XII.
DỰA 15 Y XỨ LẬP 10 NHÂN
Bốn
duyên như vậy, vì dựa vào 15 chỗ nghĩa có sai khác mà lập
thành 10 nhân.
Dựa
15 chỗ lập 10 nhân như thế nào?
1.
Ngữ y xứ - Nghĩa là các ngôn ngữ được khởi lên lấy pháp,
danh và tưởng làm tự tánh (hay chỗ dựa). Chính dựa nơi
ngôn ngữ đó mà lập ra Tùy thuyết nhân. Nghĩa là dựa pháp,
danh, tưởng này, rồi tùy chỗ thấy, nghe, hay, biết mà nói
ra các nghĩa. Ðây chính là năng thuyết (ngôn ngữ) làm nhân
cho sở thuyết (các nghĩa).
Có
luận cho tùy thuyết nhân lấy danh, tưởng và kiến làm chỗ
dựa. Bởi do đúng như danh tự (danh) mà thủ lấy tướng đó
(tưởng), chấp trước tướng đó (kiến) rồi tùy theo đó
khởi lên ngôn thuyết. Nếu y theo Tập luận kia, thì hiển
thị danh, tưởng, kiến là nhân của ngôn ngữ; gọi là Ngữ
y xứ.
2.
Lãnh thọ y xứ - Nghĩa là xem xét sự đối đãi có tính năng
thọ, sở thọ. Chính y vào đó mà lập ra Quán đãi nhân. Nghĩa
là xem sự chờ đợi đối đãi cái này làm cho cái kia hoặc
sanh, hoặc trụ, hoặc thành, hoặc đắc như thế nào, cái
này là quán đãi nhân của cái kia.
3.
Tập khí y xứ - Nghĩa là các chủng tử trong nội thức và
chủng tử ngoài cảnh, khi ở giai đọan chưa thành thục. Chính
dựa chỗ đó mà lập ra Khiên dẫn nhân. Tức chính chủng
tử chưa thành thục, nó có thể kéo dẫn đến tự quả xa
về sau, nên gọi Khiên dẫn nhân.
4.
Hữu nhuận chủng tử y xứ - Nghĩa là chủng tử trong thân
hoặc ngoài thân khi ở giai đọan đã thành thục. Chính dựa
chỗ đó mà lập ra Sanh khởi nhân, nghĩa là chủng tử đã
thành thục nó có thể sanh ra tự quả gần của nó.
5.
Vô gián diệt y xứ - Tức Ðẳng vô gián duyên của Tâm, Tâm
sở.
6.
Cảnh giới y xứ - Tức Sở duyên duyên của Tâm, Tâm sở.
7.
Căn y xứ - Tức sáu căn là chỗ nương của Tâm, Tâm sở.
8.
Tác dụng y xứ - Tức là những tác dụng của nghiệp (như
việc đốn cây) và tác cụ (như búa có tác dụng đốn cây).
Trừ chủng tử, tất cả trợ duyên hiện tại, đều là Tác
dụng y xứ này.
9.
Sĩ dụng y xứ - Tức là những tác dụng của tác giả đối
với sự việc đã làm. Trừ chủng tử, tất cả trợ duyên
hiện tại đều là Sĩ dụng y xứ này.
10
Chơn thật kiến y xứ - Tức là vô lậu kiến. Trừ việc dẫn
sanh tự chủng, tất cả khả năng khác giúp dẫn đến
chứng đạt vô lậu pháp, đều thuộc y xứ này.
Dựa
chung cả sáu thứ y xứ từ thứ năm đến thứ mười trên
ấy, mà lập ra Nhiếp thọ thân. Nghĩa là nhiếp thọ năm thứ
thì thành hữu lậu, nhiếp thọ đủ cả sáu thứ thì thành
vô lậu pháp.
11.
Tùy thuận y xứ - Tức là các hành vô ký, thiện, nhiễm hoặc
là chủng tử, hoặc là hiện hành đều có khả năng
tùy thuận dẫn phát ra các pháp đồng loại thù thắng hơn
trước. Chính dựa vào chỗ đó mà lập ra Dẫn phát nhân.
Nghĩa là nó có thể dẫn khởi lên các thắng hạnh đồng
loại và dẫn đạt đến pháp vô vi.
12.
Sai biệt công năng y xứ - Tức là các pháp sắc tâm hữu vi
mỗi mỗi đối với tự quả của nó có thế lực có thể
khởi lên tự quả và sự chứng ngộ sai khác không lộn xộn.
Chính dựa vào chỗ đó mà lập ra Ðịnh dị nhân. Tức nó
khả năng sanh ra các quả ở tự cõi mình và có khả
năng chứng được quả vị của Thừa giáo mình.
14.
Chướng ngại y xứ - Tức là có thể chướng ngại đối với
sự sanh, trụ, thành, đắc. Chính dựa vào chỗ đó mà lập
ra Tương vi nhân. Nghĩa là nó có thể làm trái nghịch các
sự sanh, trụ, thành, đắc.
15.
Bất chướng ngại y xứ - Tức là không làm chướng ngại
đối với sự sanh, trụ, thành, đắc.Chính dựa vào chỗ đó
mà lập ra Bất tương vi nhân. Nghĩa là nó không làm trái nghịch
các sự sanh, trụ, thành, đắc.
Mười
nhân như thế, nhiếp vào 2 nhân là năng sanh và Phương tiện.
Như
Bồ tát địa trong luận Du già nói: "Chủng tử khiên dẫn,
chủng tử sanh khởi gọi chung là Năng sanh nhân. Các nhân còn
lại gọi chung là Phương tiện nhân". Còn ở đây thì nói
rằng các chủng tử nhân duyên thuộc trong sáu nhân là Khiên
dẫn, Sanh khởi, Dẫn phát, Ðịnh dị, Ðồng sự, Bất tương
vi. Khi còn ở giai đoạn chưa thành thục, thì không gọi là
chủng tử nhân duyên mà gọi là chủng tử Khiên dẫn; còn
khi nó ở giai đoạn đã thành thục thì gọi là chủng tử
Sanh khởi. Vì các chủng tử nhân duyên trong sáu nhân đều
nhiếp thuộc vào hai giai đoạn chưa thành thục và đã thành
thục này. Tuy có hiện hành sanh chủng tử, nhưng đó là Năng
sanh nhân chứ không phải là nhân duyên chủng tử. Cũng như
trong 4 nhân Khiên dẫn v.v... tuy có sanh ra chủng tử, nhưng
vì nó hay gián đoạn cho nên tóm lưọc mà không nói hiện
hành sanh chủng tử là nhân duyên.
Hoặc
trực tiếp sanh ra quả cũng lập tên là chủng tử. Như nói
hiện hành giống lúa sanh ra cây lúa cũng gọi là chủng tử.
Các nhân còn lại là, nhân thứ hai là Quán đãi; thứ năm
là Nhiếp thọ; thứ chín là Tương vi; cùng những pháp không
phải là nhân duyên của trong sáu nhân trước đó, tất cả
đều là chủng tử nhân duyên còn lại của trong hai giai đọạn
chưa nhuận sanh và đã nhuận thục, cho nên nói chung là Phương
tiện nhân. Không phải ở Bồ tát địa, hai thứ Khiên dẫn
và Sanh khởi chỉ toàn thuộc vào hai nhân Khiên dẫn và Sanh
khởi của trong mười nhân là nhân duyên, mà trong bốn nhân
Dẫn phát, Ðịnh dị, Ðồng sự, Bất tương vi cũng có chủng
tử nhân duyên. Không phải chỉ có tám thứ nói kia gọi là
những nhân còn lại, vì trong hai nhân là Khiên dẫn và Sanh
khởi kia cũng có một phần không phải là chủng tử nhân
duyên.
Ở
địa vị còn có Tầm có Tứ thì nói sanh khởi nhân là Năng
sanh nhân, ngoài ra là Phương tiện nhân. Văn này có ý nói
trong sáu nhân là Khiên dẫn v.v... hoặc hiện hành hoặc chủng
tử là nhân duyên, thì chúng đều được gọi là Sanh khởi
nhân, vì có thể trực tiếp sanh ra quả cùng loại với mình.
Các nhân khác còn lại đều nhiếp về Phương tiện nhân,
chứ không phải Sanh khởi nhân ở Tầm, Tứ địa này chỉ
thuộc và Sanh khởi nhân trong mười nhân kia. Vì trong năm nhân
còn lại là Khiên dẫn, Dẫn phát v.v... cũng có tánh nhân duyên.
Không phải trừ Sanh khởi nhân, còn chín nhân kia mà gọi là
các nhân khác còn lại, vì trong Sanh khởi nhân vẫn có phần
không phải là nhân duyên.
Hoặc
theo Bồ tát địa trong luận Du già đã nói: "Chủng tử Khiên
dẫn và Sanh khởi là Khiên dẫn nhân và Sanh khởi nhân trong
mười nhân kia", còn tám nhân kia của trong mười nhân gọi
là nhân còn lại. Tuy bên trong hai nhân Khiên dẫn và Sanh khởi
có phần không phải Năng sanh nhân, nhưng vì nó có chủng tử
nhân duyên rõ rệt hơn cả cho nên nói riêng nó là Năng sanh
nhân. Và tuy trong các nhân khác có phần không phải là Phương
tiện nhân nhưng vì nó có sức tăng thượng nhiều và rõ rệt
hơn cả cho nên nói riêng nó là Phương tiện nhân.
Ở
trong địa vị có Tầm, có Tứ thì nói Sanh khởi nhân là Năng
sanh nhân, các nhân khác còn lại thì gọi là Phương tiện
nhân. Sanh khởi chính là Sanh khởi nhân kia, các nhân khác tức
là chín nhân còn lại kia.
Trong
Sanh khởi nhân có phần không phải chủng tử nhân duyên, nhưng
vì nó đối với quả được sanh là rất gần và rõ rệt
hơn cả, cho nên nói riêng nó là chủng tử nhân duyên.
Tuy
trong Khiên dẫn nhân có phần chủng tử nhân duyên, nhưng vì
nó đối với quả được sanh ra cách xa và ẩn kín hơn cả,
cho nên không nói nó là nhân duyên. Ngoài ra những nhân nhiếp
về Phương tiện nhân, chiếu theo trên đây mà biết.
XIII.
4 DUYÊN NHIẾP 10 VÀ 2 NHÂN
- Bốn
duyên vừa nói, dựa theo đâu mà thành lập, lại làm sao nhiếp
trọn mười nhân và hai nhân?
- Luận
nói: "Nhân duyên dựa nơi chủng tử mà lập. Dựa nơi tính
vô gián diệt mà lập Ðẳng vô gián duyên. Dựa nơi cảnh
giới mà lập Sở duyên duyên. Dựa nơi các điều còn lại
ngoài ba duyên kia mà lập Tăng thượng duyên".
Trong
đây chủng tử chính là chỉ cho chủng tử nhân duyên thuộc
vào sáu y xứ là tập khí, nhuận sanh chủng, tùy thuận, công
năng sai biệt, hòa hợp, và chướng ngại trong mười lăm xứ
nêu trên. Tuy hiện hành của bốn y xứ là tùy thuận, công
năng sai biệt, hòa hợp, bất chướng ngại, cũng có phần
nhân duyên, song vì nó hay gián đọan, cho nên lược đi mà
không nói đến. Hoặc hiện hành cũng có thể thân sanh ra tự
quả như giống lúa nếp bên ngoài, cũng gọi là chủng tử.
Hoặc
nói chủng tử chỉ thuộc y xứ thứ tư là nhuận sanh y xứ,
tùy tính cách thân, sở, ẩn, hiển của nó mà lấy hoặc bỏ,
như trước đã nói.
Nói
vô gián diệt y xứ và cảnh giới y xứ là, nên biết để
hiển thị chung y xứ của hai duyên, là Ðẳng vô gián duyên
và Sở duyên duyên. Không phải chỉ có hai y xứ vô gián diệt
và cảnh giới có hai duyên Ðẳng vô gián và Sở duyên duyên,
mà trong mười ba y xứ còn lại kia cũng có nghĩa của hai duyên
đó. Hoặc vô gián diệt và cảnh giới là chỉ y xứ thứ
năm, sáu, các y xứ khác tuy có mà vì ẩn kín cho nên lược
mà không nói.
-
Luận nói: "Nhân duyên nhiếp về năng sanh nhân. Tăng thượng
duyên nhiếp về phương tiện nhân. Ðẳng vô gián duyên và
Sở duyên duyên thì nhiếp về nhiếp thọ nhân". Tuy trong phương
tiên nhân có đủ cả ba duyên Ðẳng vô gián, Sở duyên duyên,
Tăng thượng duyên, nhưng Tăng thượng duyên nhiều hơn nên
nói nhấn mạnh.
Chín
nhân khác cũng có hai duyên Ðẳng vô gián và Sở duyên duyên,
nhưng nó nhiếp vào nhiếp thọ nhân rõ rệt hơn nên nói nhấn
mạnh. Còn các thứ nhiếp vào năng sanh nhân tới lui, như trước
đã nói.
XIV.
NĂM QUẢ
- Ðã
nói nhân duyên, chắc phải có quả. Vậy có bao nhiêu quả?
Dựa y xứ nào mà có được?
- Quả
có năm thứ:
1.
Quả Dị thục – Ðó là báo thân Dị thục và Dị thục sanh
vô ký của loài hữu tình, do pháp thiện hữu lậu và bất
thiện chiêu cảm.
2.
Quả Ðẳng lưu – Ðó là hậu quả đồng loại do chủng tử
thiện ác vô ký phát sanh, hoặc hậu quả chuyển theo tương
tợ nghiệp trước.
3.
Quả Ly hệ – Ðó là pháp thiện vô vi, do vô lậu đạo (trí
vô lậu) đoạn trừ hai chướng là phiền não và sở tri mà
chứng được.
4.
Quả Sĩ dụng – Ðó là kết quả sự nghiệp do các tác giả
mượn các tác cụ mà làm thành.
5.
Quả Tăng thượng – Ðó là những quả đạt được ngoài
bốn loại kể trên.
Luận
Du già v.v... nói: "Do tập khí y xứ mà đắc quả Dị thục.
Do tùy thuận y xứ mà đắc quả Ðẳng lưu. Do chơn kiến đạo
y xứ mà đắc quả Ly hệ. Do sĩ dụng y xứ mà đắc quả
Sĩ dụng. Do các y xứ khác còn lại mà đắc quả tăng thượng".
Nói
tập khí y xứ là chỉ hết thảy công năng của các y xứ
chiêu cảm quả Dị thục. Nói tùy thuận y xứ là chỉ rõ
hết thảy công năng của các y xứ dẫn đến quả Ðẳng lưu.
Nói chơn kiến đạo y xứ là chỉ rõ hết thảy công năng
của các y xứ làm cho chứng được quả Ly hệ. Nói sĩ dụng
y xứ là chỉ rõ hết thảy công năng của các y xứ làm chiêu
cảm được quả Sĩ dụng. Nói các y xứ khác còn lại là
chỉ rõ hết thảy công năng của các y xứ đưa đến quả
Tăng thượng. Không như vậy, thì sẽ có thể là quá rộng
hoặc quá hẹp.
Hoặc
nói tập khí, là chỉ thuộc tập khí y xứ thứ ba. Tuy đắc
Dị thục nhân, thì các y xứ khác cũng có, nhưng tập khí
y xứ này cũng có một phần không phải Dị thục nhân. Nhưng
Dị thục nhân cách Dị thục quả rất xa, tập khí này cũng
vậy, cho nên nói riêng.
Nói
tùy thuận là chỉ thuộc tùy thuận y xứ thứ mười một.
Tuy đắc quả đẳng lưu, thì các y xứ khác cũng đắc, nhưng
tùy thuận y xứ cũng có một phần không đắc không phải
quả đẳng lưu. Nhưng đẳng lưu nhân chiêu cảm thiện ác
mạnh, hành tướng rõ rệt, tùy thuận y xứ cũng vậy, cho
nên riêng nói.
Nói
chơn kiến đạo là chỉ rõ chơn kiến đạo y xứ thứ mười.
Tuy chứng được quả Ly hệ, thì các y xứ khác cũng chứng
được, mà chơn kiến đạo y xứ này cũng đắc quả Phi ly
hệ. Nhưng tướng chơn kiến đạo y xứ chứng quả Ly hệ
rõ rệt, cho nên nói riêng chơn kiến đạo y xứ đắc quả
Ly hệ.
Nói
sĩ dụng xứ là chỉ rõ sĩ dụng y xứ thứ chín. Tuy đắc
quả Sĩ dụng, thì các y xứ khác cũng đắc, nhưng sĩ dụng
y xứ cũng có thể đắc quả Tăng thượng v.v... Nhưng vì nó
có danh và tướng rõ rệt, cho nên riêng nói sĩ dụng y xứ
đắc quả Sĩ dụng.
Nói
các y xứ khác còn lại là chỉ thuộc mười y xứ khác. Tuy
mười một y xứ này cũng đắc các quả khác và đắc quả
Tăng thượng, thì các y xứ khác cũng có thể đắc, nhưng
mười một y xứ này phần nhiều là đắc Tăng thượng. Còn
bốn y xứ kia thì đã rõ là đắc bốn quả kia rồi. Cho nên
riêng nói mười một y xứ này đắc quả Tăng thượng.
- Như
vậy chính là nói trong năm quả này, nếu là quả Dị thục
thì do năm nhân là Khiên dẫn, Sanh khởi, Ðịnh dị, Ðồng
sự, Bất tương vi và một duyên là Tăng thượng duyên mà
đắc. Nếu là quả Ðẳng lưu thì do bảy nhân là Sanh khởi,
Nhiếp thọ, Dẫn phát, Ðịnh dị, Ðồng sự, Bất tương vi
và hai duyên là Nhân duyên và Tăng thượng duyên mà đắc.
Nếu là quả Ly hệ thì do năm nhân là Nhiếp thọ, Dẫn phát,
Ðịnh dị, Ðồng sự, Bất tương vi và một duyên là Tăng
thượng duyên mà đắc. Nếu là quả Sĩ dụng thì có ý kiến
cho rằng do bốn nhân là Quán đãi, Nhiếp thọ, Ðồng sự,
Bất tương vi và một duyên là Tăng thượng duyên mà đắc.
Có ý kiến cho rằng do bảy nhân là Khiên dẫn, Sanh khởi,
Nhiếp thọ, Dẫn phát, Ðịnh dị, Ðồng sự, Bất tương vi
và ba duyên là Nhân duyên, Ðẳng vô gián, Tăng thượng duyên
mà đắc. Nếu là quả Tăng thượng thì cả mười nhân và
bốn duyên đều có thể đắc.
XV.
CHÁNH LUẬN VỀ DUYÊN SANH PHÂN BIỆT
Những
điều phụ đã bàn xong, bây giờ hãy biện chánh luận: Chủng
tử trong bản thức đủ làm ba duyên sanh tám thức hiện hành
phân biệt, trừ Ðẳng vô gián duyên. Nghĩa là chủng tử thân
sanh tám thức hiện hành, đó là Nhân duyên, chủng tử đó
lại là Sở duyên duyên cho Kiến phần năng duyên của tám
thức, nếu lại chủng tử thức này có sức trợ giúp hoặc
không làm chướng ngại cho tám thức kia hiện hành, thì đó
là Tăng thượng duyên. Chủng tử thanh tịnh sanh thức hiện
hành thanh tịnh cũng giống thế (chủng sanh hiện).
Tám
thức hiện hành phân biệt triển chuyển đối với nhau, cũng
đủ làm ba duyên cho nhau, trừ Nhân duyên.
Thức
của loài hữu tình triển chuyển đối với nhau, thì đủ
làm hai duyên là Tăng thượng duyên và Sở duyên duyên, trừ
Nhân duyên và Ðẳng vô gián duyên.
- Nhóm
tám thức của trong mỗi hữu tình triển chuyển đối với
nhau, nhất định có Tăng thượng duyên, chắc chắn không có
Nhân duyên, Ðẳng vô gián duyên; còn Sở duyên duyên thì hoặc
có hoặc không. Thức thứ tám đối với bảy thức trước
thì có Sở duyên duyên, vì Tướng phần của thức thứ tám
làm bản chất sở duyên cho bảy thức trước duyên. Ngược
lại bảy thức trước không làm Sở duyên duyên cho thức thứ
tám (thức thứ tám không duyên bảy thức). Thức thứ bảy
đối sáu thức trước, trong đó nó không là Sở duyên duyên
cho năm thức trước, nhưng làm Sở duyên duyên cho thức thứ
sáu. Ngược lại sáu thức trước không làm Sở duyên duyên
cho thức thứ bảy. Thức thứ sáu không làm Sở duyên duyên
cho năm thức trước. Ngược lại năm thức trước làm Sở
duyên duyên cho thức thứ sáu, vì năm thức trưóc chỉ dựa
vào Tướng phần của thức thứ tám mà duyên.
- Các
thức tự loại niệm trước đối với niệm sau: Nếu là thức
thứ sáu trước đối với sau thì đủ ba duyên, trừ nhân
duyên. Còn bảy thức kia tự loại niệm trước đối với
sau, thì có Ðẳng vô gián và Tăng thượng duyên, vì chúng
chỉ duyên hiện cảnh. Nếu chấp nhận Kiến phần năm thức
niệm sau duyên Tướng phần năm thức niệm trước, thời năm
thức và thức thứ bảy niệm trước đối niệm sau cũng có
ba duyên, trừ Nhân duyên. Bảy chuyển thức đối với thức
thứ tám cũng có nghĩa là Sở duyên duyên, vì hiện hành bảy
chuyển thức huân thành chủng tử kiến, tướng nơi thức
thứ tám.
- Các
Tâm, Tâm sở đồng một nhóm, mà khác thể (như Tâm, Tâm sở
nhãn thức v.v... đồng một nhóm nhưng Tâm vương và mỗi Tâm
sở có thức dụng riêng) triển chuyển đối với nhau chỉ
có là Tăng thượng duyên, vì Tâm, Tâm sở đồng nhóm thì
đồng duyên một cảnh, nhưng nó không duyên được Kiến phần
của nhau; hoặc y cứ Kiến phần mà nói thì Kiến phần không
duyên kiến phần của nhau; nếu y cứ Tướng phần mà nói
thì Kiến phần của tâm này duyên được Tướng phần của
tâm kia, vì các Tướng phần của các tâm đắp đổi làm bản
chất cho nhau. Như chủng tử trong bản thức làm bản chất
cho tướng phần của tâm sở Xúc v.v... Nếu không vậy, khi
sanh Vô sắc giới, tâm sở Biến hành xúc v.v... Ở cõi Vô
sắc kia không có cảnh sở duyên. Giả sử cho ở Vô sắc giới
có biến ra định quả sắc, nhưng tâm sở Xúc v.v... cũng nhất
định duyên chủng tử rồi biến ra tướng phần chủng tử
để duyên, chứ không thể nói cảnh Tướng phần của Tâm
sở lại không đồng một bản chất cảnh với Tâm vương.
- Tướng
phần đồng một thể tự chứng phần với Kiến phần, thì
nó làm Tăng thượng duyên và Sở duyên cho Kiến phần; còn
Kiến phần đối với Tướng phần chỉ có là Tăng thượng
duyên. Kiến phần đối với tự chứng phần có hai duyên là
Tăng thượng duyên và Sở duyên duyên. Tự chứng phần và
Kiến phần trông nhau cũng vậy. Tự chứng và Chứng tự đối
với nhau có hai duyên là Tăng thượng và Sở duyên. Trong đây
không dựa theo Tướng phần chủng tử mà nói, chỉ nói Tướng
pháp hiện hành làm duyên cho nhau.
Nhóm
tám thức thanh tịnh giữa tự và tha đối với nhau đều làm
Sở duyên duyên, vì thức thanh tịnh có thể duyên cùng khắp.
Chỉ trừ Kiến phần không phải là Sở duyên duyên của Tướng
phần, vì Tướng phần đúng lý không có tác dụng duyên cảnh.
Ðã
nói tám thức hiện hành phân biệt duyên nơi chủng tử và
hiện hành, mới được sanh khởi, thì đúng lý chủng tử
cũng duyên nơi hiện hành và chủng tử mới sanh khởi. Vậy
hiện hành đối với chủng tử làm mấy duyên? Chủng tử
đối với chủng tử làm mấy duyên?
- Chủng
tử chắc chắn không do Sở duyên duyên và Ðẳng vô gián duyên
mà sanh khởi, vì hai duyên này chỉ đối với hiện hành Tâm,
Tâm sở mà lập. Nếu hiện hành đối với chính chủng tử
của mình, thì có Nhân duyên và Tăng thượng duyên. Nếu đối
với không phải chủng tử của chính mình thì chỉ có Tăng
thượng duyên. Chủng tử đối với chủng tử chính của mình,
cũng đủ Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn chủng tử
đối với không phải chủng tử của chính mình, thì chỉ
Tăng thượng duyên.
- Dựa
vào nội thức triển chuyển làm duyên cho nhân sanh khởi đó,
mà giáo lý phân biệt nhân quả được thành. Nếu chấp phải
có ngoại duyên thì cũng vô dụng, huống gì chấp có ngoại
duyên là trái với giáo lý, sao cố chấp làm gì!
- Trong
bài tụng tuy nói chữ "phân biệt" là tổng chỉ cho Tâm, Tâm
sở trong ba cõi, nhưng tùy theo nghĩa trội hơn mà trong Thánh
giáo có nhiều mặt hiển bày, hoặc nói hai, nói ba, nói năm
(chơn thức, hiện thức là hai; nghiệp thức, chuyển thức,
hiện thức là ba, hoặc tâm, ý, thức là ba, hoặc thêm trí
thức là bốn, hoặc thêm tương tục thức là năm). Như trong
các luận phân biệt rộng.