CHÚ
THÍCH
(tiếp
theo)
(14).
Ðoạn này phân biệt về pháp chấp. Pháp chấp có hai là Câu
sanh pháp chấp, Phân biệt pháp chấp. Câu sanh lại có hai là
thường tương tục, và có gián đoạn. Phân biệt cũng có
hai là duyên tà giáo nói về uẩn xứ, giới mà chấp và duyên
tà giáo nói về tự tánh v.v... mà chấp. Như trong luận đã
giảng rõ.
Từ
bắt đầu luận văn đến đây đã phân tích chỉ rõ ngã và
pháp đều không thật có; ngã và pháp chỉ là giả nói. Ðến
đây có người nghi hoặc hỏi: - Nếu không có thật ngã thật
pháp ngoài thức thì giả ngã, giả pháp cũng không? Vì giả
phải dựa nơi việc thật, việc tương tợ và đức tính chung,
mới thành giả. Như có lửa thiệt, có người tợ như lửa,
có đức tánh chung giữa những việc đó như sắc đỏ mãnh
liệt. Lửa thiệt có sắc đỏ mãnh liệt, người tợ như
lủa có sắc đỏ mãnh liệt, mới nói người kia giống như
lửa. Cũng vậy, nếu ngã pháp không thật có thì dựa vào
đâu mà giả nói, và không giả nói, vậy tợ ngã tợ pháp
cũng không thành, làm sao nói tâm chuyển hiện ra tợ ngã tợ
pháp?
Luận
chủ giải thích: Dựa vào đức tánh cùng loại mà giả nói
thì không đúng; vì đức tánh sắc đỏ mãnh liệt nơi người
không cùng loài với đức tánh sắc đỏ mãnh liệt có khả
năng đốt cháy nơi lửa. Nếu người có sắc đỏ mãnh liệt
nhưng không có khả năng đốt cháy giống như lửa mà vẫn
nói người như lửa, thì nước có sắc đỏ mãnh liệt mà
không có khả năng đốt cháy như lửa, vậy có nói như lửa
không? Không được. Do đó giả nói người như lửa không
cần dựa nơi đức tánh cùng loại; và giả nói ngã pháp cũng
vậy.
Còn
nương nơi sự thật mới giả nói được, cũng không đúng;
vì sự thật tức chính tự thân sự vật. Trí phân biệt giả
dối và ngôn thuyên đâu có duyên được tự thân sự vật;
thế mà vẫn nói vật này vật kia, đó là giả nói, mà không
cần dựa nơi sự thật.
Vậy
tướng ngã pháp đều do thức biến. Phàm phu không hiểu rõ
mới chấp cho là thật có. Vì đề khiến trừ lối chấp đó
mà nói chữ "giả", chữ "tương tợ". Khi đã dứt hết vọng
chấp rồi thì giả tợ cũng vô nghĩa.
- Tất
cả các đoạn trên là nói về ngã pháp sở biến, thuộc Biến
kế sở chấp tánh. Từ đây trở đi nói về thức năng biến,
thuộc Y tha khởi tánh. Ðến bài tụng hai mươi ba, hai mươi
bốn, hai mươi lăm, nói về ba vô tánh, là thuộc về Viên
thành thật tánh. Từ bài tụng hai mươi sáu cho đến bài tụng
ba mươi là nói về quả vị tu chứng.
(15).
Ðoạn này nói về thức năng biến lược có ba thứ là thức
Dị thục , thức Tư lương, và thức Liễu biệt cảnh tức
sáu thức trước.
Năng
biến có hai:
a.
Nhân năng biến, tức nhân biến hiện. Tám thức là pháp Y
tha khởi. Nó không tự có, mà dựa vào đẳng lưu tập khí
và Dị thục tập khí mà có. (Hai tập khí này có giải rõ
trong bài tụng thứ mười chín ở đoạn sau). Như vậy tám
thức là quả, mà hai tập khí là nhân. Do hai tập khí biến
hiện ra tám thức, nên gọi là Nhân năng biến.
b.Quả
năng biến, tức quả biến hiện. Tám thức là quả. Chính
từ tám thức thể tự chứng phần biến ra kiến phần tướng
phần, rồi dựa vào kiến tướng đó phân biệt vọng chấp
cho là ngã là pháp, tức hữu tình vô tình. Như vậy tám thức
là quả mà biến hiện ra các pháp, nên gọi là Quả năng biến.
Quả
năng biến là tám thức chia làm ba thứ gọi là ba thức năng
biến.
(16).
Thức năng biến thứ nhất được định nghĩa trong mười
câu tụng từ câu "Ðầu, A lại da đến A la hán bỏ hết"
gồm có mười hai mục:
a.
Tự tướng (tức đầu A lại da thức).
b.
Quả tướng (tức Dị thục thức).
c.
Nhân tướng (tức Nhất thiết chủng thức).
d.
Không thể biết.
e.
Sở duyên (tức chấp thọ và xứ).
f.
Hành tướng (tức Liễu).
g.
Tương ưng (tức thường cùng tâm sở Xúc v.v... ).
h.
Thọ (tức xả thọ).
i.
Ba tánh (tức tánh vô phú vô ký).
k.
Tâm sở lệ Tâm vương (tức Tâm sở cũng như vậy).
l.
Nhân quả pháp dụ (tức hằng chuyển như dòng nước).
m.
Phục đoạn vị (tức A la hán vị xả bỏ).
Thức
là pháp Y tha khởi, là duyên sanh, cho nên nó có nhiều mặt
liên hệ, nhiều tính cách sai khác như thế. Dưới đây lần
lượt giải thích các mục ấy.
Thức
năng biến thứ nhất có tên là A lại da, dịch Tàng thức,
gồm đủ ba nghĩa là năng tàng, sở tàng, ngã ái chấp tàng.
Thức thứ tám có khả năng chứa nhóm và duy trì các chủng
tử thiện, ác, hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu, nên nói
là năng tàng. Lại nó là chỗ bị các chủng tử dồn chứa
vào nên nói là sở tàng. Lại nó là chỗ mà loài hữu tình
ưa chấp làm tự ngã, nên gọi là ngã ái chấp tàng.
Tàng
thức là tự tướng của thức thứ tám, gồm đủ cả tính
nhân quả, thành tự tướng. Tàng thức ví dụ như một đống
dồ vật, chứa đủ mọi thứ tốt có, xấu có. Ðồ vật
lại cũng từ đống đồ vật mà ra. Và đồ vật gì cũng
chứa vào đống đồ vật. Không có đồ vật thì không có
đống đồ vật; không có đống đồ vật thì không có đồ
vật. Ðồ vật và và đống đồ vật làm nhân duyên nhân
quả cho nhau mà hiện hữu. Ðồ vật có thay đổi chứ đống
đồ vật khi nào cũng vẫn có, chẳng qua khi chứa đồ vật
nhơ thì gọi là đống đồ nhơ, khi chứa đồ vật sạch thì
gọi là đống đồ vật sạch thế thôi. Tàng thức cũng vậy,
không có chủng tử các pháp thì không có Tàng thức; không
có Tàng thức thì không có chủng tử các pháp. Tàng thức
và chủng tử các pháp làm nhân duyên nhân quả cho nhau. Ðây
là nghĩa của câu "Tàng thức và các pháp tạp nhiễm làm duyên
cho nhau".
Thức
năng biến thứ nhất lại có tên là Dị thục. Có ba nghĩa.
Một là biến dị nhi thục, tức từ nhân tới quả trước
sau biến đổi hình thái mà thành thục, nếu cứ ở nguyên
trạng không thay đổi thì không thành thục được. Hai là
Dị thời nhi thục, tức nhân trước quả sau, khác với thời
gian mới thành thục. Ba là Dị loại nhi thục, tức khác loại
mà thành thục, loại tức là tánh. Trong nhân có thiện tánh
ác tánh mà trong quả thì chỉ là tánh vô ký. Nhân thiện ác
mà quả vô ký, khác tánh loại mà thành thục. Ví dụ đất
nước tạo thành cái bình. Ðất là đất, nước là nước,
khác nhau nhưng khi tạo thành cái bình, cái bình là vô ký,
không phải đất không phải nước. Chúng sanh cũng vậy khi
tạo nghiệp nhân có thiện ác nhưng khi hợp cả nghiệp nhân
thiện ác ấy tạo thành một báo thân ở cõi người hoặc
cõi A tu la v.v... thì chính báo thân ấy là vô ký, không phải
thiện ác. Chính tổng báo thân của mỗi loại đó gọi là
chơn dị thục, do dẫn nghiệp đưa đến. Từ tổng báo thân
chơn dị thục ấy bao gồm các thứ sai khác, hiện hành ra
có khổ có vui, có tốt có xấu, lành, dữ v.v... khác nhau gọi
là Dị thục sanh, do mãn nghiệp chiêu cảm đến. Thức Dị
thục là quả tướng của thức năng biến thứ nhất. Nếu
là nhân tướng của thức năng biến thứ nhất thì gọi là
Nhất thiết chủng.
(17).
Ðoạn này nói về Nhất thiết chủng thức, tức nói về nhân
tướng của thức năng biến thứ nhất.
Chủng
tử là gì? Là những công năng, năng lực. quán tính, là hạt
giống chứa ở trong Tạng thức, hễ gặp duyên thì khởi dậy,
xuất hiện, gọi là hiện hành các tướng pháp nọ kia. Chủng
tử là nhân, hay nhân pháp, không hiện hành ra tướng pháp
nọ pháp kia là quả, hay quả pháp. Nhân pháp nào hiện ra quả
pháp ấy không lộn xộn; ví như hạt giống mè sanh ra cây
mè, giống đậu sinh ra cây đậu, chủng tử thiện sanh ra thiện,
chủng tử ác sinh ra ác, chủng tử trí sanh ra trí, chủng tử
ngu sanh ra ngu v.v... bất cứ chủng tử gì cũng đều có hai
loại:
Một
là câu sanh, tức loại có sẵn trong Tạng thức từ bao giờ.
Hễ có thân sanh ra là có nó cùng sanh. Do đó mà trẻ sơ sanh
dù chưa biết gì hết nhưng không phải là nó không có tham,
sân, si, hoặc không có những tính tốt. Dựa vào đó mà nói
người mới sanh tánh vốn lành hay vốn ác, hay vốn không lành
không ác.
Hai
là loại phân biệt. Loại chủng tử này khi sanh ra chưa có,
về sau tiếp xúc với hoàn cảnh tốt hoặc xấu, hoặc khôn
hoặc dại, phân biệt theo hoàn cảnh mà lâu ngày thành thói
quen, tức là chủng tử.
Dù
chủng tử câu sanh hay phân biệt cũng đều có hai tánh là
hữu lậu gồm những chủng tử ác, thiện và hữu phú vô
ký, và vô lậu tức những chủng tử thiện hoàn toàn trong
sạch phát xuất từ tính vô ngã. Còn chủng tử ác, thiện,
hữu phú vô ký là vì phát xuất từ tính chấp ngã nên gọi
là hữu lậu.
Chủng
tử còn có tên là Tùy miên, vì nó thường theo dõi chúng sanh,
ngầm ngủ yên trong Tạng thức, nhìn bên ngoài tưởng không
có, nhưng gặp duyên thì nó nổi dậy.
Chủng
tử gọi là tập khí, vì nó là khí phần, là hơi hám do tập
nhiễm mà thành.
Chủng
tử cũng gọi là thô trọng, vì tính nó thô kịch trầm trọng,
và không kham nổi một trách nhậm gì (Tánh không kham nhậm).
Khi
gọi là chủng tử là Tùy miên, Tập khí, Thô trọng, Tánh
không kham nhậm, đều là chỉ cho chủng tử hữu lậu, chứ
không phải nói chủng tử vô lậu.
Chủng
tử dù hữu lậu, vô lậu, chúng đều nương thức Dị thục,
nhưng khi chủng tử chưa hiện hành, còn tiềm ẩn trong thức
Dị thục thì nó đồng tánh vô ký với thức Dị thục; trái
lại chủng tử vô lậu dù nương thức Dị thục nhưng trước
sau vẫn là thiện.
- Tất
cả chủng tử đều vốn có hay mới sanh? Có ba loại ý kiến.
Có ý kiến cho chủng tử chỉ là vốn có sẵn. Có loại ý
kiến cho chủng tử chỉ mới huân tập sanh. Có loại ý kiến
cho chủng tử đều có đủ cả thứ vốn có, và thứ mới
sanh. Hoặc vốn có nhưng cũng phải do huân tập mới lớn mạnh
phát sanh. Ý kiến thứ ba đúng nhất.
- Có
người dẫn kinh nói: "Tâm tánh vốn tịnh, do khác trần phiền
não làm ô nhiễm" để chủ trưong chủng tử vô lậu là vốn
có chứ không phải mới sanh - Nói thế cũng không đúng, vì
người không có chủng tử vô lậu vốn có thì mãi mãi họ
không thành bậc Thánh hay sao? Và dù có chủng tử vô lậu
vốn có, cũng phải nhờ nghe pháp, suy nghĩ, tu tập, cứ huân
tập lâu ngày làm cho chủng tử vô lậu lớn mạnh mới sanh
được. Nếu không thì nó không thể sanh.
Có
ý kiến lại nói do hai chướng là phiền não chướng và sở
tri chướng có hay không mà nói chủng tử vô lậu có hay không.
Nói thế cũng không đúng, vì nếu không có chủng tử vô lậu
thì lấy gì để dứt hai chướng ấy.
Nhưng
phải có đủ sáu nghĩa (tính cách) này mới thành chủng tử
được, đó là sát na diệt, quả câu hữu, hằng tùy chuyển,
tánh quyết định, đãi chúng duyên, dẫn tự quả; và phải
do huân tập mới thành chủng tử. Huân tập nghĩa là xông
ướp, tập nhiễm; và phải có hai bên mới thành huân tập.
Tức là một bên bị huân, chịu huân, và một bên năng huân,
có khả năng xông ướp; như một bên trà, một bên hoa. Ướp
hoa vào trà, mùi thơm của hoa xông qua trà làm cho trà trở
nên thơm. Thế gọi là huân tập. Ðây cũng vậy, một bên
Tạng thức là sở huân, bị huân, một bên là bảy thức trước
là năng huân, có khả năng huân. Bên nào cũng phải có đủ
bốn tánh cách (nghĩa) mới thành sở huân hay năng huân.
Bốn
tính cách của sở huân là tánh kiên trụ, tánh vô ký, tánh
khả huân, tánh cùng hòa hợp với năng huân.
Bốn
tính cách của năng huân là tánh sanh diệt, có tác dụng mạnh,
có thêm bớt, cùng sở huân hòa hợp chuyển biến.
Trong
tám thức, chỉ có Tạng thức có đủ bốn nghĩa sở huân,
nên luôn luôn chỉ Tạng thức là sở huân, chứ bảy chuyển
thức không được, cũng như Tạng thức không thể là năng
huân.
Ngược
lại chỉ có bảy chuyển thức trước là năng huân, chứ Tạng
thức không thể là năng huân được; cũng như không bao giờ
bảy chuyển thức là sở huân.
(18).
Ðoạn này nói về hành tướng và sở duyên của thức năng
biến thứ nhất. Hành tướng là tướng hành động của nó.
Tướng hành động của thức năng biến thứ nhất là gì?
Là Liễu biệt, nhận biết, tức là kiến phần.
Kiến
phần có năm loại:
a.
Chứng kiến gọi là kiến - Tức căn bản trí chứng ngộ chơn
như.
b.
Chiếu kiến gọi là kiến - Tức năm căn và tâm chiếu cảnh.
c.
Năng duyên gọi là kiến - Tức là kiến phần, tự chứng phần,
chứng tự chứng phần.
d.
Niệm giải gọi là kiến - Tức nhớ nghĩ giải liễu các nghĩa
lý.
đ.
Suy đạt gọi là kiến - Tức suy luận so sánh.
Trong
đó, trừ sắc căn, tự chứng phần, chứng tự chứng phần,
còn lại đều thuộc kiến phần.
- Sở
duyên của thức năng biến thứ nhất là gì? Là xứ, chủng
tử, và căn thân. Trong đó chủng tử và căn thân hai thứ
được thức thứ tám lấy làm sở duyên, và chấp thủ làm
tự thể, duy trì không mất, đồng an nguy với nó.
Hành
tướng liễu biệt là năng duyên, là kiến phần của thức;
còn sở duyên là tướng phần của thức.
Tướng
phần gồm có năm:
a.
Thật tướng gọi là tướng - Tức là tính chơn như, thật
tính của mọi pháp.
b.
Cảnh tướng hay thể tướng gọi là tướng - Tức là tướng
tự thân của mọi pháp đối hiện trước căn và thức.
c.
Tướng trạng gọi là tướng - Tức là tướng trạng của
các pháp hữu vi, dài, ngắn, vuông, tròn, lớn, nhỏ, đỏ,
vàng v.v...
d.
Tướng mạo gọi là tướng - Tức là dáng mạo đi, đứng,
nằm, ngồi, co, duỗi.
đ.
Nghĩa tướng gọi là tướng - Tức là đức tính, thuộc tính
của mọi pháp xấu, tốt, thường, vô thường, vô ngã v.v...
Ví
dụ như mặt trăng. Thật tướng của mặt trăng là thế nào?
Không thể biết được. Thật tướng của mặt trăng là vô
tướng chơn như, vô sở đắc, chỉ biết bằng trí giác ngộ
chứ không thể biết bằng thức. Cảnh tướng hay thể tướng
của mặt trăng là thế nào? Chính tự thân mặt trăng hiện
trước mắt ta đó. Tướng trạng của mặt trăng là thế nào?
Là tướng tròn, méo, sáng, mờ đó. tướng mạo của mặt
trăng là thế nào? Chính sự di chuyển cao thấp của nó đó.
Nghĩa tướng của mặt trăng là thế nào? là đẹp, xấu, thường,
vô thường v.v...
Tướng
phần có tướng phần riêng. Như chủng tử và căn thân do
nghiệp riêng (biệt nghiệp) của mỗi hữu tình tự biến ra.
Và tướng phần chung (cộng tướng) như khí thế giới (xứ)
do nghiệp chung (cộng nghiệp) của các hữu tình chung biến
ra.
Nhưng
biến có hai cách là phân biệt biến và nhân duyên biến. Phân
biệt biến là do vọng tình điên đảo phân biệt biến ra.
Như khi vui thấy cảnh vui, khi buồn thấy cảnh buồn, khi ưa
khen đẹp, khi ghét chê xấu v.v... Hoặc như thức thứ bảy
duyên thức thứ tám, chấp làm ngã và như năm tâm sở Biến
hành của thức thứ tám biến ra cảnh mà duyên; hoàn toàn
là ảo tưởng không có căn cứ. Nhân duyên biến là do vọng
tình dựa nơi tướng phần, kiến phần. Không phải ngã mà
cho là ngã; không phải pháp mà cho là pháp; không phải hữu
tình vô tình mà chấp hữu tình vô tình; không phải sắc tâm
mà chấp là sắc tâm. Cứ huân tập mãi các danh tướng đó
vào tạng thức, lâu ngày thành chủng tử, tức là thói quen
cố hữu lâu đời, nên khi gặp duyên thì hiện ra, nhìn ở
đâu cũng thấy cả ngã và pháp. Thế giới muôn hình vạn
trạng đều là những tướng ngã pháp theo cách nhìn đó, khó
mà thay đổi được.
- Tướng
phần là một trong bốn phần của thức. Ðối với thức Tâm
vương, Tâm sở, theo Luận sư An Huệ chủ trương chỉ có một
phần là phần Tự chứng; còn Luận sư Nan Ðà thì chủ trương
có hai phần là Kiến và Tướng. Luận sư Trần Na thì chủ
trương có ba phần là Kiến, Tướng và Tự chứng phần. Tự
chứng phần là tự thể của thức; Kiến phần, Tướng phần
là tướng dụng của thức. Lại Kiến phần lường biết Tướng
phần. Vậy cái gì lường biết Kiến nếu không có Tự chứng
phần. Có năng lượng sở lượng tức phải có lượng quả.
Như thước đo vải, thước là Kiến phần năng lượng; vải
là tướng phần sở lượng. Vậy thước đo vải kết quả
có bao nhiêu làm sao biết, nếu không có người thứ ba (?)
Tự chứng phần cũng như người thứ ba, kết quả của sự
lường biết. Nhưng Luận sư Hộ Pháp lại chủ trương có
bốn phần, lấy lẽ sự nhận biết của thức có khi trực
tiếp biết, đó là hiện lượng; có khi gián tiếp biết, đó
là tỷ lượng. Nhưng có khi trực tiếp biết sai, gián tiếp
biết sai, thì đó là phi lượng. - Kiến phần biết Tướng
phần có khi hiện lượng, có khi tỷ lượng, có khi phi lượng.
Trong khi Tự chứng phần chỉ biết bằng hiện lượng. Tự
chứng phần chứng biết Kiến phần, vậy cái gì chứng biết
Tự chứng phần (?) Bởi Kiến phần chứng biết Tự chứng
phần không được, vì kiến phần có khi phi lượng, mà Tự
chứng phần là tự thể của thức, luôn luôn là hiện lượng,
làm sao Kiến phần chứng biết được? Vậy phải có phần
thứ tư là Chứng tự chứng phần để chứng biết tự chứng
phần, và ngược lại Tự chứng phần; chứng biết chứng
Tự chứng phần, vì hai phần này đồng là hiện lượng biết.
Nhưng
nói một cách rốt ráo thì bốn phần chỉ là tương đối.
Có thể gom phần thứ tư vào phần thứ ba mà chỉ có ba phần;
hoặc lại gom phần thứ hai mà chỉ có hai phần, lại Kiến,
Tướng hai phần vốn không tự thể mà phải dựa vào một
tâm, một chơn pháp giới làm tự thể, lấy thể một tâm
mà bao dung tác dụng, thì dụng không khác thể, nên có thể
nói "nhất sắc nhất hướng vô phi Trung đạo" và như vậy,
dù nói Duy thức, hay nói Duy sắc, Duy hướng đều được.
(19).
Ðoạn này nói thức A lại da chỉ tương ưng với năm Biến
hành tâm sở và xả thọ.
Năm
Biến hành tâm sở là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư.
Năm
Tâm sở này có đủ bốn sự biến khắp là biến khắp hết
thảy tánh, tức thiện, ác, vô ký; biến khắp hết thảy địa,
tức khắp có trong chín địa, ba cõi; biến khắp hết thảy
thời, bất cứ khi nào tâm khởi là có đủ năm Tâm sở này
cùng khởi; biến khắp hết thảy Tâm vương. Dù tám thức
Tâm vương cùng khởi lên, thì cũng đều có năm Tâm sở này
đồng khởi, cho đến khi đã được chuyển thức thành trí
vẫn có năm Tâm sở này tương ưng.
Năm
Tâm sở này có hành tướng khác với thức, vì thức Tâm vương
lấy liễu biệt làm hành tướng; còn xúc thì lấy sự xúc
đối giữa căn, trần, thức, làm hành tướng; tác ý ấy sự
cảnh tỉnh làm hành tướng; thọ lấy sự lảnh nạp cảnh
làm hành tướng; tưởng lấy sự chấp thủ ảnh tượng làm
hành tướng; tư lấy sự tạo tác làm hành tướng. Song cả
năm đối với thức có bốn sự đồng ngang nhau nên nói là
Tâm tương ưng. Bốn sự đồng nhau, tức Tâm vương, Tâm sở
đều có tự thể riêng như nhau; sở duyên như nhau, tức Tâm
vương, Tâm sở đồng duyên một cảnh; đồng một lúc duyên
cảnh, và đồng nương một căn chung.
Dù
năm Tâm sở này luôn luôn tương ưng thức A lại da nhưng nó
không thể có khả năng thọ huân (chịu sự huân tập) như
A lại da.
A lại
da cũng chỉ tương ưng với xả thọ, và tánh luôn luôn là
vô phú, vô ký. Nghĩa là nó không có ngã tánh, chỉ có thức
thứ bảy lầm chấp nó là ngã, chứ tự nó không phải là
ngã, nên mới tiếp nhận tất cả những gì do bảy chuyển
thức huân tập vào. Nếu có ngã tánh chắc nó có phân biệt
chọn thứ này bỏ thứ kia, không thể tiếp nhận hết mọi
sự huân tập vào. Và cũng vì vậy ở A lại da không có các
Tâm sở thiện, ác, ô nhiễm tương ưng.
(20).
Ðoạn này nói A lại da là trung tâm của lý duyên nhân quả.
A lại
da giống như giòng nước thường hằng, mà chuyển biến, không
phải đoạn, không phải thường, chỉ trong một sát na mà
gồm đủ cả sanh, diệt, nhân, quả; ví như hai đầu quả
cân cao thấp cùng lúc. Hai đầu quả cân dụ cho nhân quả,
cao thấp dụ cho sanh diệt. Sanh diệt nhân quả đồng ở một
chỗ cùng trong một sát na hiện tại. Ngay trong hiện tại trông
về quá khứ nói hiện tại là quả, trông về tương lai nói
hiện tại là nhân, ước theo quả hiện tại nói quá khứ
là nhân. Thế thời muôn vàn ức kiếp trước vẫn như ngày
nay, tướng nhân đó chỉ là tướng tương tợ in như có, do
thức biến ra, chứ quá khứ đã qua, thức nào có trực tiếp
biết thấu. Hoặc ước theo nhân hiện tại mà nói quả tương
lai, thời vô lượng kiếp sau cũng ở trước mắt, chỉ do
thức biến hiện tương tợ như có quả tương lai, chứ quả
tương lai chưa có, thức đâu có thực sự duyên đến. Do vậy
Cổ đức nói: "Vô biên sát hải tự tha bất cách ư mao đoan,
thập thế cổ kim thủy chung bất ly ư đương nhiệm" (muôn
vàn thế giới tự tha chung trên đầu sợi lông, mười đời
kim cổ thủy chung chỉ ở trong một niệm).
Tôn
Cảnh Lục nói: "Quá khứ vị lai vô thể, do sát na huân tập,
đều thuộc hiện tại. Chính ngay khi vọng niệm hiện tại
khởi lên, trái với chơn tánh, gọi là thức sơ khởi, chứ
chẳng phải có thức sơ khởi nào trong quá khứ. Cho nên biết
ngang trùm hết mọi nơi, dọc suốt hết mọi thời, đều ở
ngay trong một niệm hiện tại.
Ước
theo hiện tại, thức biến ra tướng nhân quá khứ, tướng
quả trong tương lai; trước sau sanh diệt, đều là giả thiết
đặt, chứ không thật có. Thế nhưng các bộ phái khác lại
cho nhân quả sanh đó đều không thật có, có pháp làm nhân,
có pháp làm quả, có thật, có diệt thật. Ðó đều là mê
lầm chấp pháp chứ không đúng đạo lý rốt ráo.
(21).
Ðoạn này nói sự xả bỏ thức A lại da, và nói các tên
khác của thức thứ tám.
A lại
da là Tàng thức gồm có năng tàng, sở tàng, ngã ái chấp
tàng. Trong đó ngã ái chấp tàng là đầu mối của mê lầm,
phát sanh phiền não tạo nghiệp, chịu luân hồi sanh tử. Vậy
khi nào dứt hết ngã ái chấp tàng là bỏ tên A lại da. (Chứ
không phải cả bỏ thức thứ tám).
Ba
địa vị vô học của Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, dứt
hết phiền não chướng, bỏ ngã ái chấp tàng, nên ở ba địa
vị này không còn có tên A lại da.
Nghĩa
là ở địa vị A la hán, Ðộc giác phật và Bồ tát từ đệ
bát địa trở lên đều bỏ tên A lại da, vì không còn chấp
ngã.
Thức
thể chỉ có một, theo nghĩa mà đặt tên ra nhiều tên, tùy
mỗi địa vị này mà bỏ tên này nhận tên khác chứ không
phải bỏ tên là bỏ luôn cả thể. Vì chủng tử các pháp
nếu không phải là hữu lậu thì là vô lậu, lúc nào cũng
có, nếu không có thức thể thứ tám để duy trì thì các
chủng tử kia tiêu mất, trở thành đoạn diệt, cho nên khi
nào cũng có thức thể thứ tám để duy trì các chủng tử,
và không trở thành đoạn diệt. Thức thể thứ tám luôn luôn
có nhưng thay đỏi tên gọi tùy theo sự thay đổi tính chất.
Khái quát có hai địa vị nhiễm và tịnh rõ rệt. Ở địa
vị nhiễm tức địa vị hữu lậu thì gọi là A lại da hoặc
Dị thục, nó tương ưng với năm tâm sở Biến hành. Ở địa
vị tịnh tức địa vị vô lậu, đã chuyển thành trí, thì
gọi là vô cấu thức, cũng gọi là bạch tịnh thức, nó tương
ưng với hai mươi mốt Tâm sở là năm Biến hành, năm Biệt
cảnh và mười một Thiện.
Còn
các tên Tâm, A đà na, Sở tri y, Chủng tử thức thứ tám thì
cả các địa vị nhiễm tịnh đều có, và chỉ tương ưng
với năm tâm sở Biến hành.
(22).
Ðoạn này láy Thánh giáo để chứng minh ngoài bảy chuyển
thức, có thức thứ tám.
Một
là dẫn kinh giáo để chứng minh, gồm có ba kinh Ðại thừa
và bốn kinh Nikayà A hàm thuộc các bộ phát hành trì.
a.
Kinh Ðại thừa A tỳ đạt ma có hai bài kệ, một bài bắt
đầu câu "Vô thủy thời lai giới" ... đến "Cấp Niết bàn
chứng đắc". Một bài bắt đầu câu: "Do nhiếp tàng chư pháp"
... đến "Thắng giả ngã khai thị".
b.
Kinh Giải Thâm Mật một bài kệ bắt đầu câu:
"A
đà na thức thậm thậm thâm tế" ... đến "Khủng bỉ phân
biệt chấp vì ngã".
c.
Kinh Nhập Lăng già một bài kệ bắt đầu câu: "Như hải ngộ
phong duyên" ... đến "Hiện tiền tác dụng chuyển".
Tiếp
đó là dẫn lời bốn kinh thuộc các bộ phái hành trì:
a.
Trong kinh A cấp ma (A hàm) thuộc Ðại chúng bộ có mật ý
nói: "Thức căn bản". Nên biết thức căn bản đây là chỉ
cho thức thứ tám này, chứ không thể chỉ cho thức nào hay
pháp nào khác được.
b.
Kinh và Phân biệt luận giả thuộc Thượng tọa bộ cũng mật
ý nói đến tên: :"Hữu phần thức". Nên biết cũng để chỉ
thức thứ tám này chứ không thức nào khác, hay pháp nào khác.
c.
Trong kinh thuộc Hóa địa bộ cũng mật ý nói đến tên: "Cùng
sanh tử uẩn". Nên biết cũng chỉ thức thứ tám mới đi đến
tận cùng ngằn mé sanh tử (tức bắt đầu Niết bàn giải
thoát) chứ không thức nào được như vậy.
d.
Kinh Tăng Nhứt thuộc Nhất thiết hữu bộ cũng mật ý nói
đến tên: "A lại da". Nên biết chỉ thức thứ tám có tên
ấy, chứ không thức nào có được.
Hai
là dẫn lý nghĩa đã được nói trong kinh để làm chứng có
A lại da, có mười lý:
a.
Kinh nói đến "Tâm tập khởi".
b.
Kinh nói đến "Tâm Dị thục".
c.
Kinh nói đến "Chủ thể của ba cõi, năm thú, bốn loài
sanh".
d.
Kinh nói đến "Có thức chấp giữ và lãnh thọ thân căn".
đ.
Kinh nói đến "Thọ, Noãn, Thức".
e.
Kinh nói đến "Tâm trong khi sanh và trong khi chết".
g.
Kinh nói "Hành duyên thức, thức duyên danh sắc".
h.
Kinh nói đến "Bốn cách ăn trong đó có thức thục".
i.
Kinh nói "Diệt tận định vẫn có thức".
k.
Kinh nói đến "Tâm thanh tịnh, Tâm tạp nhiễm".
Nếu
không có thức thứ tám để giải thích cho chữ Tâm, chữ
Thức và các việc nói trong kinh như trên, thì không biết lấy
gì để giải thích thích đáng các nghĩa trong lời kinh đó.
Trên
vừa nói trong mười hai nhân duyên có thức duyên danh sắc,
danh sắc duyên thức, hành duyên thức, thức đây là thức
nào? Nếu nói thức đây là chuyển thức thì không được,
vì chuyển thức có sanh diệt gián đoạn không thể thọ huân
trì chủng tử. Hành là hành động, nghiệp, thức đây là
Dị thục quả thức. Thức thứ tám do hành động huân tập
thành chủng tử nghiệp lực làm chuyển biến thức thứ tám
thành Dị thục thức. Dị thục thức hình thành là do hành.
Vậy nếu không có thức thứ tám duy trì chủng tử nghiệp
của hành huân tập, thì chủng tử đó tiêu tan, lấy gì mà
làm duyên sanh danh sắc. Vậy chính chủng tử thức Dị thục
và chủng nghiệp do hành huân tập thành, chung lại gọi là
"thức chi". Và chính chi này làm duyên cho danh sắc. Còn nếu
nói hành duyên thức mà thức là thức kiết sanh ô nhiễm thì
cũng không được. Thức kiết sanh ô nhiễm là thức trong tham
ái, tật đố trong lúc đi tìm duyên cha mẹ để thọ sanh.
Nó là ái, tắng, thuộc phiền não, chứ không thuộc nghiệp.
Vậy nói hành duyên thức là thức kiết sanh ô nhiễm cũng
không đuợc. Nếu hành làm duyên danh sắc thì cũng không được,
vì hành và danh sắc gián cách nhau đâu có thể làm duyên được,
vì hành và danh sắc gián cách đâu có thể làm duyên được.
Và nếu hành làm duyên danh sắc được thì mất hết thứ
tự mười hai nhân duyên.
Luận
Du già Sư địa ghi:
Hỏi
- Vì sao vô minh duyên hành, hành duyên danh sắc v.v... có thứ
lớp như vậy?
Ðáp:
- Vì kẻ ngu trước hết là ngu đối với điều đáng phải
hiểu đúng, hiểu rõ (vô minh) từ đó phát sanh hành động
tà ác (hành), do hành động tà ác làm cho tâm điên đảo;
thức do tâm điên đảo nên kiết sanh tương tục (danh sắc
bào thai); do kiết sanh tương tục nên các căn đầy đủ (lục,
nhập, xúc); do các căn đầy đủ nên thọ dụng cảnh (thọ);
do thọ dụng cảnh nên đắm trước, hy cầu (ái); do hy cầu
nên tìm cầu, phiền não lớn mạnh (thủ); do phiền não lớn
mạnh phát khởi nghiệp đáng ưa không đáng ưa đời sau (hữu);
do nghiệp lực lớn mạnh nên sanh quả khổ trong năm thú (sanh);
khổ quả đã sanh nên có già chết (lão tử), nội thân già
chết khổ, ngoại cảnh biến đổi sanh ưu sầu nhiệt não
khổ. (Thành đại khổ tụ).
Như
thế hành đã không thể vượt bỏ thức để trực tiếp làm
duyên cho danh sắc, thì các chi sau cũng thế, không thể bỏ
băng thứ lớp mà làm duyên cho chi khác được.
Lại
chúng sanh có khi hữu lậu ô nhiễm, có khi vô lậu thanh tịnh,
khi ở địa vị hữu lậu phải có thức thứ tám thì mới
thành "hành làm duyên". Tức thì khi ở địa vị thanh tịnh
cũng phải có thức thứ tám duy trì chủng tử vô lậu mới
thành thanh tịnh các bậc Thánh được. Nếu không có thức
thứ tám thì không có gì duy trì chủng tử vô lậu, mà không
có chủng tử vô lậu thì không thể tu nhân giải thoát, chứng
quả Niết bàn. Không thể nói chủng tử hữu lậu sanh ra chủng
tử đạo vô lậu xuất thế được.
Pháp
thanh tịnh tức pháp tu chứng của ba Hiền mười Thánh. Có
ba thứ khác nhau: Một là đạo thế gian, tức chỉ các pháp
tu tập trước khi lên thập địa; hai là đạo xuất thế gian,
tức các pháp tu tập ở thập địa; ba là đoạn quả kết
quả dứt trừ mê hoặc do tu hai đạo trên. Nếu không có thức
thứ tám duy trì chủng tử đạo thế gian, chủng tử đạo
xuất thế gian, thì tu gì mất nấy, không có chủng tử tức
không có nhân, không có nhân thì không sanh quả, không giải
thoát khỏi mê lầm khổ đau. Như khi đang tu đạo thế gian
về Tứ Thiền Tứ Không, lại tu quán vô ngã. Khi nhập quán
vô ngã đó là tu đạo xuất thế gian, khi xuất quán vô ngã
trở lại Tứ Thiền Tứ không, thì đó là trở lại đạo
thế gian. Không thể nói từ đạo thế gian sanh ra đạo thế
gian được. Ðem tâm còn hữu ngã thế gian mà nghe Chánh pháp
huân tập thành chủng tử vô lậu xuất thế gian, thì đó
là huân trưởng chứ không phải huân sanh. Vì tâm hữu lậu
nghe pháp chỉ giúp cho chủng tử vô lậu sẵn có được lớn
mạnh để đoạn hết phiền não mà được giải thoát, chứ
không phải nó làm sanh ra chủng tử vô lậu, ngược lại cũng
vậy.
(23).
Thức tư lương năng biến thứ hai được định nghĩa trong
mười hai câu tụng, từ câu "Thức năng biến thứ hai" ...
đến câu "Xuất thế dạo, không còn". Gồm có mười mục:
a.
Thích tên.
b.
Sở y (tức nương kia chuyển).
c.
Sở duyên (túc trở lại duyên kia).
d.
Thể tánh (tức tư lương làm tánh).
đ.
Hành tướng (tức thẩm tự tư lương).
e.
Nhiễm câu (tức bốn phiền não).
g.
Dư tương ưng (tức xúc khác thảy).
h.
Tam tánh (tức hữu phú vô ký).
i.
Giới hệ (tướng sanh theo A lại da).
k.
Phục đoạn (tức hai câu tụng chót).
Luận
văn lần lượt giải thích mười mục đó.
(24).
Ðoạn này giải thích danh từ Ý (Mạt na). Ý có nghĩa là hằng
thường thẩm xét tư lương nên gọi là Ý. Nó khác với Ý
thức ở chỗ: Thức này gọi là Mạt na hay Ý thức, là đặt
tên theo lối trì nghiệp. Tức căn cứ đức tính khả năng
mà đặt tên; do tánh thẩm xét tư lường của nó mà gọi
nó là Ý thức. Nghĩa là thức tức ý, giống như Tạng thức,
là đặt tên theo lối trì nghiệp. Thức có khả năng chứa
nhóm gọi là Tạng. Tạng tức thức, nên gọi là Tạng thức.
Lấy đức tính của chính nó mà đặt tên cho nó, chứ không
phải dựa vào cái không để đặt tên. Như nhãn thức là
dựa nhãn căn mà đặt tên nhãn thức. Ðây là cách đặt tên
theo lối y chủ.
(25).
Ðoạn này giải thích chữ "Nương kia chuyển" của bài tụng.
Kia là chỉ cho thức thứ tám. Có hai ý kiến: Một là Mạt
na chỉ nương chủng tử của nó trong thức thứ tám mà khởi
lên. Hai là Mạt na nương cả chủng tử của nó trong thức
thứ tám và đồng thời nương cả hiện thức thứ tám mà
khởi lên. Ý thứ hai đúng hơn. Vì Mạt na là thức có chuyển
dịch, khi có Thánh đạo khởi lên thì nó chuyển nhiễm thành
tịnh.
Nhưng
Mạt na cũng như Tâm, Tâm sở khác đều có ba chỗ nương:
Một là nhân duyên y tức chủng tử y; hai là Tăng thượng
duyên y tức Câu hữu y; ba là Ðẳng vô gián duyên y tức Khai
đạo y.
Trước
hết nói về chủng y. Có hai ý kiến: Một ý kiến cho rằng
chủng tử và hậu quả không đồng thời, chủng tử diệt
rồi thì hiện quả mới sanh; như hạt giống diệt mới có
mầm sanh. Ý kiến thứ hai cho chủng tử và hiện quả đồng
thời; giống như ngọn lửa và tim đèn đồng thời. Tức là
tim đèn sanh ngọn lửa, ngọn lửa đốt cháy tim đèn. Tim đèn
sanh ngọn lửa là thí dụ chủng tử sanh hiện hành; lửa đốt
cháy tim đèn là thí dụ hiện hành huân chủng tử; nếu tim
đèn giờ trước trông đến tim đèn giờ sau là thí dụ chủng
tử dẫn chủng tử; ngọn lửa giờ trước trông đến ngọn
lửa giờ sau là thí dụ hiện hành dẫn hiện hành. Trong đó
chủng dẫn chủng thuộc nhân duyên y, nhưng không đồng thời;
còn chủng sanh hiện, hiện huân chủng tử cũng thuộc nhân
duyên y, nhưng là đồng thời; chỉ có hiện dẫn hiện là
thuộc Ðẳng vô gián duyên y, và không đồng thời.
Thứ
đến là Câu hữu y. Có bốn ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến
thứ tư là đúng nhất.
Cuối
cùng là Khai đạo y. Có ba ý kiến. Ý kiến thứ nhất cho rằng
năm thức trước vì bị gián đoạn nên không thể tự làm
Khai đạo y cho mình, phải nhờ thức thứ sáu làm Khai đạo
y. Ý kiến thứ hai cho rằng chư Phật khi được tự tại rồi
năm thức hỗ dụng vẫn làm Khai đạo y cho nhau được; vì
nơi Phật luôn luôn có tâm nhậm vận quyết định, chứ không
có tâm tầm cầu như các chúng sanh khác.
Nên
biết khi tâm duyên đến sự vật có năm hành tướng (trạng
thái) là:
a.
Suất nhĩ tâm, khi gặp cảnh vụt khởi lên.
b.
Tâm cầu tâm, tìm cầu đạt đến cảnh đó.
c.
Quyết định tâm, thẩm trí cảnh đó rõ ràng quyết định.
d.
Nhiễm tịnh tâm, đối với cảnh đó hoặc ưa hoặc chán,
sanh tâm nhiễm tịnh.
đ.
Ðẳng lưu tâm, niệm niệm duyên cảnh đó trước sau liên
tục. Năm thức trước chỉ có bốn, trừ tâm tầm cầu, vì
năm thức trước chỉ có tự tánh phân biệt, chứ không có
tùy niệm và kế đạt phân biệt. Thức thứ sáu thì đủ
cả năm tâm. Thức thứ bảy chỉ có ba tâm là quyết định,
nhiễm tịnh, đẳng lưu. Vì thức thứ bảy thường duyên cảnh
hiện tại nên không có tâm suất nhĩ và tâm cầu. Thức thứ
tám thì có ba tướng là suất nhĩ, quyết định, đẳng lưu.
Suất nhĩ đây là chỉ thức thứ 8 khi mới thọ sanh.
Ý
kiến thứ ba mới là đúng, như trong luận nói rõ. Hai ý kiến
đầu là của Nan Ðà và An Huệ, cho tám thức trông nhau đắp
đổi làm Khai đạo y cho nhau; còn ý kiến thứ ba là của Hộ
Pháp cho rằng tám thức, mỗi tự loại niệm trước làm Khai
đạo y cho niệm sau.
(26).
Ðoạn này nói về cảnh sở duyên của Mạt na.
Cảnh
sở duyên của Mạt na chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn chưa
chuyển y, và giai đoạn đã chuyển y.
- Giai
đoạn chưa chuyển y: Có bốn ý kiến:
a.
Nan Ðà chủ trương Mạt na duyên Tâm vương, Tâm sở thức
thứ tám làm cảnh.
b.
Hỏa Biện chủ trưong Mạt na duyên kiến phần, tướng phần
Tâm vương thức thứ tám làm cảnh. Duyên kiến phần chấp
làm ngã, duyên tướng chấp làm ngã sở.
c.
An Huệ chủ trương Mạt na duyên hiện hành và chủng tử thức
thứ tám làm cảnh. Duyên hiện hành chấp làm ngã, duyên chủng
tử chấp làm ngã sở.
d.
Hộ Pháp chủ trương Mạt na chỉ duyên hiện hành kiến phần
thức thứ tám làm cảnh, và chấp làm ngã. Ngã và ngã sở
không phải chỉ có hai cảnh riêng biệt, không thể lìa ngã
có ngã sở mà chỉ có một ngã kiến diễn dịch ra ngã và
ngã sở, chứ không phải hai thứ riêng biệt nhau. Mạt na duyên
thức thứ tám chấp làm ngã, rồi lại chấp đó là ngã của
ta, ngã của ngã mà thành ngã sở thôi.
- Giai
đoạn đã chuyển y: Mạt na chuyển thành Bình đẳng tánh trí,
chứng được mười tánh bình đẳng, thì không chỉ duyên
Tạng thức mà cùng duyên chơn như và hết thảy pháp. Nhờ
biết rõ tri giải của Bồ tát Thập địa sai khác như thế
nào, mà khởi hiện thân hiện độ tha thọ dụng để thuyết
pháp giáo hóa. Ðó gọi là "Như Lai hiện khởi tha thọ dụng,
Thập Bồ tát sở bị cơ".
Kinh
Phật Ðịa nói mười thứ bình đẳng tánh như sau:
a.
Các tướng tăng thượng hỷ lạc bình đẳng.
b.
Hết thảy lãnh thọ duyên khởi bình đẳng.
c.
Xa lìa dị tướng phi tướng bình đẳng.
d.
Ðại từ hoằng tế bình đẳng.
đ.
Ðại từ không chờ đợi bình đẳng.
e.
Thị hiện theo sở lạc của hữu tình bình đẳng.
g.
Nói ngã ái của hữu tình bình đẳng.
h.
Thế gian đồng một vị tịch tịnh bình đẳng.
i.
Pháp khổ lạc của thế gian nhất vị bình đẳng.
k.
Tu trồng vô lượng công đức rốt ráo bình đẳng.
Mạt
na từ thức đệ bát sanh lại duyên thức đệ bát giống như
thức niệm trước sanh lại duyên thức niệm trước. Như vậy
khi Mạt na lấy thức thứ tám làm chỗ nương, đó là tăng
thượng duyên; khi lấy thức thứ tám làm cảnh sở duyên,
đó là sở duyên duyên.
Mạt
na lấy tư lương làm tự tánh và hành tướng của mình.
(27).
Mạt na thường tương ưng với bốn thứ Tâm sở là ngã si,
ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Do mạt na có bốn thứ phiền
não qúa tội lỗi này, nên dù có tu sáu độ hạnh như bố
thí, trì giới v.v... vẫn không vong tướng, vẫn thành hữu
lậu, cho nên gọi là tạp nhiễm. Nếu muốn giải thoát, trước
phải siêng năng quán lý vô ngã, trừ hết bệnh vọng chấp
mới giải thoát được. Song bệnh chấp ngã của thức Mạt
na thuộc loại câu sanh rất vi tế, rất khó diệt trừ. Tự
nó không thể quán vô ngã, phải nhờ ý thức thứ sáu có
tâm sở Chánh tuệ tương ưng mói quán sát đứng đắn lý
vô ngã, huân tập chủng tử kiến giải vô ngã vào Tạng thức,
tô bồi cho chủng tử vô lậu vô ngã vốn có, được phát
triển mạnh lên cho đến khi thành thục, có thật trí vô lậu
hiện tiền, rồi dùng trí ấy nhiều lần tu quán sau đó mới
có thể dứt sạch bốn thứ phiền não ấy.
Tại
sao Mạt na không tự quán vô ngã mà phải nhờ Ý thức quán?
- Vì khi đang mê, nghĩa là khi chưa chuyển y, Mạt na mê lầm
rất trầm trọng, không tự đứng dậy được. Và lại chính
ý thức tuy bị Mạt na lây nhiễm, những ý thức có tiếp
xúc bên ngoài và trở lại bồi dưỡng Mạt na. Nếu nó bồi
dưỡng những điều ô nhiễm thì ngã chấp của Mạt na càng
sâu đậm bền chắc thêm; còn nếu nó nghe được giáo lý
vô ngã, rồi quán vô ngã thì Mạt na mất sự bồi dưỡng
ngã, trái lại làm cho ngã chấp của Mạt na biến dần đi
cho đến khi tiêu mất; để chuyển thành trí bình đẳng tánh,
bây giới nó lại luôn luôn tương ưng với hai mươi mốt Tâm
sở như A lại da.
Ngoài
bốn phiền não này, Mạt na còn tương ưng với phiền não
nào nữa không? Ðối việc này có năm ý kiến:
a.
Chủ trương nó không còn tương ưng với Tâm sở nào nữa
hết.
b.
Chủ trương nó tương ưng với 15 Tâm sở. Tức là bốn căn
bản phiền não, năm Biến hành, thêm năm tùy phiền não là
hôn trầm, trạo cử, bất tín, giải đãi, phóng dật và Biệt
cảnh tuệ.
c.
Chủ trương nó tương ưng với 19 Tâm sở, tức mười lăm
thứ trên cộng thêm niệm, định, tuệ và hôn trầm.
d.
Chủ trương nó tương ưng với 24 Tâm sở. Tức là bốn Căn
bản phiền não, năm Biến hành, mười Tùy phiền não, cộng
thêm năm Biệt cảnh.
đ.
Hộ Pháp chủ trương nó tương ưng với 18 Tâm sở. Tức là
bốn Căn bản phiền não, năm Biến hành, tám Ðại tùy phiền
não, thêm Biệt cảnh tuệ.
(28).
Ðoạn này giải thích Mạt na tương ưng với thọ nào? Có
ý kiến cho nó tương ưng xả thọ, có ý kiến cho nó tương
ưng với bốn thọ ưu, lạc, hỷ, xả. Nhưng đúng nhất là
ý kiến cho nó chỉ tương ưng với xả thọ.
Mạt
na cũng như Tạng thức khi đã chuyển y rồi thì tương ưng
với hai mươi mốt Tâm sở là năm Biến hành, năm Biệt cảnh,
mười một Thiện, và Xả thọ.
Còn
tánh của Mạt na khi chưa chuyển y là hữu phú vô ký mà khi
đã chuyển y thì chỉ là thiện tánh.
Khi
chưa chuyển y thì tùy thức A lại da sanh cõi địa nào, nó
đều hệ thuộc theo mà chấp ngã theo cõi ấy, địa ấy. Khi
đã chuyển y thì tự tại không còn hệ thuộc.
(29).
Ðoạn này nói đến địa vị khắc phục và dứt trừ Mạt
na có hai:
- Một
là không có Mạt na ô nhiễm. Ðó là ở địa vị A la hán,
Vô học, các chủng tử lẫn hiện hành Mạt na ô nhiễm đều
dứt sạch. Còn địa vị khi nhập Dịệt tận định thì cũng
tạm thời dẹp trừ, nhưng khi xuất định thì vẫn còn. Bậc
Hữu học cũng vậy, khi có đạo xuất thế hiện tiền thì
không có Mạt na ô nhiễm, khi đạo xuất thế không hiện tiền
thì lại có. Chơn kiến thật thấy lý vô ngã và hậu đắc
trí, đều là vô lậu, nên gọi là xuất thế đạo; khác với
lối tu còn hữu ngã gọi là thế gian đạo.
- Hai
là có Mạt na thanh tịnh, vì Mạt na xuyên suốt cả địa vị
nhiễm và không ô nhiễm. Nếu có tương ưng với Bổ đặc
già la ngã kiến (tức câu sanh ngã chấp) thì từ phàm phu cho
đến bậc Hữu học, khi không quán vô ngã thì đều có Mạt
na ô nhiễm. Nếu nó tương ưng với pháp ngã kiến, thì từ
phàm phu đến Thanh văn, Duyên giác và một hạng Bồ tát chưa
có trí quả pháp không, thì đều có Mạt na vừa nhiễm vừa
tịnh. Nếu nó tương ưng với Bình đẳng tánh trí thì chỉ
có ở Như Lai. Ðây là Mạt na thanh tịnh.
(30).
Ðoạn này dẫn Thánh giáo để chứng minh có thức Mạt na
riêng ngoài bảy thức kia.
Dẫn
giáo chứng có hai:
1.
Trong nhiều kinh, đức Bạt già phạn nói đến tâm, ý, thức.
Theo nghĩa đặc biệt trỗi hơn thì tâm có nghĩa là tập khởi;
ý có nghĩa là tư lương; thức có nghĩa đặc biệt, là liễu
biệt. Còn theo nghĩa thông đồng thì tâm, ý, thức đều có
đủ ba nghĩa là tập khởi, tư lương và liễu biệt. Như vậy
nói ý tức là chỉ cho thức Mạt na. Trong mọi trường hợp
lúc nào cũng có thức Mạt na, vì khi ở địa vị tâm hữu
lậu từ phàm phu, Nhị thừa Hữu học và Bồ tát trước đệ
bát địa, thì Mạt na thường duyên thức A lại da, hằng thẩm
xét tư lương Bổ đặc già la, tức nhân ngã hay sanh ngã chấp.
Ở địa vị nhập Diệt tận định và địa vị có trí quả
sanh không hiện tiền thì Mạt na thường duyên thức Dị thục,
hằng thẩm tư lương pháp ngã chấp. Ở địa vị Bồ tát
địa thượng khi trí quả sanh không hiện tiền, thì Mạt na
duyên thức Dị thục, hằng thẩm tư lương hai vô ngã, ở
địa vị Như Lai thì Mạt na duyên vô cấu thức, hằng thẩm
tư lương hai vô ngã.
Tiểu
thừa thì lấy tâm quá khứ làm ý, tâm hiện tại làm thức,
tâm vị lai làm tâm. Một tâm có ba tên theo ba đời.
Bạt
già phạn tức Tức Thế Tôn. Theo kinh Phật địa, đủ sáu
nghĩa gọi là Bạt già phạn.
a.
Tự tại, vĩnh viễn không hệ thuộc theo phiền não.
b.
Xí thạnh, lửa trí mãnh liệt.
c.
Danh xưng, viên mãn mọi công đức thù diệu.
d.
Ðoan nghiêm, đủ ba mươi hai tướng tốt.
đ.
Cát tướng, thế gian thân cận, tán thán cúng dường.
e.
Tôn quý, phát huy phương tiên, lợi lạc hữu tình, không hề
giải đãi.
Hoặc
phá hoại bốn ma, gọi là Bạt già phạn.
2.
Trong kinh Giải Thoát có tụng: "Nhiễm ô ý hằng thời, Cùng
các hoặc sanh diệt, Nếu giải thoát các hoặc, Chẳng đã
và sẽ có". Nhiễm ô ý đây tức là thức Mạt na; hằng thời
tương ưng với bốn căn bản phiền não là ngã si, kiến, mạn,
ái. Khi nhờ có đạo đối trị (quán không vô ngã) dứt hết
phiền não thì Mạt na được giải thoát, bấy giờ phiền
não tương ưng với nó chẳng những hiện tại không có, mà
quá khứ vị lai cũng không có; vì phiền não không có tự
tánh thật. Do một niệm vọng tình hiện tại mà chứa đủ
vô lượng chủng tử hoặc, nghiệp, khổ quá khứ để sanh
ra vô lượng hoặc nghiệp, khổ trong vị lai. Nhưng quá khứ
thì đã mất, vị lai thì chưa đến, chỉ một sát na tâm hiện
tại, tâm hiện tại thay đổi không ngừng, đâu có thật thể.
- Dựa vào vọng tâm mà thấy có ba đời, nếu tìm tâm không
thấy được, thời hiện tại đã không, ba đời đâu có.
Chỉ khi nào ngay tại chỗ ngồi hiện tại mà dứt hết vọng
niệm ba đời, mới thấu đạt được ba đời. Lại tìm tâm
không thấy được, thì còn hình tướng cách ngại, ngay khi
đó mười phương tiêu vong trí sáng chiếu khắp mười phương,
như Cổ đức nói đấy là nghĩa câu "Phiền não chẳng đã
có, chẳng sẽ có".
Do
đạo đối trị tức trí quán hai không mà thấy rõ phiền
não vốn không tự tánh. Ðã không tự sanh, cũng không tha sanh,
không tự tha cọng sanh, không vô nhân sanh, chỉ là nhân duyên
hòa hiệp hư vọng có sanh. Ngay khi vọng sanh, vốn không ở
trong, không ở ngoài, không ở trung gian, không ở quá khứ,
không ở hiện tại, không ở vị lai, sanh tức vô sanh, rốt
ráo không tự tánh. Tự tánh đã không, tha tánh đâu có, tự
tha đã không, cọng tánh đâu có, nói có sanh còn không được,
huống là nói vô nhân sanh. Quán sâu sắc như vậy không ngừng
thì giải trừ sự huân tập mới, và chủng tử nghiệp hoặc
tự tiêu. Cho nên phần quyết trạch trong luận Du già nói:
"Hỏi: Khi dứt phiền não là xả bỏ trói buộc (triền, hiện
hành) hay xả bỏ tùy miên (chủng tử phiền não)? Ðáp: Chỉ
xả bỏ tùy miên, thì trói buộc hết. Hỏi: Bỏ tùy miên quá
khứ, hay tùy miên hiện tại, hay tùy miên vị lai? Ðáp: Chẳng
phải dứt quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng nói tùy miên
ba đời dứt. Vì sao? - Vì nếu quá khứ có tâm tùy miên thì
nó đã tự diệt, tánh nó đã dứt, còn dứt cái gì? Nếu
ở vị lai có tâm tùy miên, thì tánh nó vốn chưa sanh, tự
thể đã không có, thì sẽ dứt cái gì? Nếu ở hiện tại
có tâm tùy miên, thì sát na nó sau biến chuyển, không trụ,
không cần phải dứt. Lại tâm có tùy miên và tâm lìa tùy
miên, không hòa hợp nhau, cho nên hiện tại chẳng phải dứt.
Nhưng do nhân duyên của chánh pháp bên ngoài và chơn chánh
tác ý bên trong, mà có chánh kiến phát sanh. Tùy khi tâm đối
trị các hoặc bị đối trị phát ra, mà các tâm tùy miên
bị đối trị diệt. Ngay khi tâm này sanh, tâm kia diệt, bình
đẳng bình đẳng. Ðạo đối trị sanh, tùy miên bị đối
trị diệt. Khi tâm đối trị có chánh kiến tương ưng, thì
ngay ở hiện tại không có tùy miên, mà ở quá khú cũng không
có tùy miên, sát na sau tâm lìa tùy miên, nên đời vị lai
cũng không có tùy miên. Từ đây đã được chuyển y, đã
dứt tùy miên, nhờ đó ngay trong thân tương tục này sẽ có
được tâm thiện vô ký thuộc thế gian (nghĩa là điều thiện
này còn sanh diệt). Ở vị trí quá khứ, hiện tại, vị lai
đều lìa tùy miên, cho nên nói tùy miên ba đời đều dứt".
(31).
Ðoạn này dẫn chánh lý chứng minh có thức Mạt na riêng ngoài
bảy thức kia. Trên là giáo chứng có hai, đây là lý chứng
có sáu, là: hằng hành vô minh, làm duyên sanh thức, tư lương
gọi là ý, vô tâm định sai khác, trời Vô tưởng ô nhiễm,
ô nhiễm trong ba thời:
a.
Hằng hành vô minh - Là thứ vô minh vi tế làm chướng ngại
chánh trí, nó luôn có mặt khắp các tâm thiện, ác, vô ký,
nơi loài dị sanh trong mọi địa vị, nên gọi là hằng hành.
Nó lại là thứ vô minh chỉ tương ưng với thức Mạt na chứ
không có ở các thức khác, nên cũng gọi nó là bất cọng
vô minh. Gọi đủ là "Hằng hành bất cọng vô minh", khác với
độc hành bất cọng vô minh, là thứ vô minh chỉ mê lý Tứ
đế và chỉ tương ưng với thức thứ sáu. Lại vô minh có
hai thứ là tương ưng vô minh, tức vô minh cùng khởi với
tham, sân v.v... và độc hành vô minh là vô minh khởi riêng
một mình nó. Vô minh nơi Mạt na cũng khởi với tham, sân,
cũng gọi là tương ưng vô minh, nhưng vô minh này đặc biệt
luôn có mặt khắp nơi, nên không gọi là tương ưng mà gọi
là hằng hành; còn vô minh cùng khởi với tham, sân nơi thức
thứ sáu thì là tương ưng. Nếu nó khởi riêng một mình thì
gọi là "độc hành" thuộc vào bốn bộ loại kiến hoặc,
chỉ do kiến đạo đoạn. Nếu nó khởi chung với mười tiểu
tùy phiền não thì gọi là độc hành không phải chủ, thuộc
vào năm bộ hoặc, phải do kiến đạo và tu đạo đoạn.
b.
Làm duyên sanh thức - Năm thức trước đều lấy năm căn làm
câu hữu y, tăng thượng duyên mà phát sanh. Vậy thức thứ
sáu cũng phải có chỗ dựa làm câu hữu y, tăng thượng duyên
mới phát sanh được. Vậy câu hữu y và tăng thượng duyên
của thức thứ sáu là gì, nếu không phải Mạt na?
c.
Tư lương gọi là ý - Khế kinh nói Tư lương gọi là ý. Nếu
không có Mạt na thì ý tư lương này không có.
d.
Ðịnh vô tâm sai khác - Trong hai định vô tâm là vô tưởng
định chỉ diệt thức thứ sáu và Tâm sở của nó; còn Diệt
tận định phải còn diệt thêm nhiễm ô ý thứ bảy. Nếu
không có nhiễm ô ý thứ bảy thì hóa ra hai định này không
khác gì nhau sao?
đ.
Trời Vô tưởng ô nhiễm - Trời Vô tưởng dứt hết Tâm và
Tâm sở của Ý thức. Nếu Ý thức đã không còn, Mạt na cũng
không có thì trời Vô tưởng là cõi còn thuộc trong ba cõi
luân hồi, hóa ra không còn ô nhiễm nữa sao?
e.
Ô nhiễm suốt ba tánh - Trong cả ba tâm thiện, ác, vô ký của
chúng sanh đều là ô nhiễm hữu lậu, nếu không có Mạt na
thì thiện, vô ký làm sao ô nhiễm?
Tóm
lại, do giáo và lý chứng minh trên đó, phải có thức Mạt
na. Sở dĩ trong kinh nhiều khi chỉ nói sáu thức, đó là lối
nói theo lối lý tùy chuyển, tức chuyển lý Ðại thừa rốt
ráo mà nói; còn nói theo lý Tiểu thừa thì chưa rốt ráo.
Chứ theo lý rốt ráo phải có đủ tám thức.
(32).
Ðoạn này nói về thức năng biến thứ ba, tức là thức liễu
biệt cảnh hay sáu thức trước, gồm có ba mươi hai câu tụng,
từ câu "Thức năng biến thứ Ba" ... đến câu "Khi ngủ mê,
chết ngất", được chia ra làm chín môn để giải.
- Môn
sai biệt - Thức năng biến thứ ba là liễu biệt cảnh thức,
cũng là sáu thức, dựa theo sáu căn mà đặt tên. Thức dựa
nhãn căn phát sanh gọi là nhãn thức; thức dựa nhĩ căn phát
sanh gọi là nhĩ thức v.v... và vì nó dựa 6 trần mà phát
sanh nên cũng có thể gọi là sắc thức cho đến pháp thức.
Nhưng khi đã được tự tại như Phật thì chỉ nhãn thức
cũng có thể duyên hết thảy trần, cho nên dựa trần mà đặt
tên sắc thức, thanh thức v.v... không ổn. Năm trần cũng là
pháp nhưng không nói mắt thấy pháp mà chỉ nói thấy sắc,
vì sắc thanh là cuộc hạn nên chỉ mỗi thức duyên, còn pháp
trần là chung, chỉ có Ý thức mới duyên được.
Căn
đủ năm nghĩa: a. Y căn, tức dựa sáu căn câu hữu. b. Phát
căn, từ sáu căn phát ra. c. Thuộc căn, lệ thuộc vào căn,
căn mạnh thấy sáng, căn hỏng thấy mờ. d. Trợ căn, giúp
cho căn tỏ rỏ. đ. Như căn, duyên đúng như cảnh của căn.
Môn
tự tánh và hành tướng, Sáu thức đều lấy việc liễu biệt
làm tự tánh và hành tướng.
- Cảnh
có ba là tánh cảnh, đới chất cảnh, độc ảnh cảnh.
Tánh
cảnh cũng gọi là thật cảnh. Cảnh có thật, gồm có hai;
a. Thắng nghĩa tánh cảnh hay vô chất tánh cảnh, tức là chơn
như thật tánh. Cảnh này chỉ do trí chứng, chứ không do thức
phân biệt. b. Thế tục tánh cảnh hay hữu chất tánh cảnh
là cảnh có thật do nhân duyên chủng tử phát sanh chứ không
phải do chủ quan phân biệt biến hiện, như năm trần của
năm thức duyên, hay như cảnh trong định. Cảnh này tuy có
thật, nhưng là thật theo nghĩa tương đối thế tục, chứ
không phải theo thắng nghĩa thì năm căn năm cảnh và thức
cũng chỉ là giả huyễn. Thức thứ tám và sáu thức trước
duyên được hữu chất tánh cảnh này.
Ðộc
ảnh cảnh là cảnh ảnh tượng của riêng Ý thức duyên. Có
hai: a. Hữu chất độc ảnh, là cảnh ở lúc này chỗ này
không có, nhưng ở lúc khác chỗ khác có. Như Ý thức hiện
tại nhớ lại cảnh đã trải qua. b. Vô chất độc ảnh, là
cảnh ở lúc này chỗ này không có, mà ở lúc khác chỗ khác
cũng không có, như lông rùa sừng thỏ, hay cảnh tượng tượng
của Ý thức bịa ra. Khi chưa chứng chơn như tánh cảnh mà
Ý thức biến ra tướng chơn như để quán cũng thuộc cảnh
vô chất độc ảnh này.
Ðới
chất cảnh, là cảnh thức biến có mang theo chất liệu bên
ngoài. Có hai: a. Chơn đới chất, là cảnh lấy tâm duyên tâm,
như ý thức duyên hết thảy Tâm, Tâm sở, Mạt na duyên kiến
phần đệ bát. b. Tợ đới chất, là lấy tâm duyên sắc.
Cảnh này chỉ là cảnh của độc đầu ý thức, là cái tướng
mà Ý thức gán thêm lên trên sự vật. Như phân biệt cái
bàn, cái ghế, mắt chỉ thấy hiển sắc, hình sắc; thân chỉ
đụng chạm cứng, trơn; mũi chỉ ngửu thấy mùi gỗ v.v...
thế là độc đầu ý thức lại thấy đó là cái bàn. Trong
khi thấy tướng cái bàn, tướng đó vẫn mang theo hiển sắc,
hình sắc v.v... cho nên gọi là đới chất.
- Môn
ba tánh - Là thiện, ác, vô ký. Sáu thức đều có đủ. Nhưng
có ý kiến cho năm thức có đủ ba tánh là do ý thức đạo
dẫn.
(33).
- Môn Tâm sở tương ưng - Ý thức thứ sáu có đủ năm mươi
mốt Tâm sở tương ưng. Ðó là năm Biến hành, năm Biệt cảnh,
mười một Thiện, sáu Căn bản phiền não, 20 Tùy phiền não
và bốn Bất định. Còn năm thức thì tương ưng 34 thứ Tâm
sở là năm Biến hành, năm Biệt cảnh, mười một Thiện,
hai Trung tùy, tám Ðại tùy, và Tham, Sân, Si.
Các
Tâm và Tâm sở đều là pháp duyên sanh. Nó đều có tương
quan với nhiều phía, nên sau khi luận giải thích danh nghĩa
các Tâm, Tâm sở, tiếp theo còn phân biệt mặt tương quan
khác của nó, gọi là phân biệt các môn. Như môn tùy cảnh
lập danh, môn câu sanh hoặc phân biệt khởi, môn tự loại
tương ưng, môn cùng các thức khởi, môn tương ưng các thọ,
môn ba tánh, môn học v.v...
(34).
Mười chơn như - Chơn như là thật tánh của tất cả pháp.
Không hư vọng là chơn; không biến đổi là như. Thứ nhất
biến hành chơn như. Biến hành nghĩa là có mặt khắp mọi
pháp. Chơn như vốn không có hai, có ba huống gì có mười?
Sở dĩ chia có mười chơn như là tùy chỗ chứng ngộ cạn
sâu sai khác mà chia. Biến thành chơn như là chính, tức nói
tánh chơn như biến khắp các pháp. Chơn như đồng nghĩa với
chữ "vô vi" ở các nơi khác nói. Như kinh Kim Cang nói: "Nhất
thiết Hiền Thánh đều do chứng ngộ vô vi cạn sâu mà chia
ra nhiều địa vị sai khác".
(35)
Chữ Duy thức nguyên chữ Phạn là Vijnàptimàtratà. Vijnàpti
Tàu dịch âm là Tỳ nhã để, dịch nghĩa là Thức. Chữ Màtrata
Tàu dịch âm là Ma đát lạt đa, dịch nghĩa là Duy.
Thức
là liễu biệt, nhận biết. Liễu là liễu tri, biệt là biệt
chỉnh cảnh. Tức liễu tri mỗi mỗi cảnh riêng biệt,
như nhãn thức liễu tri sắc, nhĩ thức liễu tri thanh v.v...
Thức,
nói một cách tổng quát là gồm đủ năm vị tức năm mặt:
1.
Thức tự tướng, tức tám thức Tâm vương.
2.
Thức tương ưng, tức sáu vị Tâm sở.
3.
Thức sở biến, tức hai phần Kiến và Tướng.
4.
Thức phận vị tức hai mươi bốn giả pháp Bất tương ưng
hành, chúng chỉ là giả tướng sai biệt giữa Sắc và Tâm.
5.
Thức thực hành, tức chơn lý, chơn như thật tánh của bốn
thứ trên. Như vậy Thức thật tánh là lý, còn bốn thứ trên
là sự. Năm vị pháp này là bao quát hết thảy pháp thế gian,
xuất thế gian, hữu vi vô vi, hữu lậu vô lậu. Chúng đều
không lìa thức, đều là biểu hiện của thức, nên gọi là
Duy thức.
Mỗi
mỗi hữu tình từ vô thỉ vốn có tám thức, sáu vị Tâm
sở, các pháp sự lý như vậy. Chúng chỉ hiện hữu được
trên thức, ngoài thức ra thì không có hiện hữu nào hết,
vì ngoài thức ra thì ta không thể biết có gì cả, nếu ta
tưởng tượng có một hiện tượng gì ở ngoài thức, thì
nó cũng là thức biến, vì nó là tướng của thức tưởng
tượng ra.
Duy
có ba nghĩa:
1.
Nghĩa giản trì: giản là giản biệt, kén chọn bỏ đi có
tánh phủ định, giá thuyên. Bỏ đi cái gì? Bỏ đi hai chấp
ngã và pháp thật có. Trì là giữ lấy, có tính khẳng định,
biểu thuyên. Giữ lấy cái gì? Giữ lấy thức tướng Y tha
khởi và thức tánh Viên thành thật. Các pháp Y tha duyên khởi
là tướng của thức. Hai không (ngã không, pháp không) hiển
lộ Viên thành thật tánh là tánh của Thức.
2.
Nghĩa quyết định: Luận Biện Trung Biên nói: "Thử trung định
hữu không, ư bỉ diệc hữu thử" nghĩa là trong thức tướng
Y tha duyên khởi thuộc tục sự này quyết định có thức
tánh do hai không hiển lộ thuộc chơn lý kia, vì chơn không
lìa tục mà có, ngược lại, trong chân lý hai không kia quyết
định có tục sự Y tha duyên khởi này, vì tục không thể
lìa chơn mà có.
Như
vậy "Thức" vừa có nghĩa giá và biểu. "Giá"thì ngăn chận,
loại trừ ngã và pháp thật có ở ngoài thức. "Biểu" thì
biểu thị thức tướng Y tha khởi và thức tánh Viên thành
thật. Sự và lý, tục và chơn hai mặt quyết định gắn liền
với nhau của thức.
3.
Nghĩa hiển thắng: Thắng là hơn, là thù thắng, nhằm chỉ
cho thức Tâm vương hơn là cho thức Tâm sở mỗi khi nói Duy
thức. Khi nói Duy thức là chú ý nói Duy thức Tâm vương.
Torng
ba nghĩa trên, trong Duy thức thường chỉ dùng nghĩa thứ nhất.
(Chú
thích số 35 này là dựa theo lời giải thích của Thái Hư
Ðại Sư).