biết, chuẩn theo mười một thiện,
sân và hại, tướng khác nhau, không sân thì cho vui (từ), không
hại thì cứu khổ (bi) khác nhau.
Kiêu
là thế nào? Là tánh mê say kiêu ngạo, nhiễm đắm sâu xa
đối với sự vinh thạnh của mình. Nó có nghiệp dụng làm
chướng ngại tánh không kiêu và làm chỗ nương cho nhiễm
đắm. Nghĩa là người mê say kiêu ngạo thì dễ sanh trưỏng
hết thảy điều tạp nhiễm. Nó cũng lấy một phần tham ái
làm tự thể. Lìa tham ái thì không riêng có tướng và dụng
của kiêu.
Vô
tàm là thế nào? là tánh không biết nhìn lại điều mình
làm, cứ khinh khi chống cự điều hiền thiện. Nó có nghiệp
dụng làm chướng ngại tánh biết hổ, sanh trưởng điều
ác. Nghĩa là đối với điều mình làm không biết nhìn lại,
cứ khinh khi chống cự hiền thiện, không biết hổ trước
điều tội lỗi, sanh trưởng các điều ác.
Vô
quý là thế nào? Là tánh không biết nhìn người khác, cứ
tôn sùng quý trọng điều bạo ác. Nó có nghiệp dụng làm
chướng ngại tánh biết thẹn, sanh trưởng điều ác. Nghĩa
là không biết trông nhìn người khác, cứ nhắm mắt tôn sùng
quý trọng điều bạo ác, không biết hổ tội lỗi, sanh trưởng
các ác hành.
không
biết hổ tội lỗi, là tướng thông cả hai thứ vô tàm, vô
quý. Cho nên các Thánh giáo giả nói là thể. Nếu chấp "không
biết hổ" là hai tướng riêng, không hổ theo vô tàm và không
hổ theo vô quý, thì thể nó vẫn không sai khác. Do đó mà
hai pháp ấy không thể cùng sanh một lần, không phải như
thọ và tưởng có nghĩa đó. Nếu vì đối đãi với tự với
tha mà lập ra vô tàm và vô qúy, thì nó không phải thật có,
bèn trái với Thánh giáo. Còn nếu chấp nhận hai thứ đó
là có thật thể mà phát khởi riêng biệt, thì lại trái với
luận nói hai thứ đó đều biến khắp các ác tâm. Khi tâm
bất thiện nổi lên thì bất cứ duyên cảnh nào cũng đều
có tánh khinh khi chống cự điều thiện và tôn sùng quý trọng
điều ác, cho nên nói hai thứ vô tàm và vô quý này biến
khắp các ác tâm, cảnh sở duyên của hai thứ đó không khác,
nên nó không có lỗi khởi riêng. Nhưng các Thánh giáo nói
không nhìn đến mình và người, là chính mình làm gọi là
tự, thế gian gọi là tha. Hoặc trong đó chống cự thiện
hay tôn sùng ác đối với mình nó đem lại lợi ích hay tổn
hại mà gọi là tự và tha, nhưng luận nói nó là một phần
của tham v.v... tức là nói nó là phần đẳng lưu của tham
v.v... chứ không phải chính tham là tánh của tham v.v... chứ
không phải tham là tánh của vô tàm, vô quý (tức do tham diễn
tiến mà thành vô tàm, vô qúy chứ nó không phải một phần
của tham).
Trạo
cử là thế nào? Là tánh khiến tâm không tịch tịnh đối
với cảnh. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại hành xả
và việc tu Xa ma tha (tức tu Chỉ).
Có
ý kiến cho rằng trạo cử nhiếp thuộc về một phần tham.
Luận chỉ nói nó là một phần của tham, vì nó do nhớ lại
chuyện vui ngày trước mà phát sanh.
Có
ý kiến cho rằng trạo cử không phải nhiếp về tham, vì Luận
nói: "Trạo cử biến khắp các nhiễm tâm". Lại tướng của
trạo cử là không tịch tịnh, vì nó là tướng chung giữa
các phiền não. Trạo cử nếu lìa các phiền não thì không
có tướng và dụng riêng. Tuy dựa tất cả phiền não mà giả
lập, nhưng trong đó phần tham tăng hơn nên nói trạo cử là
một phần của tham.
Có
ý kiến cho rằng trạo cử có tự tánh riêng, nó biến khắp
các nhiễm tâm, như bất tín v.v... không phải vì nói nó là
một phần của cái khác mà thể nó không thật. Chớ bảo
bất tín v.v... cũng là giả hữu. Nhưng Luận nói: "Nó chỉ
có theo nghĩa thế tục, cũng như thùy miên v.v... ", đó là
nói theo tướng của cái khác (theo phiền não khác). Tướng
riêng của trạo cử chính là tánh huyên động làm cho Tâm,
Tâm sở cùng sanh với nó không được tịch tịnh. Nếu lìa
phiền não, không riêng có tướng trạo cử, không nên nói
riêng trạo cử làm chướng ngại Xa ma tha. Cho nên không tịch
tịnh, không phải là tướng riêng của trạo cử.
Hôn
trầm là thế nào? Là tánh khiến tâm đối với cảnh không
kham nỗi. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại khinh an và
việc tu Tỳ bát xá na (tu Quán).
Có
ý kiến cho rằng hôn trầm là một phần của si. Luận chỉ
nói nó là si phần, hôn muội trầm trầm trọng là tướng
của si.
Có
ý kiến cho rằng hôn trầm không phải chỉ nhiếp về si. Nghĩa
là không kham nỗi là tướng của hôn trầm. Tất cả phiền
não đều có tánh không kham nỗi. Lìa tánh không kham nỗi đó
không riêng có tướng hôn trầm. Tuy dựa tất cả phiền não
mà giả lập hôn trầm, nhưng trong đó vì tướng si tăng hơn,
nên chỉ nói hôn trầm là một phần si.
Có
ý kiến cho rằng hôn trầm có tự tánh riêng. Tuy gọi là si
phần, nhưng là đẳng lưu của si, cũng như bất tín v.v...
không phải nó chính là si. Nói theo tha tướng (là theo tham,
sân, si mà có nó), gọi nó là có theo nghĩa thế tục, cũng
như thụy miên v.v... là có tánh thật. Tướng riêng của hôn
trầm chính là hôn muội trầm trọng, khiến cho Tâm, Tâm sở
cùng sanh với nó cũng trầm trọng không kham nỗi. Nếu lìa
phiền não ra thì không riêng có tướng hôn trầm; không nên
nói riêng hôn trầm làm chướng ngại việc tu Tỳ bát xá na.
Cho nên tính không kham nỗi, không phải là tướng riêng của
hôn trầm. Hôn trầm với tướng si có khác nhau là, si thì
mê ám đối với cảnh, trực tiếp chướng ngại không si,
nhưng không phải hôn mê trầm trọng. Còn tướng của hôn
trầm là hôn mê trầm trọng đối với cảnh, và trực tiếp
chướng ngại khinh an, nhưng không phải mê ám.
Bất
tín là thế nào? Là tánh của tâm ô uế không nhận chịu
vui thích mong muốn đối với Thật, Ðúc, Năng. Nó có nghiệp
dụng làm chướng ngại lòng tin thanh tịnh, và làm chỗ nương
cho đọa lạc. Nghĩa là người không có lòng tin thì dễ biếng
lười, ba tướng của bất tín, ngược lại với tín là tin
Thật, Ðức, Năng. Nhưng các pháp ô nhiễm đều có tướng
riêng, chỉ bất tín này tự tướng là ô trược lại làm
ô trược các Tâm, Tâm sở khác, như vật rất nhớp, tự làm
nhớp lại làm nhớp vật khác, cho nên nói bất tín lấy tâm
ô uế làm tánh. Do bất tín nên đối với Thật, Ðức, Năng
không nhẫn chịu, vui thích, mong muốn chứ không phải bất
tín có tánh riêng. Nếu đối với việc khác mà tâm nhẫn
chịu, vui thích mong muốn một cách tà vạy, thì đó chỉ là
nhân quả của không tin (thuộc tà dục, tà thắng giải) chứ
không phải là tự tánh của bất tín.
Giải
đãi là thế nào? Là tánh lười biếng đối với việc tu
thiện đoạn ác. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại tinh
tấn và làm tăng ô nhiễm. Nghĩa là người lười biếng thì
nuôi lớn sự ô nhiễm. Người siêng năng theo việc ô nhiễm
cũng gọi là giải đãi, vì sự siêng năng đó làm hư mất
điều thiện. Người siêng năng theo việc vô ký thì đối
với điều thiện cũng không có tiến thoái gì. Ðây chỉ thuộc
dục và tà thắng giải, chứ không có tánh riêng của sự
siêng năng đó. Như đối với việc vô ký mà nhẫn chịu,
vui thích, mong muốn thì đó không phải là tịnh hay nhiễm,
cũng không phải là tín hay bất tín.
Phóng
dật là thế nào? Là tánh phóng đảng, không biết phòng ngừa
điều ô nhiễm, tu điều thanh tịnh. Nó có nghiệp dụng làm
chướng ngại tánh không phóng đảng và làm chỗ dựa cho điều
ác được tăng, điều thiện bị giảm. Nghĩa là do giải đãi
và tham, sân, si nên không ngăn ngừa ô nhiễm, không tu tập
thanh tịnh, gọi chung là phóng dật, chứ không phải có tự
thể phóng dât riêng. Tuy mạn, nghi v.v... cũng có khả
năng này nhưng so với giải đãi và tham, sân, si thì mạn,
nghi yếu kém không mạnh như tham, sân si làm chướng ngại
ba thiện căn và giải đãi là chướng ngại tinh tấn (nên
không dựa vào mạn, nghi để lập phóng dật). Suy cứu tướng
phóng dật cũng như tướng bất phóng dật.
Thất
niệm là thế nào? Là tánh không ghi nhớ rõ ràng các cảnh
sở duyên. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại chánh niệm
và làm chỗ dựa cho tán loạn. Nghĩa là người thất niệm
thì tâm tán loạn.
Có
ý kiến cho rằng thất niệm là một phần của niệm, vì đó
là cái niệm có phiền não tương ưng.
Có
ý kiến cho rằng, thất niệm là một phần của si, vì luận
Du già nói: "Thất niệm là si phần". Si khiến cho niệm bị
mất, nên gọi là thất niệm.
Có
ý kiến cho rằng thất niệm là một phần của tham, sân, si
v.v... vì do hai văn trước đối chiếu lược nói, vì Luận
còn nói: "Thất niệm biến khắp các nhiễm tâm".
Tán
loạn là thế nào? Là tánh làm cho tâm lưu đẳng đối với
cảnh sở duyên. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại chánh
định và làm chỗ dựa cho ác tuệ. Nghĩa là người tán loạn
thì phát sanh ác tuệ.
Có
ý kiến cho rằng tán loạn nhiếp thuộc vào tham, sân, si, vì
Tập Luận nói: "Tán loạn là ba phần tham, sân, si". Luận Du
già nói: "Tán loạn là si phần", là vì nó biến khắp các
tâm ô nhiễm, tức là tham, sân, si khiến tâm lưu linh phóng
đảng hơn pháp gì khác, nên nói là tán loạn.
Có
ý kiến cho rằng tán loạn có thể tự thể riêng. Tập Luận
nói: "Ba phần tham, sân, si ...", đó là nói tán loạn là tánh
đẳng lưu của ba thứ tham, sân, si, như vô tàm v.v... chứ
không phải nói tán loạn chính là tham, sân, si. Tùy theo tướng
khác (là tướng tham, sân, si) mà nói, gọi là có theo nghĩa
thế tục. Tướng riêng của tán loạn là tháo động nhiễu
loạn khiến cho Tâm, Tâm sở cùng sanh với nó đều bị lưu
đẳng. Nếu lìa ba thứ tham, sân, si không có tự thể tán
loạn riêng, thì Luận không nên nói riêng tán loạn làm chướng
ngại Tam ma địa (định).
- Trạo
cử và tán loạn tác dụng khác nhau thế nào? Trạo cử khiến
tâm biến đổi sự hiểu biết (cùng nơi một cảnh mà biến
động, vừa hiểu này lại hiểu khác, không yên như ngọn
đèn soi một chỗ mà cứ nhấp nháy) tán loạn khiến tâm biến
đổi cảnh duyên (vừa duyên cảnh này đổi sang duyên cảnh
khác không yên như ngọn đèn vừa soi chỗ nsày lại soi chỗ
khác lia lịa). Tuy trong một sát na thì hiểu biết và cảnh
duyên không đổi, nhưng trong nhiều sát na tiếp nối thì có
sự biến đổi đó. Trong khi tâm ô nhiễm, thường do năng
lực của trạo cử và tán loạn mà làm cho tâm biến đổi
hiểu biết và biến đổi cảnh duyên. Nếu có lúc tâm đúng
yên là hoặc do năng lực của niệm v.v... chế phục như dây
buộc khỉ, vượn khiến đứng yên tạm thời, cho nên trạo
cử và tán loạn đều biến khắp các tâm ô nhiễm.
Bất
chánh tri là thế nào? Là tánh hiểu lầm đối với cảnh sở
quán. Nó có nghiệp dụng làm chướng ngại sự hiểu biết
đúng, làm chỗ dựa cho sự hủy phạm.
Có
ý kiến cho rằng bất chánh tri nhiếp về một phần của tuệ,
tức tuệ có phiền não tương ưng thành bất chánh tri. Có
ý kiến cho rằng bất chánh tri là nhiếp về một phần của
si, vì luận Du già nói: "Bất chánh tri là si phần". Si khiến
cái biết không đúng, gọi là bất chánh tri.
Có
ý kiến cho rằng bất chánh tri là một phần chung của các
phiền não, vì do hai văn trước đây đối chiếu lược nói,
và luận còn nói: "Bất chánh tri biến khắp các nhiễm tâm".
- Trong
bài tụng có ba chữ "dữ, tinh, cập" là hiển thị tùy phiền
não không phải chỉ có 20 thứ, vì trong luận Tạp Sự nói:
"Có nhiều thứ phiền não của tham, sân v.v..."; nói: "Tùy phiền
não cũng nhiếp luôn cả các phiền não nhiễm ô khác ngoài
20 thứ trên", vì nó là tánh đẳng lưu của căn bản phiền
não trước kia. Các pháp phiền não nhiễm ô khác đồng loại
với căn bản phiền não thì chỉ gọi là Tùy phiền não, chứ
không nhiếp vào căn bản phiền não. Nay chỉ nói hai mươi
Tùy phiền não là vì nó không phải căn bản phiền não, nó
chỉ ô nhiễm và thô trọng. Còn những pháp nhiễm khác hoặc
là phận vị của Tùy phiền não, hoặc là tánh đẳng lưu
của Tùy phiền não, đều nhiếp thuộc vào đây. Tùy theo loại
khác nhau, như lý nên biết.
- Trong
hai mươi Tùy phiền não như thế, tiểu tùy mười, đại tùy
hai, chắc chắn là giả có; còn vô tàm, vô quý, bất tín,
giải đãi chắc chắn là thật có, vì có giáo và lý chứng
thành. Trạo cử, hôn trầm, tán loạn ba thứ, có ý kiến cho
là giả, có ý kiến cho là thật. Và dẫn giáo và lý làm chứng,
như trước nên biết.
- Hai
mươi Tùy phiền não đều có câu sanh và phân biệt, vì nó
tùy theo thế lực của hai thứ phiền não căn bản câu
sanh và phân biệt phát khởi.
- Trong
hai mươi Tùy phiền não đó, tiểu Tùy phiền não mười thứ
từ phẫn, hận, đến hại, kiêu là lần lượt thay nhau sanh
khởi, chứ chắc chắn không cùng sanh khởi một lần, vì tánh
nó trái nhau. Hành tướng mỗi thứ thô trọng mãnh liệt, tự
làm chủ riêng. Còn trung Tùy phiền não hai thứ là vô tàm,
vô quý thì tương ưng với tất cả tâm bất thiện, nó cùng
sanh khởi một lần với cả tiểu tùy và đại tùy. Luận
nói: "Ðại Tùy phiền não tám thứ từ bất tín, đến bất
chánh tri thì biến khắp các nhiễm tâm, nó thay nhau cùng sanh
khởi với tiểu tùy, trung tùy". Có chỗ nói sáu thứ là bất
tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và trạo
cử tăng mạnh thì cùng khởi một lần. Có chỗ nói năm thứ
biến khắp nhiễm tâm vì hôn trầm, trạo cử chỉ trái với
thiện, nghĩa là hôn trầm thì chướng khinh an, trạo cử thì
chướng hành xả.
- Hai
mươi Tùy phiền não chỉ là ô nhiễm nên không tương ưng
với thức thứ tám. Thức thứ bảy chỉ là tương ưng với
tám đại tùy. Hoặc thủ hoặc xả khác nhau nên biết như
trên. Thức thứ sáu tương ưng với đủ cả hai mươi thứ.
Tiểu tùy mười, có tánh thô mãnh không tương ưng với năm
thức trước, trung tùy và đại tùy thông nhau, trong năm thức
đều có đủ.
- Do
đó trung tùy, đại tùy tương ưng với năm thọ. Có ý kiến
cho rằng tiểu tùy mười trừ ba là siễm, cuống, kiêu, bảy
thứ còn lại là phẫn, hận v.v... tương ưng với ba thọ là
hỷ, ưu, xả; ba thứ siễm, cuống, kiêu tương ưng với bốn
thọ, trừ khổ thọ. Có ý kiến cho rằng phẫn v.v... tương
ưng với bốn thọ, trừ lạc thọ; còn siễm, cuống, kiêu
ba thứ thì tương ưng với cả năm thọ. Ý thức có khổ thọ,
trước đã nói.
Tướng
Tùy phiền não tương ưng với năm thọ. Ba thứ còn lại tương
ưng thêm lạc thọ. Trung tùy, đại tùy thô tướng cũng có
nghĩa đúng như thế.
- Hai
mươi Tùy phiền não như thế đều cùng sanh khởi với năm
Biệt cảnh, vì không trái nhau. Niệm ô nhiễm, tuệ ô nhiễm
(niệm ô nhiễm tức là thất niệm, tuệ ô nhiễm tức bất
chánh tri). Tuy không cùng phát sanh với niệm và tuệ, nhưng
nó là si phần (vô minh), nên cũng được tương ưng. "Niệm"
cũng duyên được loại cảnh hiện tại và thường tập quen,
"Phẫn" cũng duyên được sát na quá khứ, cho nên phẫn và
niệm cũng được tương ưng nhau. Khi định ô nhiễm phát khởi,
tâm cũng tháo động nhiễu loạn, cho nên loạn và định tương
ưng.
- Trung
tùy hai, đại tùy tám, với mười thứ căn bản phiền não,
cùng tương ưng nhau. Tiểu tùy mười thứ chắc chắn không
tương ưng với ác kiến và nghi, vì tướng nó thô động;
còn ác kiến và nghi thì thẩm xét vi tế. Phẫn, hận, não,
tật, hại năm thứ tương ưng với mạn và nghi, chứ không
tương ưng với tham và sân, vì nó là một phần của sân.
Xan, si, mạn cùng tương ưng với nhau chứ không phải tham và
sân cùng tương ưng được, vì nó là một phần của tham.
Kiêu thi tương ưng với si, khác với mạn và giải đãi, là
một phần của tham. Phú, cuống, siễm, tham, si, mạn tương
ưng nhau, vì hành tướng không trái nhau, đều là một phần
của tham, si.
Tiểu
tùy bảy là phẫn, hận, não, phú, tật, kiêu, hại. Trung tùy
hai là vô tàm, vô qúy, chỉ nhiếp về tánh bất thiện. Tiểu
tùy ba là siễm, cuống, kiêu. Ðại tùy tám cũng thông cả
tánh vô ký.
- Tiểu
tùy bảy, trung tùy hai, chỉ nhiếp thuộc về Dục giới. Cuống
và siễm thông cả Dục và Sắc giới. Các thứ còn lại thông
cả ba cõi. Sanh ở hạ địa, có thể khởi sanh mười một
thứ của thượng địa, vì tham đắm định cảnh mà khởi
tâm kiêu, đối với Dục giới lại khởi tâm cuống, siễm.
Nếu sanh ở thượng địa thì khởi mười thứ sau của hạ
địa, tà kiến và ái tương ưng nhau nên có thể khởi lên
nơi đó. Tiểu tùy mười, khi sanh ở thượng địa, thì không
còn lý do khởi lên ở hạ địa, vì nó không phải thứ trực
tiếp nhuận sanh và không phải tà kiến phỉ báng tịch diệt.
Trung tùy hai, đại tùy tám ở cõi dưới cũng duyên được
ở cõi trên; vì tương ưng với tham duyên cõi trên mà khởi
vậy.
Có
ý kiến cho rằng tiểu tùy mười thứ ở cõi trên dưới không
thể duyên cõi trên; vì hành tướng nó thô trọng, thiển cận
không thể chấp thứ cảnh ở xa.
Có
ý kiến cho rằng tật v.v... cũng duyên được cõi trên, vì
đối với pháp ở cõi cao hơn mà sanh tật đố. Ðại tùy
tám thứ thêm siễm, cuống ở cõi trên cũng duyên được cõi
dưới; vì tương ưng với "mạn" duyên cõi dưới mà khởi
lên vậy.
Ví
như Phạm thiên đối với Thích tử khởi tâm siễm, cuống,
"Kiêu" không duyên cõi dưới vì không phải đối tượng đáng
để ỷ thị.
-Hai
mươi Tùy phiền não đều nhiếp thuộc phi học, phi vô học,
vì nó chỉ là nhiễm, mà học và vô học là tịnh.
-Mười
thứ sau trong hai mươi Tùy phiền não chỉ thông kiến đạo
và tu đạo đoạn, vì nó tương ưng với hai thứ căn bản
phiền não câu sanh và phân biệt khởi lên.
- Phiền
não kiến sở đoạn là thứ phiền não tùy ở chỗ nó mê
về tướng Tứ Ðế hoặc tổng hoặc biệt, cùng lúc sanh ra,
cho nên tùy sự thích ứng mà nó đều thông cả bốn bộ hoặc
(tức bốn bộ phiền não do mê lý Bốn đế phát sanh, phiền
não do mê một Ðế mà sanh, đó là một bộ hoặc, mê Bốn
Ðế thành bốn bộ hoặc). Mê Bốn Ðế hoặc trực tiếp mê,
hoặc gián tiếp mê, đều nói như cách nói về phiền não.
Có
ý kiến cho rằng mười thứ trước trong 20 Tùy phiền não
chỉ là thứ phiền não do tu đoạn, vì nhậm vận câu sanh,
duyên cảnh sự tướng thô thiển.
Có
ý kiến cho rằng nó cũng thông cả kiến đạo và tu đạo
đọan, vì dựa theo thế lực hai thứ căn bản phiền não là
câu sanh và phân biệt khởi lên, vì duyên tà kiến của người
khác cũng sanh phẫn, hận v.v....
Kiến
sở đoạn hoặc (phiền não do kiến đạo đọan trừ) là tùy
theo năng lực nó duyên Bốn đế hoặc tổng và biệt nên nó
đều thông cả bốn bộ hoặc (bốn bộ phiền não).
Trong
đây có ý kiến cho rằng phẫn v.v... chỉ gián tiếp duyên
theo lậu hoặc mê lý Bốn đế phát sanh, chứ không phải trực
tiếp mê lý Bốn Ðế; vì hành tướng nó thô thiển không
chấp thủ được đi sâu xa.
Có
ý kiến cho rằng tật v.v... cũng trực tiếp mê lý Bốn Ðế,
vì đối với Diệt Dế, Ðạo Ðế sanh ganh ghét.
Nhưng
mười thứ như phẫn, hận v.v... chỉ duyên các sự thật,
vì phải dựa bản chất của sự thật mới sanh dược. Duyên
pháp hữu lậu, chuẩn theo trên đây mà biết.
(Hết cuốn VI của bản Hán)
Xem
tiếp: Trang 03