CHÚ
THÍCH
(1).
Các vị Luận sư có thông lệ mỗi khi tạo Luận, mở đầu
đều có lời quy kính Tam Bảo.
Ðây
cũng vậy, khi các Luận sư Thắng Thân, Hỏa Biện v.v... định
tạo luận giải thích 30 bài tụng Duy thức của Bồ tát Thế
Thân, cũng mở đầu bằng bài tụng bốn câu này để tỏ
lòng quy kính Tam Bảo.
Duy
thức tánh tức là tánh Viên thành thật, là tánh Chơn như.
Như trong bài tụng này có câu tụng: "Ðây thắng nghĩa các
pháp, cũng chính là chơn như, vì thường như tánh nó, tức
thực tánh Duy thức".
Duy
thức tánh là chơn như thật tánh của các pháp, là chỗ nương
của mê ngộ, là chỗ chứng ngộ của bậc Thánh.
Kính
lễ Duy thức tánh là kính lễ Pháp bảo. Chứng Duy thức tánh
trọn vẹn là đã chuyển tám thức thành bốn trí, chứng đắc
chuyển y; chuyển bỏ phần tạp nhiễm y nơi bản thức và
chuyển đắc phần thanh tịnh y nơi bản thức, giải thoát
khỏi phân đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Ðã chứng
trọn vẹn Duy thức tánh, đó là đức Phật, Phật bảo. Còn
mới chuyển được thức thứ sáu thành Diệu quan sát trí,
chuyển thức thứ bảy thành Bình đẳng tánh trí, mới dứt
hết mười trọng chướng, chứng mười chơn như, chỉ mới
chứng từng phần Duy thức tánh, đó là các vị Bồ tát Thánh
Tăng, Tăng bảo.
(2)
Ðoạn này nêu ba lý do tạo luận:
a.
Chỉ cho chúng sanh thấy tánh chấp ngã, chấp pháp là một
lối chấp sai lầm điên đảo, chính vì chấp ngã mà phát
sanh tâm tham, sân, si thành phiền não chướng, làm chướng
ngại không chứng Niết bàn giải thoát. Chính vì chấp pháp
thành sở tri chướng, làm chướng ngại không thấy được
chơn lý, không chứng được đại Bồ đề. Nếu rõ lý ngã
không, pháp không thì sẽ phá bỏ chấp ngã, chấp pháp, dứt
hết chướng phiền não và sở tri, chứng được Niết bàn
và Bồ đề giải thoát an lạc (đây là ý của Luận sư An
Huệ).
b.
Vì không hiểu đúng lý Duy thức nên mới chấp ngã, chấp
pháp. Nếu hiểu lý Duy thức, thì bệnh chấp ngã, chấp pháp
tiêu tan và không còn bị ràng buộc trong vòng sanh tử (đây
là ý của Hỏa Biện).
c.
Trừ bốn lối chấp sai lầm chỉ vì không hiểu đúng lý Duy
thức. Ðó là hoặc như phái Hữu bộ dựa theo kinh A hàm Phật
nói về mười hai xứ v.v... rồi chấp mười hai xứ trong đó
gồm cả tâm, và cảnh đều thật có như nhau. Ðâu biết rằng
Phật nói mười hai xứ là cốt để chỉ bày lý vô ngã, chứ
không phải nói mười hai xứ là thật có. Nếu rõ lý Duy thức
thì sẽ rõ sáu trần đều là tướng phần do thức biến;
năm căn chỉ là công năng chủng tử của sắc nương nơi bản
thức mà có. Hoặc như phái Thanh Biện dựa theo Ðại thừa
giáo nói hết thảy đều không tánh, rồi bác luôn hết thảy
sắc tâm đều hoàn toàn không cả. Chơn đế không mà tục
đế cũng không. Nếu rõ lý Duy thức là Y tha khởi tánh, duyên
khởi kiến phần, tướng phần là có chứ không phải như
ngã chấp pháp chấp biến kế hư vọng trống rỗng. Hoặc
như một hạng quyền thừa Bồ tát dựa theo Ðại thừa giáo
nói: "Tâm sanh hết thảy pháp" rồi chấp tâm chỉ có một
mà tác dụng ra nhiều thứ khác nhau; đâu biết rằng Ðại
thừa giáo nói nhất tâm, chơn như, Như Lai tạng là để chỉ
rõ hết thảy pháp lý thể không hai, chứ không phải nói tám
thức không có chủng tử, hành tướng, sở duyên riêng. Ðứng
về Chơn đế thì thể tánh không hai, mà đứng về Tục đế
thì tướng dụng có khác. Nên đối với các thức, kinh Lăng
già nói: "Tâm, Ý và Ý thức, tục nên tướng có sai biệt,
chơn nên tướng không sai biệt, vì tướng sở tướng đều
không". Ở trong Chơn đế không có tướng năng, tướng sở
nên không thể nói một nói khác, chấp một chấp khác đều
sai, nhưng ở trong tục đế duyên sanh mà chấp không một không
khác cũng không đúng. Nếu rõ lý Duy thức thì lối chấp này
không còn. Hoặc như phái Kinh Bộ dựa lời trong kinh nói: "Nhiễm
tịnh do tâm", rồi chấp Tâm sở chỉ là thuộc tánh của thức
chứ không có thể dụng riêng. Ðâu biết kinh nói nhiễm tịnh
do tâm, mà không nói Tâm sở. Vì tâm là chủ, là ưu thắng;
còn tâm sở là tôi tớ, là liệt hạ. Nếu rõ lý Duy thức
thì sẽ rõ Tâm và Tâm sở đều có vị trí riêng (đây là
ý của Hộ Pháp).
(3).
Ðoạn này là đoạn chủ yếu nhất, tóm thâu hết nghĩa lý
của
bộ luận, những đoạn tiếp theo là những giải thích rộng
cho đoạn này.
Mở
đầu nhà viết luận tự đặt câu hỏi để tiện giải đáp
làm sáng tỏ đạo lý Duy thức.
Hỏi:
Nếu chỉ có thứ, ngoài ra không có chi hết, thế tại sao
người thế gian và ngay cả trong Phật giáo đều nói có ngã
có pháp?
Sự
sự vật vật vô lượng vô biên, nhưng chỉ một chữ pháp
cũng thâu trọn hết. Pháp là "Nhậm trì tự tánh, quỷ sanh
vật giải". Bất cứ những gì hữu hình vô hình, hữu vi vô
vi, hữu tình, vô tình, vật chất hay ý niệm, thời gian không
gian, chơn lý hay quy luật, bản thể, hiện tượng, giả hay
thật v.v... hễ tự giữ được tính riêng, làm đối tượng
cho sự nhận thức biết nó là nó, đều gọi là pháp. Nhưng
ở đây chữ "Pháp" phân chia làm hai loại, một là loại hữu
tình, hai là loại vô tình. Nơi hữu tình thấy có một cá
tánh bản ngã, đó là ngã chấp; nơi vô tình thấy có cá tánh
thật thể, đó là pháp chấp, vậy nói ngã và pháp là gom
hết mọi sự vật.
Theo
lý Duy thức, thì ngoài thức không có tồn tại, hiện hữu,
thế sao người thế gian và Phật giáo vẫn nói ngã và pháp.
Vậy ngã và pháp đó không phải hiện hữu ngoài thức sao?
Tụng
đáp:
Do
giả nói ngã, pháp v.v...
Tụng
đáp đây là lời ngài Thế Thân. Mở đầu của ba mươi bài
tụng, mà đạo lý chủ yếu của Duy thức nằm cả trong sáu
câu tụng mở đầu này.
Luận
chủ không phủ nhận việc người thế gian và Phật giáo nói
ngã, nói pháp, nhưng ngã và pháp đó chỉ là giả nói mà thôi.
Giả nói là chỉ có trên danh ngôn chứ không có trên thực
tế. Nếu dựa theo danh ngôn nói ngã pháp để đi tìm cho ra
thực thể của ngã pháp ở đâu, thì không khác gì nghe nói
lông rùa rồi đi tìm lông rùa thì thật là sai lầm quá lẽ.
Không có thật mà vẫn nói về nó, nên gọi là giả nói. Giả
nói ngã pháp đồng nghĩa với giả nói muôn sự muôn vật.
Ngã
và pháp của thế gian nói hoàn toàn do vọng tưởng bịa đặt
ta chứ không dựa vào một thật thể nào cả; đó là vô thể
tùy tình giả.
Ngã
và pháp của Phật giáo nói là dựa nơi sắc tâm y tha khởi
mà gượng đặt ra. Các bậc Thánh đã chứng ngộ các pháp
đều là y tha khởi, là duyên sanh. Như năm uẩn, mười hai
xứ, mười tám giới v.v... ở đó không có gì chuẩn đích
là ngã, là ngã pháp cả, nhưng Phật gượng nói là ngã, là
pháp để tiện việc hóa độ chúng sanh. Cho nên cũng gọi
là giả nói; đó là hữu thể thi thiết giả.
Các
tướng ngã theo Phật giáo nói, như dứt hết kiến hoặc gọi
là quả Dự lưu; dứt hết sáu phẩm tư hoặc cõi Dục, gọi
là quả Nhất lai v.v... cho đến dứt hết hai chướng phiền
não và sở tri, gọi là quả A la hán, Bích chi, Như lai v.v...
Các tướng pháp của Phật giáo nói, như năm uẩn, mười hai
xứ, mười tám giới, bốn đế, mười hai nhân duyên, sáu
độ v.v... các tướng ngã pháp ấy đều nương vào sự chuyển
biến của thức mà giả thi thiết.
Thức
là tính liễu biệt nhận thức, cả tám thức Tâm vương và
các Tâm sở đều có tánh liễu biệt nhận thức. Liễu biệt
như thế nào? Bản thể của thức là liễu biệt, từ bản
thể ấy khi chuyển biến thì hiện ra hai phần, một phần
có khả năng phân biệt nhận biết, gọi là Kiến phần, một
phần kia không có khả năng phân biệt, chỉ làm đối tượng
cho kiến phần gọi là Tướng phần. Nói cách khác là phần
biết và phần bị biết. Hai phần này luôn luôn cùng sanh cùng
diệt, có phần này thì có phần kia, phần này không thì phần
kia không. Tự hai phần đó không có chi là ngã là pháp, nhưng
hàng phàm phu mê muội cứ dựa vào phần biết chấp cho là
ngã, dựa vào phần bị biết chấp cho là pháp. Ðây là một
lối thi thiết giả tạo, chứ nếu lìa ngoài hai phân biết
và bị biết kia thì chẳng có chi gọi là ngã, pháp. Như vậy,
ngã, ngã pháp dựa vào hai phần kiến tướng của nội thức
mà giả lập, nên ngã pháp đó chỉ có theo nghĩa thế tục,
tức là giả dối, bị Thánh đạo đối trị. Còn nội thức
là duyên sanh vừa có theo nghĩa thế tục, lại vừa có theo
nghĩa thắng nghiã. như Phật dạy dạy tánh duyên khởi của
các pháp là thường trú, không phải có Phật ra đời thì
có, không có Phật ra đời thì không.
(4).
Ðoạn này nêu các lối chấp ngã để phá. Trong đó có điểm
cần lưu ý: Ngã thể được chấp nó có là cảnh sở duyên
cho ngã kiến không? Nếu nó không là cảnh sở duyên cho ngã
kiến thì nó chỉ là một thứ gì vô tung vô tích, làm sao
biết đó là thật ngã? Nếu nó là có thật, có tung tích,
làm sở duyên cho cho ngã kiến, vậy thì người nào thấy có
ngã là người thấy đúng, thấy đúng thì được giải thoát
Niết bàn; còn người nào thấy vô ngã là thấy sai, thấy
sai là bị trầm luân sanh tử, được không? Ðâu có thể như
vậy!
Lại
ngã kiến không duyên được thật ngã, vì nó có sở duyên
riêng, như tâm duyên các pháp khác. Tâm duyên các pháp khác
như duyên sắc, duyên tiếng v.v... cũng chỉ duyên cái tướng
phần được biến ra trên thức chứ không duyên được thứ
sắc, thứ tiếng nào ngoài thức, vậy ngã kiến có duyên ngã
thì cũng chỉ duyên tướng giả ngã biến ra trên thức, chứ
không phải duyên cái thật ngã nào ngoài thức được. Lại
cảnh sở duyên của ngã kiến nhất định không phải là thật
ngã; vì nếu cảnh sở duyên của ngã kiến là thật ngã, thì
thật ngã ấy hóa thành cảnh sở duyên. Thật ngã đã hóa
thành cảnh sở duyên, thì nó trở thành đối tượng vô tri,
vô giác như các pháp khác đều là sở duyên của thức, chứ
không phải là thật ngã nữa; vì thật ngã thì phải là chủ
tể, chủ thể, chứ không phải khách thể vô tri.
(5).
Ðoạn
này phân biệt tướng chấp ngã. Tóm tắt có hai thứ ngã chấp:
a.
Ngã chấp câu sanh là thứ ngã chấp đã có chủng tử mầm
mống sẵn trong tạng thức, cùng với thân sanh ra một lần.
Nghĩa là có thân là có nó, không đợi phải nghe tà giáo,
tác ý phân biệt mới có, nên gọi câu sanh.
Thứ
câu sanh này có hai:
- Một
là thường tương tục, do thức thứ bảy duyên kiến phần
thức thứ tám, chấp cho đó là ngã. Ðây là nguồn gốc mê
lầm, là căn bản vô minh, rất sâu kín bền chắc, tương tục
thường hằng, phải thường quán lý sanh không vô ngã thật
sâu mới dứt được nó mà chứng quả A la hán. Vì thức Mạt
na thứ bảy và Tạng thức thứ tám là hai thức không gián
đoạn cho dù khi thức khi ngủ, khi chết khi sống, nó vẫn
liên tục có mặt, nếu chưa ngộ lý vô ngã một cách thấu
đáo.
- Hai
là có gián đoạn, do ý thức thứ sáu duyên năm uẩn bên ngoài
mà chấp cho là ngã, rồi huân tập thành chủng tử trong Tạng
thức, khi có thân thì có nó. Nhưng năm uẩn là vô thường,
thức thứ sáu là thức biến chuyển, nên tướng ngã do nó
chấp cũng có gián đoạn. Tuy vậy, nó đã bám rễ từ lâu,
nên cũng phải ngộ lý vô ngã thấu đáo mới dứt được.
b.
Ngã chấp phân biệt, đây là thứ chấp ngã của ý thức,
nó không cùng sanh với thân một lần, mà phải đợi có nghe
tà giáo, có tác ý phân biệt mới chấp. Nếu không có ngoại
duyên tà giáo, không tác ý phân biệt thì không chấp. Thứ
này cũng có hai:
- Một
là nghe tà giáo nói năm uẩn hợp lại là ngã, hay bốn đại
hợp lại là ngã, rồi chấp ngã theo.
- Hai
là nghe tà giáo nói có một tiểu ngã, môt linh hồn tồn tại
ngoài xác thân, rồi chấp ngã theo.
Cả
hai thứ ngã chấp phân biệt này thô thiển dễ đoạn trừ;
hễ biết quán lý sanh không (ngã không, nhân vô ngã) lúc được
thấy đạo, thì nó bị dứt ngay.
Thức
thứ bảy duyên hiện hành kiến phần thức thứ tám mà chấp
ngã là một sai lầm, vì kiến phần là kiến phần chứ kiến
phần không phải ngã. Thức thứ sáu duyên năm uẩn mà chấp
ngã cũng là một sai lầm, vì năm uẩn là vô thường, năm
uẩn là không thật, như Kinh A hàm dạy: " Quán sắc như tụ
mạc, thọ như thủy thượng bào, tưởng như dương thời diệm,
chư hành như ba tiêu, chư thức pháp như huyễn" (quán sắc
uẩn như bọt nước, thọ uẩn như bong bóng nước, tưởng
uẩn như sóng nắng, hành uẩn như cây chuối, {lột tới cùng
không có lõi}, quán thức uẩn như trò huyễn).
(6).
Ðoạn này giải đáp ba nạn vấn. Lâu nay tin tưởng ngã là
chủ tể, vĩnh hằng, là khả năng cơ bản vủa mọi sự nhớ,
biết, tụng, tập v.v... nay nếu nói chỉ có thức không có
ngã, thì những việc nhớ, biết, tụng, tập v.v... làm sao
có được. Tóm tắt trong ba nghi vấn:- Câu hỏi thứ nhất
liên quan đến ba đời:
* Nếu
không có ngã thì làm sao nhớ lại việc quá khứ, biết việc
hiện tại, tụng tập việc tương lai? Vậy phải có một thật
ngã thường nhất xuyên suốt ba đời mới có được các việc
ấy?
Ðáp:
- Không đúng. Nếu thật có một ngã thể thường nhất trước
sau không thay đổi, không thêm bớt, lúc nào cũng giống như
lúc nào, thì làm sao có các việc nhớ, biết, tụng tập; vì
nhớ có khi không nhớ, biết có khi không biết, tụng tập
có khi không tụng tập. Hoặc lúc nào cũng nhớ, biết, tụng,
tập, hoặc không lúc nào có nhớ, biết, tụng, tập. Nếu
cho rằng ngã thể thường nhất, chứ ngã dụng vô thường
biến dịch, nên có được các việc nhớ, biết, tụng, tập
thì cũng không đúng; vì dụng không lìa thể, thể thế nào
thì dụng thế ấy, chứ sao dụng lại khác thể được?
- Câu
hỏi thứ hai liên quan đến việc tạo nghiệp thọ quả báo:
* Nếu
không có ngã thì ai tạo nghiệp, ai chịu quả báo?
Ðáp:
- Nếu chấp có thật ngã thường nhất không biến đổi như
hư không, thì làm sao tạo nghiệp, chịu quả báo?
- Câu
hỏi thứ ba liên quan đến việc luân hồi và Niết bàn.
* Nếu
không có thật ngã thì ai luân hồi, cái gì Niết bàn?
Ðáp:
- Nếu chấp có một thật ngã thường nhất không sanh diệt
như hư không thì cũng không có việc sanh tử luân hồi. Và
đã không luân hồi thì sẽ không có Niết bàn; vì có luân
hồi để chấm dứt luân hồi mà nhập Niết bàn, nếu không
luân hồi thì chấm dứt cái chi để nhập Niết bàn.
Nhưng
các loài hữu tình mỗi mỗi đều có thức tâm, tuy vô thường
nhưng trước sau một loại tương tục, có khả năng huân tập
các việc nhớ, biết, tụng, tập, và tạo nghiệp mà có thọ
quả sanh tử, Niết bàn. Như kinh Ðại Niết bàn dạy: "Sư
Tử Hống Bồ tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, chúng sanh năm
uẩn là không, không có gì hiện hữu, thế thì ai lãnh thọ
giáo pháp, tu tập đạo hạnh?"
- Phật
bảo: "Thiện nam tử, hết thảy chúng sanh đều có niệm tâm,
tuệ tâm, phát tâm, tinh tấn tâm, định tâm v.v... những pháp
như vậy, tuy niệm niệm sanh diệt, nhưng trước sau tương
tợ nhau, tương tục không dứt, cho nên có việc thọ giáo
tu đạo. Ví như ngọn đèn, tuy niệm niệm sanh diệt, nhưng
có ánh sáng phá trừ bóng tối. Lại ví như chúng sanh ăn,
thức ăn thay đổi từng sát na mà cũng làm cho kẻ đói được
no. Cũng ví như thuốc trị bệnh, tuy nó niệm niệm thay đổi
cũng trị lành được bệnh. Hoặc như ánh sáng mặt trời
mặt trăng, tuy niệm niệm sanh diệt cũng làm cho cây cỏ tăng
trưởng. Tâm chúng sanh cũng vậy, tuy niệm niệm sanh diệt
nhưng không dứt, nên có thể làm tăng trưởng các việc nhớ,
biết, tụng, tập v.v...
(7).
Ðoạn này nêu các lối chấp của ngoại đạo để phá. Trước
hết phá phái Số luận chấp 25 đế. Số luận là một phái
triết học cổ Ấn Ðộ ra đời trước thời Phật. Số hay
Tăng khư là dịch âm chữ Phạn "Samkya", do Kapila (Ca Tỳ la)
xướng xuất. Nguyên do ông tu Thiền định có khả năng biết
được việc tám vạn kiếp về trước, trước đó mù mịt
không biết được. Ông cho đó là Minh sơ (cũng gọi là Minh
đế, Minh tánh, Tự tánh thắng tánh). Từ Minh sơ sanh giác
đại (hiểu biết), giác đại sanh ngã tâm (ngã mạn), ngã
tâm sanh ngũ duy (ngũ duy là sắc, thanh, hương, vị, xúc), ngũ
duy sanh ngũ đại (địa, thủ, hỏa, phong, không), ngũ đại
sanh ngũ tri căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân), ngũ tri căn sanh
ngũ tác nghiệp (miệng, tay, chân, đường đại, đường tiểu),
ngũ tác nghiệp sanh tâm bình đẳng (ý căn), cuối cùng là
thân ngã; cộng là 25 đế (phạm trú), căn nguyên của muôn
pháp.
Vốn
tánh của thần ngã là "Tư" nó suy nghĩ tới cảnh tốt đẹp
để thọ dụng; ba đức của trong minh tánh là Tát đoả, Lạt
xà, Ðáp ma liền hợp lại tạo thành 23 đế 25 trừ minh tánh
và thần ngã, còn 23). Khi thần ngã thọ dụng cảnh đó thì
bị ràng buộc mà không giải thoát được. Nếu thần ngã
chấm dứt "Tư", nghĩa là không suy nghĩ tạo dựng cảnh nữa
thì được giải thoát.
Theo
Số luận, minh tánh là thường, ba đức là chuyển biến để
thành 23 đế kia, 23 đế kia do ba đức hợp thành, nó là vô
thường. Dù thường hay vô thường, cũng đều là pháp thật
có cả.
Luận
chủ dựa theo lối chấp của họ như vậy để phá bác, để
chỉ cho họ biết 25 đế đó là không thật, chỉ do vọng
tình chấp bậy mà thôi.
(8).
Ðọan này phá các lối chấp thật của phái Thắng luận.
- Thắng
luận hay Vệ thế sử ca, là dịch từ chữ Phạn (Vaisesika),
ra đời khoảng thế kỷ thứ nhứt, thứ hai Tây lịch, do Ưu
lâu khư (Uluka, Kanada) xướng xuất. Học thuyết này được
chép thành kinh Vệ thế sử ca (Vaisesika) theo học thuyết này
vạn vật không phải là khái niệm trừu tượng, mà là có
thật thể; được quy kết trong sáu cú nghĩa (sáu phạm trú)
căn bản, là Thật, Ðức, Nghiệp, Ðại hữu, Ðồng dị, Hòa
hợp.
a.
Thật là thật thể của các pháp, làm chỗ dựa cho Ðức và
Nghiệp (Thể).
b.
Ðức là đức tướng (tướng).
c.
Nghiệp là tác dụng (Dụng).
d.
Ðại hữu tánh là tánh có duy nhất.
e.
Ðồng dị tánh là tánh đồng và khác giữa sự vật, đất
đối với đất là đồng, đất đối với nước là dị,
là khác.
g.
Hòa hiệp tánh là tánh hòa hợp làm sự vật trụ lại.
Thật
cú nghĩa gồm có 9 thứ là đất, nước, lửa, gió, thời gian,
phương hướng, ngã, ý.
Ðức
cú nghĩa có 24 thứ là sắc, hương, vị, xúc, số, lượng,
tánh nương, tánh hợp, tánh lìa, tánh kia, tánh đây, giác,
vui, khổ, muốn, sân, cần dõng, trọng tánh, dịch tánh, nhuận
tánh, hành, pháp, phi pháp, âm thanh.
Nghiệp
cú nghĩa có 5 là lấy, bỏ, co, duỗi, hành động.
- Ðại
hữu cú là duy nhất.
- Ðồng
dị tánh cú nghĩa chỉ một.
- Hòa
hiệp tánh cú nghĩa chỉ một.
Tất
cả đều là đồ thọ dụng của ngã. Khi chưa giải thoát
thì bị ràng buộc theo sáu cú nghĩa đó, khi giải thoát rồi
thì không cần nó nữa.
Theo
Thắng luận, sáu cú nghĩa là nguồn gốc, là quy luật của
mọi sự sanh thành biến hóa.
Luận
chủ: Trước hết nêu tính cách thường, vô thường, có chất
ngại, không chất ngại trong các cú nghĩa để phá chung. Tiếp
theo phá thật cú nghĩa, đức nghiệp cú nghĩa, đại hữu tánh,
đồng dị tánh, hòa hiệp tánh, chúng đều là hư dối, do
vọng tình phân biệt biến ra trên tự thức để duyên, chứ
hoàn toàn không phải hiện hữu ngoài thức, cho nên chúng không
phải do hiện lượng nhận biết, mà chỉ do phi lượng nhận
thức sai khác mà bịa đặt ra.
(9).
Ðoạn này còn tiếp phá về phá chấp. Có ngưòi chấp Ðại
Tự Tại thiên là thật có và là nguồn gốc sanh ra vạn vật.
Hoặc chấp vị Phạm Thiên, thời gian, phương hướng, bản
tế, tự nhiên, hư không, ngã v.v... là thật có và là nguồn
gố sanh ra vạn vật. Hoặc phái Thanh Minh luận chấp âm thanh
là thật có thường hằng, làm định lượng để diễn tả
mọi sự. Hoặc chấp cực vi (như thuyết Nguyên tử ngày nay)
là vật thế tối hậu thường còn bất biến, làm cơ bản
cho vạn vật.
Tất
cả các lối chấp pháp trên đều bị Luận chủ nêu ra để
phá và chỉ cho thấy các lối chấp ấy đều phi lý không
đứng vững.
(10).
Ðoạn này tiếp phá về pháp chấp của ngoại đạo. Tất
cả lối pháp chấp trên chung lại ở trong bốn lối chấp:
Một là chấp các pháp bị tạo sanh với tánh tạo sanh (Minh
đế) là một như Số luận. Hai là chấp các pháp bị tạo
sanh với tánh tạo sanh (Ðại hữu tánh) khác, như Thắng luận.
Ba là chấp các pháp bị tạo sanh với tánh tạo sanh cũng một
cũng khác như Vô tàm ngoại đạo. Bốn là chấp các pháp bị
tạo sanh với tánh tạo sanh chẳng phải một chẳng phải khác
như Tà mạng ngoại đạo.
Luận
chủ chỉ rõ bốn lối chấp này đều phi lý. Những người
có trí chớ nhận lầm theo bốn lối chấp chạy lỗi quanh
co đó. Khi còn mang nặng vọng tình chấp trước cho mọi pháp
đều là thật có thường nhất, thì nói một cách khác, nói
cũng một cũng khác, nói chẳng một chẳng khác, nói phủ định,
nói khẳng định, đều không đúng cả, chứ không phải như
Phật pháp nói. Phật pháp mỗi khi nói về chơn đế thường
nói là chẳng phải tức (chẳng phải một) chẳng phải lìa
(chẳng phải khác) các pháp hiện tượng và pháp tánh chẳng
một chẳng khác, đều là những lời nói Già (phủ định).
Bởi đã ngộ được vạn pháp đều là duyên sanh vô tự tánh,
như huyễn, không thật có, thì dù có nói nó một, khác, đoạn,
thường, có, không, đều không đúng cả (sở đắc). Ðã vô
sở đắc mà nói khẳng định thì không đúng, mà nói phủ
định cũng không đúng. Nhưng nói khẳng định dễ bị hiểu
lầm, nói phủ định để chỉ thấy các pháp duyên sanh vô
tánh, để phá bỏ vọng chấp thì tốt hơn, nên Phật pháp
thường dùng lối nói phủ định (già thuyên) bằng các chữ
là phi, bất, vô, chứ nếu tâm đã giác ngộ, không chấp trước
thì nói thị nói phi đều không có lỗi. Như nói các pháp
với tánh là một, như sóng tức là nước, hoặc nói các pháp
với pháp tánh là khác, như sóng không phải nước, hoặc nói
các pháp tánh cũng một cũng khác, chẳng phải một chẳng
phải khác, đều theo nghĩa tùy duyên bất biến, bất biến
tùy duyên, không phải là lối nói hoài nghi, hay quanh co chạy
lỗi.
(11).
Ðoạn này phá pháp chấp của các bộ phái Tiểu thừa. Ðại
thừa Duy thức nói hết thảy pháp gồm 100 pháp. Bộ phái Tiểu
thừa nói có 75 pháp gồm: Tâm pháp có 1, Tâm sở 46, Sắc 11,
Bất tương ưng hành 14, và Vô vi pháp có 3, cộng thành 75.
Trừ Tâm và Tâm sở, còn Sắc pháp, Bất tương ưng hành pháp,
Vô vi pháp, họ đều chấp cho là thật có ngoài thức. Ðây
luận chủ lần lượt phá ba lối chấp đó.
Trước
hết pháp chấp sắc pháp là thật có.
Sắc
có ba loại là sắc có đối đãi chướng ngại như năm căn,
năm trần. Sắc không đối đãi chướng ngại tức pháp trần,
và sắc hữu biểu vô biểu.
Trước
phá sắc có đối đãi chướng ngại là thật có, vì các cực
vi hòa hợp tạo thành nó không thật có. Vì sao các cực vi
không thật có? Vì cực vi nếu có thể chất chướng ngại
thì nó như bình, bàn là giả chứ không phải thật; còn nếu
cực vi không có thể chất chướng ngại thì cực vi như Tâm
và Tâm sở làm sao hợp lại thành bình bàn. Lại cực vi nếu
có vị trí trong không gian, có phương hướng Ðông Tây Nam
Bắc, như cây trụ, khi ánh sáng chiếu phía Ðông thì phía
Tây có bóng hiện ra, như vậy thì cực vi còn có thể chia
chẻ ra được. Nếu còn chia chẻ ra được thì không còn là
cực vi (vật rất nhỏ). Như vậy cực vi đâu có thật?
Hỏi:
- Nếu không có sắc thì lấy gì làm căn cho năm thức nương,
làm cảnh cho năm thức duyên?
Ðáp:
- Căn cho thức nương, cảnh cho thức duyên chỉ là công năng
tướng phần do sức nhân duyên huân tập mà khi thức sanh thì
biến hiện ra để nương và để duyên, chứ không phải do
từ sắc bên ngoài. Không phải do hiện lượng biết được
căn tức là công năng, mà chỉ do công năng dẫn ra thức mà
so sánh biết đó là căn. Và cũng chỉ tướng phần biến hiện
trên thức mới là sở duyên duyên của năm thức, vì tướng
phần có đủ hai nghĩa là có khả năng dẫn sanh ra thức, và
làm đối tượng cho thức duyên; còn các thứ khác như cực
vi, cũng chỉ có thể dẫn phát sanh ra thức, chứ thức không
duyên đến cực vi, tướng cực vi trên năm thức không hiện
ra, nghĩa là cực vi đối với năm thức chỉ có một nghĩa
là khả năng dẫn phát sanh ra, cũng như nhân duyên hay đẳng
vô gián duyên, cũng chỉ có khả năng dẫn phát ra thức, không
thể gọi là sở duyên duyên của năm thức được. Cho dù
cực vi hòa hợp lại, tụ tập lại thành ra bình bàn, thì
chỉ có một nghĩa là làm đối tượng cho năm thức duyên
như mặt trăng thứ hai, nên cũng không phải là sở duyên duyên
của năm thức.
Tới
lui suy xét như thế, thấy rõ các sắc có đối ngại cho đến
cực vi tạo ra các sắc đó đều không thật có, chỉ do thức
biến hiện.
Sắc
có đối ngại của năm thức không thật như vậy, thì sắc
không đối ngại là pháp trần của ý thức duyên, cũng không
thật như vậy.
(12).
Ðoạn này tiếp phá Tiểu thừa chấp "Biểu, Vô biểu sắc".
Biểu
sắc là sự biểu hiện bên ngoài của đông tác nơi thân gọi
là thân biểu nghiệp, nơi miệng gọi là ngữ biểu nghiệp,
hay gọi là biểu sắc. Còn những động tác như một năng
lực ngấm ngầm bên trong không biểu hiện ra bên ngoài nơi
thân gọi là thân Vô biểu nghiệp, hay gọi là Vô biểu sắc.
Theo Tiểu thừa chấp sắc biểu, Vô biểu ấy là thật có
mà không biết rằng sắc lấy gì làm thân biểu? Nếu lấy
bình làm thân biểu thì bình có thể phân tích tức không thật.
Nếu lấy động tác làm thân biểu, thì động vừa sanh liền
diệt, làm sao thành động. Vả lại sắc có loại là hiển
sắc như xanh vàng đỏ trắng, hình sắc như dài ngắn vuông
tròn, loại không phải hiển không phải hình như thanh, hương,
vị, xúc. Vậy nói thân biểu nghiệp là sắc thì nó thuộc
sắc nào trong ba loại đó. Vì vậy nên biết nói thân biểu
nghiệp là sắc thật có, là không đúng. Chấp có sắc ngữ
biểu nghiệp, cũng sai như thế.
Biểu
sắc như vậy thì Vô biểu sắc cũng thế, không có gì để
gọi là sắc Vô biểu. Chỉ dựa vào "Tư tâm sở" có khả
năng ngăn chận thân làm ác, miệng nói ác, mà giả gọi là
Vô biểu sắc, chứ không thật có sắc gì cả.
Trong
kinh đức Thế Tôn nói có ba nghiệp là chỉ Tư tâm sở (Tâm
sở suy nghĩ tạo tác) trong ba giai đoạn. Ðầu tiên thẩm xét
suy nghĩ gọi là thẩm lự tư; tiếp đó quyết định nên hay
không nên về điều đã thẩm xét suy nghĩ, gọi là quyết
định tư. Hai tư này ở nơi ý gọi là ý nghiệp, khi nó phát
động ra nơi thân gọi là thân nghiệp, phát động ra nơi miệng
gọi là ngữ nghiệp, chung hai sự phát động đó gọi là phát
động tư. Chứ Phật không nói ba nghiệp đó có sắc gì cả.
(13).
Ðoạn này bác Tiểu thừa chấp "Bất tương ưng hành pháp"
là thật có. Theo tiểu thừa; nhờ có pháp Bất ưng hành hợp
với pháp khác mà pháp khác mới thành đắc; phi đắc; nhờ
có tướng sanh hợp lại thành pháp sanh; nhờ có tướng trụ
hợp lại mới thành pháp trụ v.v...
Bất
tương ưng hành uẩn. Hành uẩn gồm hai loại, một loại tương
ưng với tâm, một loại không tương ưng với tâm. Loại tương
ưng với tâm là 49 Tâm sở, tức trong 51 Tâm sở, trừ Thọ
và Tưởng hai uẩn, còn lại 49 Tâm sở thuộc hành uẩn. Loại
không tương ưng với tâm gồm có 14 thứ (Ðại thừa
có 24 Bất tương ưng hành) là đắc, phi đắc, chúng đồng
phận, vô tưởng quả, vô tưởng định, diệt tận định,
mạng căn, sanh, trụ, dị, diệt, danh, cú, văn thân. Mười
bốn thứ này vì không có khả năng hiểu biết nên không tương
ưng với Tâm và Tâm sở; vì không chất ngại nên không tương
ưng với sắc; vì có sanh diệt nên không tương ưng với pháp
vô vi. Gọi chung là 14 pháp Bất tương ưng hành.
Trước
hết luận nêu ba lý do để bác các pháp Bất tương ưng hành
là không thật có.
a.
Pháp bất tương ưng hành nhất định không phải khác với
Sắc, Tâm, Tâm sở có thật thể thật dụng riêng (tôn) là
vì pháp đó nhiếp vào Hành uẩn (nhân) ví như sắc nhiếp
vào sắc uẩn; tâm nhiếp về thức uẩn (dụ).
b.
Pháp Bất tương ưng hành nhất định không phải thật có
(tôn), vì nó không nhiếp thuộc vào Tâm, Tâm sở hay Vô vi
pháp (nhân) ví như vật hoàn toàn không có (dụ).
c.
Pháp Bất tương ưng hành nhất định không thật có (tôn),
vì nó không nhiếp thuộc vào thật pháp nào cả (nhân), ví
như các giả pháp khác (dụ).
Tiếp
theo, Luận mới bác riêng theo bảy mục: đắc, phi đắc, chúng
đồng phận, mạng căn, vô tâm định, bốn tướng hữu vi,
danh cú, văn thân, tùy miên.
Cuối
cùng là bác ba pháp vô vi: Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi,
Phi trạch diệt vô vi của Tiểu thừa.
a.
Hư không vô vi - Hư không đây không phải chỉ khoảng trống
không, mà chỉ cho tánh không chướng ngại. Nhờ có tính không
chướng ngại mà pháp này không qua pháp kia; pháp sanh cứ sanh,
pháp diệt cứ diệt, không bị chướng ngại. Chính tánh không
chướng ngại này nó không sanh diệt theo pháp, nên gọi là
vô vi. nhưng mắt không thấy, tay không chạm nó được mà
chỉ do ý phân biệt rồi huân tập vào bản thức, nên khi
thức biến hiện có tướng đó, lầm chấp cho là có thật.
b.
Trạch diệt vô vi - Vô vi là chơn như, là Duy thức tánh, vì
bị kiến tư hoặc mà không hiển bày được. Kiến tư hoặc
có năm bộ. Về kiến hoặc có bốn bộ do mê Bốn đế mà
có. Bốn bộ kiến hoặc hễ thấy đạo lý Tứ đế thì dứt
trừ. Tư hoặc một bộ, trong ba cõi chín địa, mỗi địa
lại có chín phẩm tư hoặc, cộng chín địa thành tám mươi
mốt phẩm tư hoặc. Nhờ nương trí tuệ giản trạch mà dứt
được từng phần mỗi bộ mỗi phẩm hoặc mà hiển lộ từng
phần thực tánh chơn như cho nên gọi đó là Trạch diệt vô
vi.
c.
Phi trạch diệt vô vi, Chơn như pháp tánh vô vi vốn không sanh
diệt, tự nó là thanh tịnh vô vi, chứ không cần nhờ trí
tuệ giản trạch hoặc mới hiển lộ nên gọi là Phi trạch
diệt. Hoặc vì duyên bị khuyết mà kiến tư hoặc không sanh
ra làm che lấp chơn như, nên chơn như không bị ô nhiễm, đó
cũng gọi là Phi trạch diệt vô vi.
Kinh
nói có Hư không vô vi v.v... lược có hai thứ. Như Luận trong
đây đã nói rõ, cho đến do khổ lạc thọ diệt mà gọi là
Bất động diệt vô vi; do tưởng và thọ uẩn không hiện
hành mà gọi là Tưởng thọ diệt vô vi. Tóm lại cả năm
vô vi, chỉ dựa tánh chơn như mà giả lập; chính danh từ
Chơn như cũng giả thiết đặt. Hàng ngoại đạo Tiểu thừa
không thấy lẽ đó nên chấp cho là thật có. Luận chủ bác:
- Các
pháp mà ngoại đạo và tiểu thừa giáo chấp, khác với Tâm
và Tâm sở không có thật tánh riêng (tôn), vì nó là sở thủ
tức tướng phần (nhân), ví như Tâm và Tâm sở kiến phần
(dụ).
- Tánh
tri giác thu nhận tướng các pháp kia cũng không duyên được
tướng các pháp đó ngoài tâm (tôn), vì năng thủ tức kiến
phần (nhân), ví như tánh tri giác duyên tướng phần bên trong
(dụ).
Tướng
phầnn sở thủ, kiến phần năng thủ, đều từ tự chứng
phần khởi lên, nghĩa là đều không lìa thức, cho nên các
pháp họ chấp đó về mặt sở thủ hay năng thủ đều là
Duy thức. Chỉ vì không hiểu mà chấp cho thật có.
Nhưng
các thức Tâm và Tâm sở cũng chẳng phải thật có, vì Y tha
khởi (nhân) ví như sự huyễn (dụ).
Thức
là pháp Y tha khởi, nó hiện hữu nhờ các duyên, chứ thức
không phải là cái gì thật có riêng ngoài mọi pháp. Phật
vì khiển trừ cái bịnh vọng chấp cho thật có pháp độc
lập với thức, nên nói duy có thức. Nếu lại chấp Duy thức
là thật có, không khác gì chấp ngoại cảnh, thì cũng là
pháp chấp.
Ðoạn
trên là mượn thức Y tha khởi để phá Biến kế sở chấp,
đoạn này, nói thức là Y tha khởi như huyễn, không thật,
nếu chấp thật có Duy thức, cũng thành pháp chấp.
Như
vậy tôn chỉ của Pháp tướng Duy thức thật không khác gì
với tôn chỉ của Pháp tánh Chơn không. Cho nên kinh Ðại Phật
đảnh nói: "Ngộ nhập Viên thành thật, thì xa lìa chấp Y
tha và Biến kế".
Xem
tiếp Xem Tiếp Trang 2
(Hết
cuốn một của bản Hán)