XI.
THỨC BIẾN HIỆN THỨ BA
Như
vậy đã nói thức năng biến thứ hai. Thức năng biến thứ
ba, tướng nó thế nào?
Tụng
nói:
Thức
năng biến thứ ba,
Sai
biệt có sáu thức,
Tánh
tướng là biệt cảnh,
Thiện,
bất thiện, vô ký.
Luận
rằng: "Tiếp theo thức tư lường năng biến thứ hai, nên hiện
rõ tướng của thức liễu cảnh năng biến.
Thức
này sai biệt tóm có sáu thứ, tùy theo sáu căn, sáu cảnh,
chủng loại khác nhau, đó gọi là nhãn thức cho đến ý thức,
tùy theo căn mà đặt tên.
Căn
đủ có năm nghĩa, đó là y căn, phát căn, thuộc căn, trợ
căn, như căn. Tuy sáu thức đều nương Mạt na ý mà sanh khởi,
nhưng thức thứ sáu theo chỗ nương riêng của nó là Mạt
na ý mà đặt tên là Ý thức, ví như năm thức, không bị
lỗi xen lạm. Hoặc nó chỉ nương nơi Ý cho nên gọi là Ý
thức. Ðây là biện biệt sáu thức nương sáu căn mà đặt
tên, còn tâm thứ tám, ý thứ bảy thì không theo lệ này.
Hoặc
gọi là sắc thức cho đến pháp thức, đó là theo cảnh đặt
tên thuận với thức. Nghĩa là đối với sáu cảnh, liễu
biệt gọi là thức. Năm thức là sắc thức, thanh thức v.v...
thì chỉ liễu biệt sắc cảnh, thanh cảnh v.v... còn pháp thức
thì liễu biệt khắp tất cả pháp. Hoặc vì Ý thức liễu
biệt pháp, nên gọi là Pháp thức. Cho nên tên gọi sáu thức,
không bị lỗi xen lạm. Trước là theo căn mà đặt tên sáu
thức, còn sau đây là theo cảnh mà đặt tên sáu thức, đều
là dựa nơi năm sắc căn khi chưa được tự tại mà nói,
Nếu khi được tự tại thì các căn dùng chung lẫn nhau, một
căn phát sanh thức duyên được tất cả cảnh, nhưng vẫn
tùy theo căn mà gọi tên thì không có lỗi xen lạm.
Luận
Trang Nghiêm nói: "Năm căn của đức Như Lai, mỗi căn đều
duyên đủ năm cảnh". Ðây là theo cảnh đồng loại (tánh
cảnh) thô hiển (năm trần) mà nói (ý nói năm trần thô hiển
cách ngại mà một căn phát thức còn duyên được cả, huống
pháp trần vô hình mà không duyên được).
Kinh
Phật Ðịa nói: "Trí thành sở tác của Phật quyết trạch
được tâm hạnh sai biệt của hữu tình để khởi lên ba
nghiệp giáo hóa và bốn thứ ký đáp". Nếu năm căn của Phật
không duyên cùng khắp thì không có khả năng ấy.
- Nhưng
căn sở y và cảnh sở duyên của sáu chuyển thức thô hiển
dễ thấy rõ, cho nên ở đây không nói. Trước đây theo nghĩa
thuận tiện đã nói căn sở y, còn nghĩa của cảnh sở duyên
khi gặp nghĩa thuận tiện sẽ nói.
- Câu
tụng thứ hai nói "Tánh tướng là biệt cảnh", là hiển thị
cả tự tánh và hành tướng của sáu thức. Sáu thức lấy
sự liễu biệt cảnh làm tự tánh, cũng lại dùng sự liễu
biệt cảnh làm hành tướng. Do đó câu tụng giải thích chung
cả hai tên, vì nó liễu biệt cảnh nên gọi là thức. Như
Khế kinh nói: "Nhãn thức thế nào? Ðó là thức nương nhãn
căn liễu biệt các sắc. Nói rộng cho đến ý thức thế nào?
Ðó là thức nương nơi ý căn liễu biệt các pháp."
Kinh
kia chỉ nói chỗ nương riêng của sáu thức với kiến phần
và cảnh sở duyên của nó, khi ở địa vị chưa chuyển y,
còn khi ở địa vị đã chuyển y thì căn sở y và cảnh sở
liễu của sáu thức chung thông như trước đã nói.
- Sáu
chuyển thức này nhiếp thuộc về tánh nào?
Nhiếp
thuộc cả ba tánh là thiện, bất thiện và câu phi. Câu phi
tức là vô ký, chẳng phải thiện và bất thiện.
Khả
năng làm cho thuận lẽ phải và có lợi ích đời này, đời
sau thì gọi là thiện; còn lạc quả của nó ở cõi Người,
cõi Trời, tuy thuận lẽ phải và có lợi ích đời này nhưng
không phải lợi ích đời sau, nên không gọi là thiện. Khả
năng làm trái lẽ phải và tổn hại đời này, đời sau thì
gọi là bất thiệ; còn khổ quả của nó ở cõi ác tuy trái
lẽ phải và tổn hại đời này, nhưng không phải tổn hại
đời sau, nên không phải bất thiện. Lưng chừng ở giũa thiện,
bất thiện, lợi ích và tổn hại không rõ ràng, thì gọi
là vô ký.
Sáu
chuyển thức này nếu tương ưng với mười một pháp như
Tín, Tàm, Qúy v.v... thì nhiếp thuộc tánh thiện, nếu tương
ưng với mười pháp như Vô tàm, Vô quý v.v... là nhiếp thuộc
về tánh bất thiện. Còn không tương ưng với cả hai thứ
trên là nhiếp thuộc về tánh vô ký.
- Có
ý kiến cho rằng ba tánh của sáu thức không khởi đồng khởi,
vì sáu thức đồng chuyển hướng ra bên ngoài, ba tánh thường
trái nhau; vì năm thức phải do ý thức đạo dẫn, đồng thời
sanh khởi, đồng duyên theo cảnh, mới thành thiện hoặc nhiễm..
Nếu chấp nhận năm thức có đủ ba tánh cùng hiện hành,
vậy thời lúc bấy giờ ngũ câu ý thức cũng phải thông cả
ba tánh, bèn trái chánh lý. Cho nên quyết định ba tánh không
cùng khởi một lần.
Nhưng
luận Du già v.v... nói: " Tạng thức một lúc cùng với các
chuyển thức tương ưng cả ba tánh mà nhất thời khởi lên",
nhất thời đây là dựa theo nghĩa thức trải qua nhiều niệm
mà nói. Như nói "nhất tâm", không phải là nói chỉ trong một
lần sanh diệt, nên không có lỗi trái nhau.
- Có
ý kiến cho rằng sáu thức đều có đủ ba tánh, vì năm thức
suất nhĩ và đẳng lưu hoặc nhiều hoặc ít cùng khởi lên.
Lại năm thức và ý thức tuy cùng sanh khởi, nhưng tánh thiện,
ác không hẳn đồng nhau. Trên kia cật nạn nói: "Năm thức
phải do ý thức đạo dẫn" đến đây trở thành uổng công.
Cho nên luận Du già nói như người nhập định, khi gặp duyên
của tiếng khánh mà ra định, đó là nhĩ thức với thiện
ý thức có định tương ưng cùng khởi lên, chứ không phải
chỉ một mình ý thức tương ưng với định kia mà có thể
tiếp nhận được tiếng khánh đó. Nếu không có nhĩ thức,
thì đối với âm thanh này một mình ý thức không lãnh thọ
được, không thể xuất định cũng không phải khi tiếp nhận
âm thanh là xuất định ngay. Sau khi lãnh thọ âm thanh rồi,
nếu có hy vọng, sau đó mới xuất định.
Khi
ở trong định, nhĩ thức suất nhĩ nghe âm thanh, đó chẳng
phải thiện. Vì khi chưa chuyển y, dù tâm suất nhĩ, tâm ấy
chỉ là vô ký.
Do
đó chứng minh ngũ câu ý thức không nhất định là đồng
tánh thiện với năm thức. Các chỗ khác chỉ nói: Ngũ câu
ý thức cũng duyên năm cảnh như năm thức, như không nói đồng
nhau.
Luận
Tạp Tập nói: "Trong địa vị đẳng dẫn (định) không có
năm thức". Ðó là y theo đa phần ở trong định mà nói.
Nếu
trong năm thức có ba tánh đồng khởi, ý thức theo năm thức
đó chuyên chú về cảnh nào thì ý thức cùng với năm thức
đồng tánh đó. Còn không chuyên chú thì là tánh vô ký. Cho
nên biết sáu chuyển thức có đủ ba tánh (như nhãn thức
duyên tượng Phật, là thiện, nhìn hoa mà tham là bất thiện
tánh).
khi
được địa vị tự tại thì nhiếp thuộc về tánh thiện,
vì Phật sắc (tướng hảo công đức), Phật tâm (bốn trí)
nhiếp về Ðạo đế (không có bất thiện), đã trừ sạch
chủng tử hý luận (chẳng phải vô ký).(32)
- Sáu
thức tương ưng với bao nhiêu tâm sở?
Tụng
rằng:
Ðây
tâm sở Biến hành,
Biệt
cảnh, Thiện, Phiền não.
Tùy
phiền não, Bất định,
Ðều
tương ưng ba thọ.
Luận
rằng: "Sáu chuyển thức này chung cùng tương ưng với sáu
vị Tâm sở". Ðó là năm Biến hành, năm Biệt cảnh, mười
một thiện, sáu căn bản phiền não, hai mươi Tùy phiền não,
bốn Bất định.
Thường
nương tâm khởi, tương ưng với tâm, hệ thuộc theo tâm, cho
nên gọi là Tâm sở. Như vật gì thuộc của ta, gọi là ngã
sở.
Tâm
đối với cảnh sở duyên chỉ nhận lấy tướng chung, Tâm
sở còn nhận lấy tướng riêng, giúp thành việc của tâm,
nên được gọi là Tâm sở. Như thầy trò thợ vẽ, thầy
làm mô hình trò tô màu sắc. Cho nên luận Du già nói: "Thức"
có khả năng liễu biệt tướng chung của sự vật.
Tác
ý có khả năng liễu biệt các tướng, chưa liễu biệt
đó của thức Tâm vương, tức có nghĩa các Tâm sở nhận
biết tướng riêng.
Xúc
có khả năng liễu biệt các tướng khả ý v.v... đó
của thức Tâm vương.
Thọ
có khả năng liễu biệt các tướng nhiếp thọ đó của
thức Tâm vương.
Tướng
có khả năng liễu biệt các tướng nhiếp thọ đó của
thức Tâm vương.
Tưởng
có khả năng liễu biệt tướng nhân của ngôn thuyết
(ngôn thuyết nhân) đó của thức Tâm vương.
Tư
có khả năng liễu biệt các tướng chánh nhân đó củ
thức Tâm vương.
Cho
nên tác ý, xúc v.v... gọi là Tâm sở pháp. Chữ "đó" là biểu
thị Tâm sở cũng duyên tướng chung đó của Tâm vương (chứ
không phải chỉ duyên tướng riêng mà thôi).
Chỗ
khác lại nói "Dục" cũng có khả năng liễu biệt tướng
của các việc khả lạc của thức Tâm vương.
Thắng
giải cũng có khả năng liễu biệt tướng của các việc
đã quyết định của thức Tâm vương.
Niệm
cũng có khả năng liễu biệt tướng của các việc đã
tập quen của thức Tâm vương.
Ðịnh,
tuệ cũng có khả năng liễu tướng của các việc đắc,
thất của thức Tâm vương.
Do
thế mới có thể đối với cảnh khởi lên các Tâm sở thiện
hoặc nhiễm, và đối với cảnh duyên cũng đều nhận biết
được tướng riêng.
Tuy
các Tâm sở có danh và nghĩa không khác, nhưng theo chủng loại
sai biệt chia làm sáu vị, là: Biến hành có năm, Biệt cảnh
có năm, Thiện có mười một, Phiền não có sáu, Tùy phiền
não có hai mươi, Bất định có bốn. Như vậy sáu vị cộng
là 51 Tâm sở.
Trong
tất cả tâm đều có, nên gọi là tâm sở Biến hành.
Duyên
riêng mỗi cảnh mà sanh khởi, nên gọi là tâm sở Biệt cảnh.
Chỉ
trong thiện tâm mới có sanh khởi, nên gọi là tâm sở Thiện.
Tánh
nhiếp thuộc về phiền não căn bản, nên gọi là tâm sở
Phiền não.
Chỉ
là tánh đẳng lưu của phiền não căn bản, nên gọi là tâm
sở Tùy phiền não.
Thiện
hay nhiễm ô không rõ rệt nhất định, nên gọi là tâm sở
Bất định.
Nhưng
luận Du già hợp sáu vị làm năm, vì Phiền não và Tùy phiền
não chung lại đều là nhiễm.
Lại
dùng bốn món nhất thiết để biện biệt năm vị sai khác.
Bốn nhất thiết là nhất thiết tánh (thiện, ác, vô ký) nhất
thiết địa (ba cõi, chín địa), nhất thiết thời (hữu tâm
vô tâm, hữu lậu, vô lậu), nhất thiết câu (tám Tâm vương).
Trong năm vị, Biến hành đủ cả bốn nhất thiết. Biệt cảnh
chỉ có hai nhất thiết đầu. Thiện chỉ có một, đó là
nhất thiết địa. Nhiễm thì không có bốn nhất thiết, Bất
định chỉ có một, đó là nhất thiết tánh. Do đó năm vị
có chủng loại sai khác.
- Sáu
chuyển thức này thay đổi không định cho nên có thể tương
ưng với cả ba thọ. Vì sáu thức đều có thể lãnh thọ
cảnh thuận, nghịch và câu phi. Khi lãnh nạp tướng của cảnh
thuận hợp làm vui thích thân tâm thì gọi là lạc thọ. Lãnh
nạp tướng của cảnh trái nghịch làm bức bách thân tâm
thì gọi là khổ thọ. Lãnh nạp tướng của cảnh trung dung
đối với thân tâm không khổ không vui, thì gọi là bất khổ,
bất lạc thọ.]
Ba
thọ như thế hoặc mỗi thứ chia hai: Thọ tương ưng với
năm thức, gọi là thân thọ, vì nó nương riêng nơi thân.
Thọ tương ưng với ý thức, gọi là tâm thọ, vì nó chỉ
nương nơi tâm.
- Lại
ba thọ đều thông cả hữu lậu vô lậu. Khổ thọ cũng do
vô lậu khởi (Khi tu vô lậu đạo trải qua gian khó cũng cảm
thọ khổ).
Hoặc
ba thọ mỗi thứ chia làm ba: Là kiến sở đoạn (thọ tương
ưng với phân biệt hoặc), tu sở đoạn, (thọ tương ưng với
câu sanh hoặc), phi sở đoạn (thọ tương ưng với vô lậu).
Lại
Học, Vô học, và chẳng phải hai, là ba.
Hoặc
chung cả ba thọ lại chia làm bốn tánh, đó là tánh thiện,
bất thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô ký.
- Có
ý kiến cho rằng cả ba thọ, mỗi thọ đều chia làm bốn
tánh. Vì Tham, Si tâm sở nhậm vận cùng với năm thức trước
đồng khởi lên và phiền não nhậm vận khởi nhưng không
phát ác nghiệp của trong cõi thuần khổ, là thuộc tánh hữu
phú vô ký. Và tánh hữu phú vô ký đó đều tương ưng với
khổ thọ căn.
- Luận
Du già nói: "Nếu tất cả phiền não nhậm vận sanh thì đều
đủ cả ba thọ hiện hành. Nếu phiền não ấy thông với
sáu thức trước thì nó tương ưng khắp cả ba thọ trong tất
cả thức thân. Nếu không thông tất cả thức thân, thì phiền
não ấy chỉ tương ưng với tất cả ba thọ căn nơi ý địa
(ý thức)".
Luận
Tạp Tập nói: "Nếu những phiền não hệ thuộc Dục giới
mà nhậm vận sanh ác hành, thì nó cũng là bất thiện. Còn
những phiền não không phát sanh ác hành, thì nó là hữu phú
vô ký". Cho nên biết ba thọ, khổ, lạc, xả đều đủ cả
bốn tánh thiện, ác, hữu phú vô ký, vô phú vô ký.
Hoặc
chung cả chia làm năm thọ là khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Trong
ba thọ khổ lạc, xả riêng khổ và lạc thọ mỗi thứ lại
chia hai; vì tướng vui, tướng khổ nơi thân và nơi tâm khác
nhau, và do không phân biệt (xả, lạc) có phân biệt (ưu, khổ)
rất nặng (khổ, lạc) và rất nhẹ (ưu, hỷ) sai khác. Còn
bất khổ bất lạc thọ không chia hai vì không có tướng khổ
bức thân tâm, tướng vui thích thân tâm sai khác, vì bình đẳng
vô phân biệt.
Những
sự cảm thọ vui thích tương ưng với năm thức, thì thường
gọi là lạc thọ; còn tương ưng với Ý thức, nếu là ở
cõi Dục, Sơ Thiền, và Nhị Thiền cận phần thì gọi là
hỷ, vì chỉ là vui tại tâm. Nếu ở Sơ Thiền và Nhị Thiền
căn bản định thì gọi là lạc và hỷ, vì sự vui ở cả
thân và tâm. Nếu ở tại đệ Tam Thiền cận phần và căn
bản định thì gọi là lạc, vì ở đây sự an tịnh rất
lớn, không có phân biệt.
Những
sự cảm thọ bức bách tương ưng với năm thức, thường
được gọi là khổ; còn nếu tương ưng với Ý thức, có
ý kiến cho chỉ gọi là ưu, vì nó chỉ bức bách tâm. Vì
các Thánh giáo nói sự thọ lo buồn của Ý thì gọi là ưu
căn.
Luận
Du già nói: "Loài huân tập sanh trong địa ngục, thức Dị
thục không gián đoạn, có Dị thục sanh, có khổ và ưu tiên
liên tục không dứt. Lại nói: "Ở địa ngục có tâm tư ưu
(tức sự ư ở ý). Một phần ngạ quỷ và bàng sanh cũng thế".
Cho nên biết ở ý thức có cái thọ lo buồn rất nặng, còn
gọi là ưu huống gì các sự bức bách nhẹ khác.
Có
ý kiến cho rằng Ý thức thông cả hai thọ là ưu và khổ.
Ở trong loài Người, loài Trời thì thường gọi là ưu, vì
sự bức bách không phải quá nặng. Ở loài bàng sanh, ngạ
quỷ mới gọi là ưu và khổ, vì một đàng tạp thọ, một
đàng thuần thọ có khinh có trọng khác nhau.
Ở
trong Nại lạc ca (địa ngục) chỉ gọi là khổ, vì thuần
thọ khổ rất nặng, không thể phân biệt được.
- Luận
Du già nói: "Nếu tất cả phiền não nhậm vận sanh thì có
đủ ba thọ khổ, lạc, xả hiện hành". Nói rộng như trước.
- Lại
nói phiền não Tát ca gia kiến câu sanh (thân ngã kiến) chỉ
có tánh hữu phú vô ký. Biên chấp kiến nên biết cũng thế.
Nên tương ưng với khổ thọ thì chỉ nhiếp về khổ căn
không phải nhiếp về ưu căn, vì Luận nói ưu căn chẳng phải
là vô ký.
- Lại
luận Du già nói: "Hữu tình trong địa ngục có đủ các căn,
ngoài ra quyết định không thành tựu được có ba thọ căn
hiện hành. Trong cõi ngạ quỷ, bàng sanh thuần khổ cũng thế".
Ba thọ căn nói đây là lạc, hỷ, ưu căn. Vì ở địa ngục
kia quyết chắc có xả thọ hiện hành, không phải nói không
có xả thọ ở trong địa ngục. Ðã không biết văn luận
Du già chỉ nói có xả thọ thì không nên nói ở địa ngục
chắc thành tựu ý căn, vì Luận chấp nhận ở địa ngục
sáu thức kia có lúc không có.
Không
nên cho Luận kia chỉ nói xả thọ, mà còn nói chung cả các
căn, vì không có nhân chi khác để chỉ nói có xả thọ. Lại
nếu Luận kia y nơi xả thọ mà nói, thì tại sao còn nói ở
dịa ngục định thành tựu tám thọ căn?
Nếu
bảo năm thức trước không tương tục nên quyết định nói
ưu căn là căn thứ tám. Nhưng ở địa vị khi chết, khi sanh,
và khi muộn tuyệt thì đâu có ưu căn?
Có
người cho khổ căn là chỉ căn thứ tám, thì bị phá đồng
như đây
Giả
sử chấp ở địa ngục có một hình thể (tức nam, nữ căn)
là căn thứ tám, cũng không đúng lý; vì thân hình ở địa
ngục bất định; vì ở địa ngục do ác nghiệp chiêu cảm,
không thể có hình (tức nam, nữ căn); vì ở đó do ác
nghiệp khiến cho năm căn luôn thường thọ khổ. Cho nên ở
đó có nhãn căn v.v... thì nó đối với một hình thể (tức
nam, nữ căn) đâu có tác dụng gì. Không thể nào ở trong
đại địa ngục Vô gián mà có thể có sự mong cầu việc
dâm dục.
Do
đó căn thứ tám nói đây quyết định chỉ cho xả căn, vì
đệ thất, đệ bát hai thức có xả căn tương ưng vậy. Như
ở chỗ rất vui, Ý thức vui thích gọi là lạc, không có hỷ
căn. Cho nên ở chỗ rất khổ như địa ngục, Ý thức bị
bức bách gọi là khổ, không có ưu căn. Cho nên nói chữ "ngoài
ra còn ba căn" là chỉ cho ba căn ưu, hỷ, lạc (không có ở
địa ngục).
- Có
chỗ khác nói: "Ở địa ngục có cái vui đẳng lưu". Nên biết
câu nói đó là y theo mặt lý tùy chuyển (chuyển lý Ðại
thừa mà nói lý Tiểu thừa) mà nói. Hoặc kia nói chung về
chỗ có sự thọ khổ vui lẫn lộn. Vì ở đó không có Dị
thục lạc, gọi à thuần khổ.
Nhưng
trong Thánh giáo nói: "Sự cảm thọ lo buồn ở ý thức gọi
là ưu căn", đây là y theo đa phần mà nói, hoặc y theo mặt
lý tùy chuyển mà nói, nên không có lỗi trái nhau.
- Luận
Du già nói: "Các loài hữu tình sanh trong địa ngục, thức
Dị thục không gián đoạn mà có Dị thục sanh với sự thọ
khổ, ưu tương tục không dứt". Lại nói: "Ở địa ngục
có tầm, tứ, ưu cùng khởi, một phần ngạ quỷ bàng sanh
cũng thế". Ðây cũng là y theo mặt lý tùy chuyển mà nói.
Lại nói: "Khổ căn tương ưng với ý thức đó là cùng một
loại ưu với các cõi kia mà giả nói là ưu. Hoặc khổ căn
kia tổn hại thân tâm, nên tuy nó nhiếp thuộc khổ căn mà
cũng gọi là ưu. Như hỷ ở cận phần định vì lợi ích
cho thân tâm nên tuy nó là hỷ căn mà cũng gọi là lạc".
Luận
Hiển Dương đều hiển bày nghĩa này, nhưng ở "vị chí địa",
quyết định không có lạc căn. Vì nói ở đó chỉ có 21 căn
vậy (chứ không có đủ 22 căn là nhãn, nhĩ, thiệt, thân,
ý, khổ ,lạc, ưu, hỷ, xả, nam căn, nữ căn, mạng căn, tín,
tấn, niệm, định, tuệ, vị trí, đương tri, dĩ tri, cụ tri).
Do
đó nên biết sự cảm thọ lo buồn nơi ý mà ở chỗ thuần
thọ khổ, cũng nhiếp về khổ căn.
Những
Thánh giáo như thế có nhiều cách nói khác nhau, sợ dài dòng
nên không thuật hết.
- Có
ý kiến cho rằng sáu thức không tương ưng ba thọ khổ, lạc,
xả. Vì nó hướng ra bên ngoài duyên cảnh hay chống trái nhau.
Ngũ cây ý thức đồng duyên một cảnh với năm thức trước.
Năm thức trước tương ưng ba thọ, thì Ý thức cũng vậy.
nói thế là trái chánh lý. Cho nên sáu thức chắc không tương
ưng cả ba thọ.
Luận
Du già nói: "Tạng thức một lúc cùng với chuyển thức tương
ưng ba thọ cùng sanh khởi". Ðây là y theo nhiều niệm mà nói.
Như nói "nhất tâm" không phải là chỉ nói tâm một lần sanh
diệt, nên không có lỗi trái nhau.
- Có
ý kiến cho rằng sáu thức tương ưng với ba thọ. Trong ba
cảnh thuận, nghịch, trung dung đều có cảm thọ.
Ý
thức không nhất định cùng năm thức đồng cảm thọ, khi
nó chuyên chú cảnh nào thì cảm thọ theo cảnh đó; còn không
chuyên chú thì khởi xả thọ. Do đó sáu thức có đủ ba thọ.
Khi ở địa vị đắc tự tại thì chỉ có lạc, hỷ, xả,
vì các đức Phật đã dứt hết việc ưu và khổ.
- Trước
đã lược nêu sáu vị Tâm sở, nay nên nói rõ tướng sai khác
của các Tâm sở ấy.
Hai
vị tâm sở Biến hành và Biệt cảnh đầu, tướng nó thế
nào?
Tụng
rằng:
Trước
là Biến hành: Xúc v.v...
Tiếp
là Biệt cảnh: Dục,
Thắng
giải, Niệm, Ðịnh, Tuệ.
Cảnh
sở duyên không đồng.
Luận
rằng : Trong sáu vị Tâm sở, vị đầu tiên là Biến hành
tâm sở tức là năm thứ xúc, tác, ý v.v... như trước đã
nói rộng.
Nên
biết tướng của Biến hành này thế nào? Do giáo và lý làm
định lượng để biết.
Trong
đây về "giáo" là, như Khế kinh nói: "Nhãn và sắc làm duyên
sanh ra nhãn thức. Ba thứ đó hòa hợp lại là "xúc", cũng
sanh theo xúc có "thọ", "tưởng", "tư" cho đến nói rộng".
Do xúc ấy v.v... biến khắp bốn thứ nên gọi là Biến hành.
Lại
Khế kinh nói: "Nếu căn không hư hoại và cảnh giới hiện
tiền, ngay lúc tác ý khởi lên, mới sanh ra thức". Các kinh
khác lại nói: "Nếu lại ở nơi cảnh đó khởi tác ý thì
chính ở đó có liễu biệt thì chính ở đó tác ý. Cho nên
hai thứ tác ý và liễu biệt đó thường chung hòa hợp, cho
đến nói rộng". Do đó tác ý cũng là Biến hành.
Những
"Thánh giáo" như thế, làm chứng không ít.
Còn
về "lý" là, khi thức khởi phải có ba sự hòa hợp, do ba
hòa hợp đó quyết định sanh ra "Xúc" mà ba sự hòa hợp lại
phải do xúc mới có. Nếu không có xúc thì Tâm và Tâm sở
pháp không thể hòa hợp nơi một cảnh.
Tác
ý có khả năng dẫn tâm khiến đi đến cảnh của chính
nó. Nếu không có tác ý, thì tâm không thể có.
Thọ
có khả năng lãnh nạp cảnh thuận, nghịch, trung dung,
khiến tâm khởi lên tướng vui, lo và xả, vì không khi nào
tâm khởi lên mà lại không tùy theo một tướng nào trong đó.
Tưởng
có khả năng an lập phần hạn ranh giới của tự cảnh,
nếu khi tâm khởi lên mà không có "tưởng" này thì không thể
nắm được phần ranh giới của cảnh.
Tư
có khả năng khiến tâm nằm tướng chánh nhân, tà nhân, tạo
tác nghiệp thiện ác. Không khi nào ở địa vị có tâm khởi
lên mà không theo một nghiệp, cho nên phải có "Tư".
Do
đó chứng biết năm pháp xúc, tác,ý v.v... hễ tâm khởi lên
là có nó, nên gọi nó là Biến hành. Ngoài ra, không phải
Biến hành, khi gặp đến nghĩa ấy sẽ nói:
- Tiếp
đến, Biệt cảnh tâm sở là "Dục" .. "Tuệ". Vì cảnh sở
duyên của nó phần nhiều không giống nhau, nên trong sáu vị
tâm sở, nó được nối tiếp theo vị tâm sở Biến hành thứ
nhất.
Dục
là thế nào? Là tánh hy vọng đối với cảnh vui, va có nghiệp
dụng làm chỗ nương cho "cần" (siêng năng).
- Có
ý kiến cho rằng được vui là cảnh đáng ưa thích, đối
với việc đáng ưa thích có hy vọng thấy muốn nghe.
Hỏi:
Ðối với việc đáng chán thì chỉ muốn nó đừng hợp
lại, hy vọng nó xa ra mà đừng hợp lại, là riêng có tự
thể của sự hân thích hợp lại chứ không phải hy cầu việc
đáng chán mà khởi hy vọng. Cho nên nơi cảnh đáng chán và
cảnh trung dung không ưa, không chán, thì chỉ một bề không
dục. Vậy khi duyên việc đáng ưa thích, nếu không hy vọng
thì cũng không có tâm dục khởi hay sao?
- Có
ý kiến cho rằng được vui là đối với cảnh có sự cầu
mong. Với việc đáng thích thì mong hợp, với việc đáng chán
thì mong lìa, đều có sự hy vọng; còn đối với cảnh trung
dung thì chỉ một mực không dục (không mong muốn). Khi duyên
việc đáng ưa, đáng chán, nếu không mong cầu, thì cũng không
có dục khởi.
- Có
ý kiến cho rằng được vui là muốn quán sát cảnh. Ðối
với việc nếu muốn quán sát thì có mong cầu, nếu không
muốn quán sát, thì cứ tùy theo nơi tình thế của cảnh mà
nhậm vận duyên, tức hoàn toàn không dục (không mong cầu).
Do lý lẽ ấy mà Dục không phải là tâm sở Biến hành.
- Có
thuyết cho rằng phải do năng lực của cảnh hy vọng, các
Tâm, Tâm sở mới tiếp nhận cảnh. Cho nên kinh nói: "Dục
là gốc các pháp" (nên Dục là tâm sở Biến hành).
- Kia
nói thế không đúng. Tâm tiếp nhận cảnh là do tác ý, vì
các Thánh giáo nói: "Khi tác ý hiện tiền thì sanh ra các thức",
chứ chưa từng có chỗ nào nói: "Dục sanh ra Tâm, Tâm sở".
Như nói: "Dục là gốc của các pháp", là ý muốn nói từ
Dục mới khởi tạo các sự nghiệp. Hoặc nói thiện dục
thì phát sanh chánh cần, do đó giúp thành mọi việc thiện.
Cho nên luận nói "Dục" có công dụng làm chỗ nương cho "Cần".
Thắng
giải là thế nào? Là tánh tin tưởng ấn trì đối với cảnh
đã quyết định, và có nghiệp dụng không thể bị lôi kéo
lay chuyển. Nghĩa là do sức chứng minh của giáo lý hoặc tà
hoặc chánh mà đối với cảnh nhận biết, thẩm định, quyết
đoán, ấn trì, không bị duyên gì khác lôi kéo lay chuyển.
Cho nên nếu đối với cảnh đang do dự, thì hoàn toàn không
có thắng giải. Tâm không thẩm định, quyết đoán thì không
có thắng giải. Do đó thắng giải không nhiếp vào tâm sở
Biến hành.
- Có
thuyết cho rằng khi Tâm nắm bắt tự cảnh không câu chấp
chướng ngại, thì đều có thắng giải.
Kia
nó phi lý. Vì sao? Vì không làm chướng ngại đó chính là
các pháp, không bị chướng ngại đó chính là các tâm; còn
làm duyên tăng thắng cho Tâm và Tâm sở phát khởi, thì đó
là căn và tác ý. Nếu do thắng giải mà duyên tăng thắng
phát khởi, thì thắng giải đó lại phải đợi có cái duyên
khác mới phát khởi, bèn mắc phải lỗi vô cùng.
Niệm
là thế nào? Là tính khiến Tâm ghi nhớ rõ ràng không quên
đối với việc đã từng tập quen, và có nghiệp dụng làm
chỗ nương cho định. Nghĩa là thường ghi nhớ việc đã tiếp
thọ không để quên mất, nhờ đó dẫn đến định. Còn đối
với thể loại cảnh chưa từng tiếp thọ mà không thể nhớ
rõ thì niệm cũng không sanh. Cho nên niệm không nhiếp vào
tâm sở Biến hành.
- Có
thuyết cho rằng khi Tâm khởi lên là có niệm cùng khởi, làm
nhân cho sự ghi nhớ về sau. – Nói thế không đúng. Vì không
thể trước có si hoặc tín v.v... cùng khởi với Tâm làm nhân
rồi sau mới có si, tín. nhưng do Tâm, Tâm sở lúc trước hoặc
do thế lực của tưởng cũng đủ để làm nhân cho sự ghi
nhớ lúc sau.
Ðịnh
là thế nào? là tính đối với cảnh sở quán làm cho Tâm
chuyên chú không tán loạn và có nghiệp dụng làm chỗ nương
cho trí. Nghĩa là quán cảnh được, mất, trung dung, nhờ định
khiến tâm chuyên chú vào cảnh đó không tán loạn. Nương
nơi đó bèn có trí lựa chọn phát sanh. Nói "tâm chuyên chú"
là hiển thị tâm muốn trụ ở đâu thì liền trụ được,
chứ không phải chỉ trụ duy nhất một cảnh. Nếu không thể,
ở địa vị kiến đạo quán khắp các đế lý cõi trên cõi
dưới cảnh trước sau khác nhau, thì không thể có đẳng trì
(định). Nếu không buộc tâm chuyên chú vào cảnh thì định
không khởi được, cho nên định không phải tâm sở Biến
hành.
- Có
thuyết cho rằng, khi nó không buộc tâm chuyên chú vào cảnh
cũng có định khởi, chỉ vì tướng nó vi ẩn khó thấy Nên
nó là tâm sở Biến hành). – Nên nói lời đúng thật rằng,
nên bảo định có thể khiến cho Tâm và Tâm sở hòa hợp
đồng hướng đến một cảnh, mà cho đó là Biến hành, cũng
không đúng lý; vì khiến Tâm, Tâm sở hòa hợp là tác dụng
của xúc. Còn nếu bảo định khiến tâm trong một khoảnh
khắc sát na không thay đổi cảnh duyên, nên nó nhiếp thuộc
vào Biến hành, cũng không đúng lý; vì tâm trong một khoảnh
khắc sát na tự nó không thay đổi đối với cảnh duyên (chứ
đâu phải do định mà tâm không thay đổi). – Còn nếu nói
do định mà tâm nắm bắt cảnh sở duyên, nên định nhiếp
về Biến hành, cũng không đúng lý; vì chính tác ý mới khiến
tâm bắt cảnh sở duyên, chứ đâu phải định Tâm sở.
Lại
có thuyết cho rằng thể của định chính là tâm, vì kinh nói
định học là tâm học; lại nói định có tánh khiến tâm
chuyên nhất nơi một cảnh.
Dẫn
kinh làm chứng như thế không đúng; vì nhờ định nhiếp tâm,
khiến tâm chuyên nhất mộtt cảnh, nên nói như vậy. Ðịnh
nhiếp vào năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám đạo chi, như
niệm, tuệ v.v... chứ không phải định chính là tâm.
Tuệ
là thế nào? Là tánh giản biệt lựa chọn đối với quán
sát, và có nghiệp dụng dứt nghi. Nghĩa là quán cảnh được,
mất, trung dung, nhờ tuệ suy tìm mà đi đến quyết định.
Vì trong khi đối với cảnh không phải quán sát, thì tâm ngu
muội không giản trạch suy tìm, cho nên tuệ không nhiếp vào
Biến hành.
- Có
thuyết cho rằng bấy giờ trong tâm ngu muội cũng có tuệ sanh
khởi, chỉ vì tướng nó vi ẩn tợ như một tí vật rất
nhỏ bỏ vào trong cái đồ rất lớn làm sao biết nó là có.
Vì trong luận Ðối Pháp nói: "Nó là đại địa pháp".
- Các
bộ luận Ðối Pháp qua lại nói mâu thuẫn nhau, làm sao các
Ông cứ chấp đó làm định lượng? Chỉ có xúc, tác ý thảy
năm thứ, kinh nói là Biến hành thôi; còn nói mười Ðại
địa pháp thì không phải kinh nói, chớ nên cố chấp.
Nhưng
dục, thắng giải v.v... không phải là xúc, tác ý v.v... nên
quyết không phải là Biến hành. Như tâm sở Tín, tâm Tham
v.v... không phải Biến hành.
- Có
ý kiến cho rằng năm thứ dục, thắng giải v.v... giúp đỡ
lẫn nhau, tùy khi một thứ khởi, là phải có bốn thứ kia.
- Có
ý kiến cho nó không nhất định như thế. Luận Du già nói:
"Năm Tâm sở Biệt cảnh này không có hai nhất thiết thời,
nhất thiết tâm của trong bốn thứ nhất thiết". (thêm nhất
thiết tánh, nhất thiết địa thành bốn).
- Lại
nói năm thứ Biệt cảnh này duyên theo bốn cảnh mà sanh. Vì
sở duyên hay năng duyên, không nhất dịnh cùng khởi, nên nói
năm thứ ấy có khi chỉ khởi lên một, nghĩa là đối cảnh
đáng vui, chỉ khởi tâm hy vọng (dục); hoặc đối với cảnh
quyết định, chỉ khởi tâm ấn giải (thắng giải); hoặc
đối với cảnh từng tập quen chỉ khởi tâm ghi nhớ (niệm);
hoặc đối với cảnh sở quán chỉ khởi tâm chuyên chú (định).
Nghiã là loài ngu muội vì muốn ngăn tâm tán loạn, tuy có
chuyên chú vào cảnh sở duyên nhưng không thể lựa chọn suy
tìm. Ðời đều biết hạng người đó có định mà không
có tuệ. Vì hạng kia ở địa vị gia hạnh có chút ít nghe,
suy nghĩ, cho nên nói ở địa vị đẳng trì (định) duyên
cảnh sở quán. Hoặc dựa đa phần định tuệ cùng có cho
nên nói ở địa vị đẳng trì duyên cảnh sở quán. Như cõi
trời Hỷ vong (trời Dục giới) chuyên chú vào một cảnh khởi
lên tâm tham, sân, đó là có định mà không có tuệ, các loại
như thế rất nhiều. Hoặc đối với cảnh sở quán chỉ khởi
tâm giản trạch; nghĩa là chỉ dong ruỗi tìm cầu, chứ không
chuyên chú (đó chỉ có tuệ không có định).
Hoặc
có khi khởi hai tâm Biệt cảnh một lần, đó là khi đối
với cảnh đáng ưa và cảnh quyết định, mà khởi lên tâm
dục và tâm thắng giải. Hoặc đối với cảnh đáng ưa và
cảnh từng tập quen, mà khởi lên tâm dục và niệm. Cứ như
thế cho đến đối với cảnh đáng ưa mà khởi lên tâm định
và tuệ. Hiệp lại có mười hai trường hợp khởi hai tâm
Biệt cảnh.
Hoặc
có khi khởi lên ba tâm, đó là đối với cảnh đáng ưa, quyết
định và tập quen, mà khởi lên tâm dục, thắng giải và
niệm. Như vậy cho đến đối với cảnh từng quán sát khởi
lên tâm niệm, định, tuệ. Hợp lại có mười ba trường
hợp khởi ba tâm Biệt cảnh.
Hoặc
có khi khởi lên bốn tâm, đó là đối với cảnh đáng ưa,
quyết định, tập quen và quán sát mà khởi lên tâm dục,
thắng giải, niệm định. Như vậy cho đến đối với cảnh
quyết định, tập quen và quán sát mà khởi lên bốn tâm dục,
thắng giải, niệm, định. Hợp lại có năm trường hợp một
lúc khởi lên bốn tâm.
- Hoặc
có khi khởi đủ năm tâm, đó là khi đối với cảnh đáng
ưa, quyết định, tập quen, quán sát mà khởi lên đủ năm
tâm sở Biệt cảnh.
Như
vậy đối với bốn trường hợp khởi lên năm tâm sở Biệt
cảnh tổng biệt hợp lại có ba mươi mốt trường hợp.
Hoặc
khi ở địa vị hữu tâm, cả năm tâm sở Biệt cảnh đều
không khởi. Như lúc không phải bốn cảnh, suất nhĩ ở tâm
và năm Biệt cảnh tương ưng với Tạng thức. Loại này không
phải một.
Ở
thức thứ bảy, thứ tám, tùy từng địa vị mà hoặc có
hoặc không năm tâm sở Biệt cảnh,
như
trước đã nói. Còn ý thức thứ sáu, ở các địa vị đều
có đủ, dù khi chuyển y hay chưa chuyển y đều không ngăn
ngại.
- Có
ý kiến cho rằng ở năm thức không có năm Biệt cảnh. Vì
năm thức duyên cảnh có trước mắt nên không có hy vọng
(dục). Vì nó không có khả năng thẩm xét quyết định,
nên không có ấn trì (thắng giải). Vì nó hằng duyên cảnh
mới nên không có tâm truy ức (niệm). vì tự tánh nó tán
động nên không chuyên chú (định). Vì nó không có khả
năng suy đạt, nên không có lựa chọn (tuệ).
- Có
ý kiến cho rằng năm thức đều có đủ năm Biệt cảnh. Tuy
không có hy vọng nhiều đối với cảnh nhưng có cảnh vui
vi tế yếu ớt. Tuy không có sự thẩm định mạnh nhưng có
cảnh ấn trì vi tế yếu ớt. Tuy không nhớ rõ cảnh đã từng
tập quen nhưng có cảnh ghi nhớ vi tế yếu ớt. Tuy không có
tác ý buộc niệm vào một cảnh nhưng có sự chuyên chú vi
tế yếu ớt. Vì ngăn đẳng dẫn mà nói tánh nó tán động,
chứ không phải ngăn đẳng trì. Cho nên được có định (Tam
ma hê đa dịch Ðẳng dẫn, Tam ma địa dịch Ðẳng trì. Ðịnh
có nhập, trú, xuất. Nhập định xuất định là Ðẳng dẫn,
trú định là Ðẳng trì). Tuy đối cảnh sở duyên không thể
suy đạt nhưng có sự chọn lựa vi tế yếu ớt. Do đó Thánh
giáo nói: "Có nhãn thông, nhĩ thông, đó là trí tuệ tương
ưng với nhãn thức, nhĩ thức, tỷ, thiệt, thân ba thứ chuẩn
theo đây, đều có tuệ" là không có lỗi.
Khi
ở địa vị chưa tự tại thì năm Biệt cảnh hoặc không
có, khi được tự tại, năm Biệt cảnh, nhất định phải
có. Vì ưa quán các cảnh nên Dục tâm sở không thiếu. Vì
ấn trì cảnh nên thắng giải thưòng không thiếu. vì nhớ
cảnh từng tập quen nên niệm không thiếu.
Lại
năm thức của Phật duyên suốt cả ba đời, vì đức Như
Lai không có tâm bất định, vì năm thức đều có trí Thành
sở tác sự.
Năm
Biệt cảnh này tương ưng với thọ nào?
- Có
ý kiến cho rằng tâm sở Dục có ba thọ tương ưng, trừ thọ
khổ và ưu, vì hai cảnh khổ và ưu không phải đáng ưa (dục).
Ngoài ra bốn tâm sở kia thông cả bốn thọ, trừ khổ thọ,
vì tánh thẩm định, ở năm thức không có.
- Có
ý kiến cho rằng cả năm tâm sở Biệt cảnh đều tương ưng
năm thọ. Luận nói: Ưu căn (ưu thọ), đối với vô thượng
pháp mà hâm mộ (Dục tâm sở) lo sầu cầu (ưu) làm sao mau
chứng được. Còn ở chỗ thuần thọ khổ (khổ thọ) thì
hy cầu (Dục tâm sở) được thoát khỏi. Ở Ý thức có khổ
thọ căn, thì như trước đã nói.
Luận
nói: "Khi tham ái thì có cả ưu và khổ tương ưng", tương
ưng với tham ái thì chắc chắn có dục. Khổ thọ căn đã
có tương ưng với ý thức, mà y thức tương ưng với thắng
giải, niệm, định, tuệ tâm sở, vậy nói khổ thọ cũng
tương ưng với thắng giải, niệm, định, tuệ thì có lỗi
gì?
- Lại
năm Biệt cảnh tương ưng với năm thức, vì năm thức cũng
có sự ấn trì, truy ức, chuyên chú, giản trạch cảnh một
cách vi tế, như trước đã nói.
Do
đó biết dục, thắng giải v.v... tương ưng với cả năm thọ.
Năm
thứ tâm sở Biệt cảnh này lại còn được phân biệt theo
các mặt ba tánh, ba cõi, ba học v.v... như lý nên suy nghĩ.
(Hết cuốn V của bản Hán)
Xem
tiếp: Trang 02